HƯỚNG TỚI CHÀO MỪNG 1000 NĂM THĂNG LONG
 
Một số thông tin liên quan đến đại lễ 1000 năm Thăng Long:
 
Rước đuốc từ cố đô Hoa Lư về Thăng Long lịch sử

Sáng 2/9, ngọn lửa thiêng được lấy từ đền thờ vua Đinh (cố đô Hoa Lư, Ninh Bình) đã được rước về chân tượng đài Lý Thái Tổ (quận Hoàn Kiếm). Tại đây lễ đón đuốc và đọc chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ đã được diễn ra trọng thể. Sau đó ngọn lửa được truyền tiếp cho 29 vận động viên đến từ 29 quận, huyện của Hà Nội.

Các quận, huyện sẽ tổ chức nghi lễ đón và lưu giữ đuốc thiêng tại địa phương trước khi đưa ngọn lửa quay lại tượng đài Lý Thái Tổ vào sáng 3-10 để chào mừng những ngày đại lễ. Đây là một hoạt động nhằm giáo dục lòng yêu nước và truyền thống lịch sử văn hóa 1.000 năm Thăng Long do Sở VH-TTDL Hà Nội tổ chức với tên gọi “Rước đuốc về Thăng Long lịch sử”.


Ngọn đuốc lấy từ đền thờ vua Đinh (cố đô Hoa Lư, Ninh Bình) được rước qua nhiều tuyến phố của thủ đô Hà Nội

Ba vận động viên vinh dự được cầm ngọn đuốc là các VĐV Đỗ Hữu Cường (đấu kiếm), Nguyễn Thị Thu Ba (cầu mây),
Trần Tuấn Quỳnh (bóng bàn).


Dâng đuốc dưới chân tượng đài Vua Lý Thái Tổ.

Lễ châm đuốc

Ngọn lửa được truyền đến các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội

Rực rỡ ngọn lửa thiêng

Thành viên của 29 quận huyện rước đuốc
 
------------------------------------------------------------------
  100 trống đồng đến Văn Miếu để cầu phúc- nhập linh chuẩn bị
cho đại lễ 1000 năm Thăng Long

Sáng 29/8, 100 chiếc trống đồng đã được chuyển đến Văn Miếu-Quốc Tử Giám để chuẩn bị làm lễ cầu an-cầu phúc-nhập linh. Đây là sự kiện chính thức chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội. 100 chiếc trống đồng sau khi được cầu phúc- nhập linh sẽ được trưng bày tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám trong gần 1 tuần, từ ngày 29/8/2010- 3/9/2010.

Toàn bộ 100 chiếc trồng đều được đúc bằng phương pháp thủ công truyền thống, trên thân trống đúc nổi biểu trưng 1000 năm Thăng Long- Hà Nội.

Mỗi chiếc trống có trọng lượng 60kg đồng, đường kính 60cm, cao 48cm. Hoa văn tinh xảo, mang ý nghĩa lịch sử, văn hóa được ghi chép trong hồ sơ từng trống (bản quyền duy nhất). Được biết sau Đại lễ, những chiếc trống đồng này sẽ được trao về các tỉnh thành toàn quốc.
 

Cứ 1 xe ôtô tải chở 3 chiếc trống đồng đến Văn Miếu-Quốc Tử Giám.

 

Mỗi chiếc trống cần tới 4 người khênh, riêng phần đồng đã nặng 60 kg, chưa kể kệ gỗ.

Biểu trưng được dập nổi trên thân trống.

Cả thảy là 100 chiếc trống đồng.

Trống tạm thời để ngay lối vào Văn Miếu-Quốc Tử Giám.

Đây là chiếc trống lớn nhất, đẹp nhất…

… được đúc đủ 1.000 con rồng

Trên mặt chiếc trống này, còn đúc nổi những linh vật khác như rùa…

….và cóc

--------------------------------------------------- 

Bảo đảm Đại lễ 1000 năm thành công, an toàn tiết kiệm, có ý nghĩa sâu sắc

Đó là chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng, Trưởng Ban chỉ đạo (BCĐ) Quốc gia1000 năm Thăng Long - Hà Nội (TL- HN) tại buổi họpvới các bộ, ngành và TP Hà Nội chiều 10/8 về công tác chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm TL - HN.

Theo BCĐ, đến nay, phần kịch bản Khai mạcĐại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long đã được phê duyệt. Theo đó, sân khấu cho Lễ khai mạc Đại lễ ở vườn hoa Lý Thái Tổ được thiết kế giống như cung điện, chính giữa là một cuốn thư, hai bên là dàn trống, kèn do hàng trăm nghệ sĩ diễn viên biểu diễn.


Trong 10 ngày Đại lễ, xung quanh hồ Hoàn Kiếm sẽ có 5 sân khấu nhỏ hơn với các chủ đề như “Lịch sử anh hùng”, “Thăng Long - Hà Nội Thủ đô văn hiến”; “Thăng Long - Hà Nội - thành phố Vì Hoà bình”; ” Hội nhập và phát triển”, “Hà Nội là trái tim cả nước” dành cho các đoàn nghệ thuật trong nước và quốc tế biểu diễn phục vụ công chúng. Các phần chuẩn bị cho Lễ mít tinh, diễu binh diễu hành đã cơ bàn hoàn thiện… Đêm nghệ thuật “Thăng Long thành phố Rồng bay” trình diễn vào tối 10/10, thời lượng 90 phút, do hơn 5.000 nghệ sĩ, diễn viên biểu diễn, gồm 3 chương khái quát về lịch sử 1000 năm Thăng Long - Hà Nội từ khi Lý Công Uẩn rời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La đến thời kỳ Thủ đô Hà Nội hội nhập và phát triển… 

Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đánh giá cao sự chuẩn bị nỗ lực của các cấp các ngành và TP Hà Nội và nêu rõ, thời gian tới Đại lễ kỷ niệm còn rất ít, yêu cầu các cấp các ngành cần chủ động tích cực phối hợp hơn nữa. “Đến ngày 20/9 phải hoàn thành tất cả các công tác chuẩn bị biểu diễn cho Lễ khai mạc vào ngày 1/10 tại Vườn hoa Lý Thái Tổ và các hoạt động diễn ra trong 10 ngày Đại lễ. Chỉ còn 60 ngày nữa, Đại lễ Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội sẽ diễn ra, việc tổ chức ngày khai mạc Đại lễ phải diễn ra trang trọng, tôn vinh được văn hóa của Thăng Long -Hà Nội, tạo ra được khí thế mới, có ảnh hưởng quốc tế; đồng thời có phương án để có thể giới thiệu, phục vụ cho việc tham quan nhân dịp Đại lễ” - Phó Thủ tướng nhấn mạnh.


Về những nội dung liên quan, Phó Thủ tướng đồng ý với đề xuất của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH-TT& DL) không triển khai dàn kèn đồng 1.000 người, dàn hợp xướng 1.000 người trước khán đài B, C mà thay vào đó là khối quần chúng sẽ thể hiện bài hát ngợi ca Hà Nội; cho phép thực hiện xã hội hóa việc lắp đặt màn hình LED phục vụ nhân dân theo dõi truyền hình trực tiếp mít tinh, diễu binh, diễu hành…


Theo đề xuất của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo, Phó Thủ tướngđồng ý với không thực hiện phương án “bắn mây” khi thời tiết không thuận, mà thay vào đó chúng ta sẽ tổ chức tại Trung tâm Hội nghị quốc gia; Đồng ý tổ chức Lễ đón Bằng công nhận Trung tâm Hoàng thành Thăng Long là Di sản văn hóa thế giới vào ngày khai mạc Đại lễ kỷ niệm 1/10. Đây là một sự kiện có ý nghĩa vô cùng to lớn, có giá trị toàn cầu của văn minh nhân loại, là bản anh hùng ca lịch sử truyền thống giữ nước, dựng nước của đất nước chúng ta, Phó Thủ tướng nhấn mạnh về đề nghị, TP Hà Nội và Bộ VH-TT & DL phối hợp chặt chẽ thực hiện chu đáo công việc này; đồng thời nghiên cứu, có giải pháp mở cửa cho khách tham quan “Di sản văn hóa thế giới” - Hoàng Thành Thăng Long trong dịp diễn ra Đại lễ 1000 năm

Phó Thủ tướng đặc biệt lưu ý đến vấn đề an toàn phải bảo đảm tuyệt đối trong tất cả các khâu thực hiện các hoạt động diễn ra trong 10 ngày Đại lễ kỷ niệm và đề nghị, các thành viên trong BCĐ chủ động, sáng tạo, toàn tâm, toàn ý trong công tác chuẩn bị để bảo đảm thành công Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, an toàn, tiết kiệm, có ý nghĩa sâu sắc trong lòng nhân dân Thủ đô và cả nước cũng như bạn bè quốc tế.

-----------------------------------------


Phân luồng phương tiện trong thời gian diễn ra đại lễ 1000 năm Thăng Long

Các tuyến quanh hồ Hoàn Kiếm, quảng trường Ba Đình sẽ cấm xe lưu thông vào ngày 1/10 và 10/10. Các phương tiện được phân luồng cách đó khoảng một km.

Theo chỉ đạo của ông Nguyễn Văn Khôi, Phó chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, liên ngành công an thành phố - Sở Giao thông Vận tải sẽ xây dựng phương án và bố trí phân luồng phương tiện trong thời gian diễn ra 3 buổi lễ quan trọng chào mừng 1000 năm Thăng Long.

Theo đó, tại lễ khai mạc kỷ niệm 1000 năm tại tượng đài Lý Thái Tổ vào sáng 1/10, các phương tiện sẽ bị cấm lưu thông trên trục đường Hàng Gai - Hàng Hành - Hàng Trống - Hàng Khay - Bà Triệu - Hàng Bài - Hai Bà Trưng - Ngô Quyền - Trần Nguyên Hãn - Lò Sũ - Cầu Gỗ - Hàng Đào. Phương tiện của đại biểu và nhân dân sẽ được trông giữ bên ngoài khu vực cấm.

 
Hà Nội dễ ùn tắc giao thông khi diễn ra sự kiện lớn.

Trong lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm tại Quảng trường Ba Đình vào sáng 10/10, các trục đường Nguyễn Thái Học - Lê Hồng Phong - Hoàng Hoa Thám - Thụy Khuê - Quán Thánh - Phan Đình Phùng - Nguyễn Tri Phương - Điện Biên Phủ - Trần Phú - Hoàng Diệu sẽ phải cấm phương tiện ra vào, chỉ có xe diễu hành và xe của đại biểu được gắn phù hiệu. Vào ngày này, phương tiện ra vào thành phố sẽ phân luồng từ vành đai 3.

Lễ bế mạc tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình vào tối 10/10, các tuyến đường quanh khu vực này cũng cấm các phương tiện.

Để giảm lượng phương tiện của người dân từ các tỉnh khác về thủ đô dự lễ, UBND thành phố Hà Nội cũng chỉ đạo bố trí các bãi đỗ xe tạm ngoài khu vực diễn ra đại lễ và có xe buýt chở người dân đi vào trung tâm. Các bãi đỗ phải phù hợp với từng địa bàn, không ảnh hưởng đến giao thông.

Trong dịp diễn ra đại lễ, cảnh sát giao thông Hà Nội sẽ mở đợt cao điểm kiểm soát và xử lý nghiêm hành vi vi phạm giao thông đường bộ, tập trung vào các lỗi vi phạm như: vượt đèn đỏ, đi không đúng phần đường, đi vào đường cấm, đỗ dừng không đúng nơi quy định, không đội mũ bảo hiểm...

Theo UBND Hà Nội, Tổng thống Pháp, Nga, Hoàng tử Anh và nhiều vị nguyên thủ dự kiến đến Hà Nội vào dịp đại lễ. Ngoài ra, Hà Nội sẽ đón 62 đoàn khách từ các tỉnh thành. Tổng công ty Vận tải Hà Nội chuẩn bị hơn 140 xe loại 15 chỗ và 78 xe loại 4 chỗ để đón khách.


                                                                    Theo VnExpress  
------------------------------------------------

03 Chương trình quan trọng của đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội

Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng, Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, đã lưu ý công tác chuẩn bị cho Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội phải đặc biệt chú trọng đến 3 chương trình quan trọng là Lễ khai mạc Đại lễ ngày 1/10/2010, Lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành sáng 10/10 và Đêm hội văn hóa - nghệ thuật tối 10/10.

Thứ nhất, về Lễ khai mạc Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nôi, Phó Thủ tướng chỉ đạo UBND TP. Hà Nội chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị liên quan tập trung thực hiện tốt kịch bản Khai mạc 10 ngày Đại lễ, tổ chức tập luyện, sơ duyệt và tổng duyệt Lễ khai mạc Đại lễ.

Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội  diễn ra trong 10 ngày (từ 1-10/10/2010) với 30 hoạt động văn hóa, lễ hội đặc sắc cùng một chương trình kỷ niệm hoành tráng, trang trọng, xứng tầm sự kiện trọng đại và đậm chất anh hùng ca thể hiện tình cảm, đạo lý uống nước nhớ nguồn, tôn vinh các giá trị truyền thống lịch sử và cách mạng của dân tộc.

Trong 10 ngày lễ hội, sẽ có các chương trình nghệ thuật đặc sắc chào mừng như: Màn trình diễn của dàn nhạc giao hưởng quốc tế và quốc gia; biểu diễn  các ca khúc sáng tác mới chào mừng Thăng Long- Hà Nội; liên hoan ẩm thực Hà Thành; trình diễn áo dài truyền thống; hội thả diều ba miền đất nước; lễ hội đường phố và chương trình văn hoá nghệ thuật của tuổi trẻ Thủ đô...

Thứ hai, về Đêm hội văn hóa - nghệ thuật kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Phó Thủ tướng giao UBND TP. Hà Nội chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoàn chỉnh kịch bản văn học và thành lập Tổ đạo diễn Đêm hội văn hóa - nghệ thuật; hoàn chỉnh kế hoạch tổng thể các hoạt động thực hiện Đêm hội, trong đó có các phương án phù hợp với các tình huống thời tiết.

Dự kiến, Chương trình Đêm hội văn hóa, nghệ thuật chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội dự kiến sẽ diễn ra trong khoảng thời gian 100 phút, kết thúc là những chùm pháo hoa nghệ thuật kéo dài từ 20-30 phút tại một số điểm trên địa bàn Thủ đô.

Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng, nội dung kịch bản của Đêm hội văn hóa, nghệ thuật đặc biệt chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội sẽ không trùng lặp với các kịch bản đã có trước đó, ngắn gọn và mang tính khái quát cao. Trong kịch bản Đêm hội sẽ được chia thành nhiều chương, trong đó có chương mang tên gọi "Quyết định trọng đại", điểm nhấn chính là Chiếu Dời đô.

Thứ ba, về Lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành sáng 10/10, Phó Thủ tướng giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với UBND TP. Hà Nội và các cơ quan liên quan tập trung triển khai công tác chuẩn bị Lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành ngày 10/10/2010 tại Quảng trường Ba Đình theo đúng Đề án, kế hoạch đã được phê duyệt.

Không đánh chiêng, trống và kéo còi trong cả nước

Phó Thủ tướng đồng ý thực hiện xã hội hóa việc lắp đặt màn hình LED để nhân dân theo dõi truyền hình trực tiếp mít tinh, diễu binh, diễu hành, Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để triển khai thực hiện. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng yêu cầu không được quảng cáo trên màn hình LED trong thời gian tổ chức mít tinh, diễu binh, diễu hành.

Trong lúc cử Quốc thiều, tất cả mọi người hát Quốc ca, đồng thời bắn 21 loạt đại bác tại Sân vận động Cột cờ Hà Nội. Bộ Quốc phòng chuẩn bị chu đáo, đảm bảo an toàn công việc này. Phó Thủ tướng cũng chỉ đạo, không tổ chức đánh chiêng, trống và kéo còi trong cả nước.

Thời gian từ nay đến Đại lễ đã rất gần, Phó Thủ tướng yêu cầu các Thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, các Trưởng Tiểu Ban tập trung cao vào việc chỉ đạo thực hiện kế hoạch của từng kịch bản, đề án đã được phân công.

Ban Chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long sẽ rà soát lần cuối và tiến hành tổng duyệt chung cả 3 chương trình vào khoảng cuối tháng 9/2010.
 
                                                                                                       Theo Chinhphu.vn
                                -----------------------------------------------
 
Một số bài viết về Thăng Long Hà Nội:

Phát hiện bản khắc ‘Chiếu dời đô’ cổ nhất


Bản khắc nguyên văn “Chiếu dời đô” của vua Lý Thái Tổ cổ nhất đã được nhóm nhân viên chuyên nghiên cứu về Hán - Nôm của Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV tại Đà Lạt (Lâm Đồng) tìm thấy trong khối Mộc bản Triều Nguyễn đang lưu trữ tại đây.

Bản khắc cổ nguyên văn “Chiếu dời đô” của vua Lý Thái Tổ được phát hiện khi nhóm nhân viên này đang tra tìm tài liệu trong kho Mộc bản triều Nguyễn để làm chuyên đề về 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Đây là bản khắc chữ Hán ngược, kích thước 41 x 21,2 cm, khuôn khổ in 20 x 29,5cm ghi lại toàn bộ Chiếu dời đô gồm 214 chữ (không kể phần chú thích), với bố cục chặt chẽ, lời văn khúc chiết, đầy sức thuyết phục.
 

Một mộc bản chiếu dời đô (Ảnh: Pháp luật và xã hội)

Bà Phạm Thị Huệ - Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV cho biết: “Bản khắc Mộc bản Chiếu dời đô vừa được phát hiện do vua Lý Công Uẩn soạn cách đây 1.000 năm nằm trong bộ sách “Đại Việt sử ký toàn thư” (Kỷ Lý Thái Tổ - quyển 2 – tờ 2) trong kho Mộc bản triều Nguyễn (di sản tư liệu thế giới), có ký hiệu H 31/8…. Đây là bản gốc duy nhất còn lại tính đến thời điểm này”.

Việc tìm thấy mộc bản “Chiếu dời đô” cổ nhất này có ý nghĩa rất quan trọng trong nghiên cứu, lưu trữ, đặc biệt là dịp kỷ niệm đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội sắp tới.

Bà Huệ cũng cho biết thêm, hiện các cán bộ của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 4 đang tiến hành xác định mộc bản này có từ thời Lê (năm 1679) hay từ thời Nguyễn (khoảng 1802 đến 1807).
 
                                      ----------------------------------------------  
 

Những dấu ấn bình dị quanh hồ Gươm

Cụ rùa, tháp Rùa, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn, tháp Bút là những dấu ấn lịch sử văn hóa mà mỗi khi nhắc tới hồ Gươm thì ai cũng nghĩ tới. Hồ Gươm còn nhiều cảnh vật khác, tuy bình dị hơn nhưng nhiều người sống lâu ở Hà Nội lại cho đó là một phần vẻ đẹp không thể thiếu được của thắng cảnh này.

Đó là cây đa đã gần 200 tuổi, nằm trong khuôn viên của báo Nhân Dân. Khi TS Vũ Tông Phan lập trường Hồ Đình năm 1835 thì cây đa này đã vững chắc, nghĩa là nó đã được trồng trước đó. KTS Tạ Mỹ Duật lúc còn sống đã xếp cây đa này vào loại số một Đông Dương. Một cây đa khác cũng có tuổi đời không thua kém cây đa số một Đông Dương là cây đa ở đền Ngọc Sơn. Trận bão năm 1977 đã làm bật rễ.

Ngay sau đó người ta đã dùng tời kéo thân nó đứng dậy rồi chống cột và cho đến hôm nay, cây đa vẫn sống và toả bóng. Nhắc đến cây xanh quanh hồ Gươm còn phải nhắc đến hai cây gạo có sự ra đời khá kì lạ. Đó là một cây trước vườn hoa Lý Thái Tổ và một cây trước đền Ngọc Sơn đã chết. Cây gạo có đặc điểm sinh học là vào cuối mùa xuân, lá rụng hết và trên cành khẳng khiu hoa bắt đầu nở đỏ ối khiến cho hoa càng nổi bật trên nền trời. Tuy nhiên, cây gạo không cho bóng mát, thậm chí còn gây nguy hiểm vào mùa mưa bão vì cành rất dễ gẫy

Dân gian lưu truyền, ban ngày ma quỷ thường trú ngụ ở cây này, do vậy để “dồn ma” ra khỏi làng nên ở các vùng quê, người ta hay trồng cây gạo ở đầu làng hay ngoài cánh đồng. Khi chính quyền Pháp xây dựng công sở, dinh thự ở phía Đông hồ Gươm có người mách nên trồng cây gạo để tránh ma qủy quấy nhiễu. Thế là thực dân Pháp cho trồng ngay.


Hồ Gươm mang trong mình những dấu ấn bình dị của lịch sử.

Và một nét đẹp không thể lẫn của hồ Gươm đó là mỗi mùa cây lộc vừng thay lá và ra hoa. Vẻ đẹp của nó đã đi vào nhiều tác phẩm thơ ca, nhiếp ảnh của nhiều nghệ sĩ tên tuổi. Hai cây lộc vừng già nua nghiêng mình ra hồ trong đó có một cây có tới chín gốc nằm ở khu vực đối diện Sở Điện lực Hà Nội. Không ai biết hai cây lộc vừng này đã sống ở đây mấy trăm năm. Chỉ biết để có được cái thân bồ tượng đó, lộc vừng phải trải qua cả chục đời người. Đến khoảng cuối tháng giêng, khi mà lá vàng đã rụng hết, lộc non đã biến thành những tầng lá xanh mướt, lộc vừng mới bắt đầu buông xuống nhưng “dây hoa” xanh mởn. Sau gần một tuần, những dây hoa đó mới chầm chậm, chầm chậm bung từng nụ một.

Giống như một dây đèn nhấp nháy chỉ có màu đỏ, chúng lắc lư trong nắng, điểm đỏ những tán lá xanh, “hun” nóng những thân cây xù xì già cỗi. Khi các cánh hoa đỏ rụng xuống mặt hồ, gió dồn lại một chỗ tạo ra tấm thảm bập bềnh trên mặt nước khiến hồ Gươm ngày càng thêm duyên dáng. Ở gốc cây lộc vừng chín gốc này ngày trước thường có một ông già tóc trắng như cước ngồi thổi tiêu. Và cứ đến ngày 19/12 ông mới thổi bài Hồn tử sĩ. Sở dĩ ông chỉ thổi bài này vào ngày đó vì người bạn thân cùng phố Hàng Gai của ông khi đó mới 13 tuổi làm liên lạc ở Trung đoàn Thủ đô đã hy sinh ở chính gốc cây lộc vừng trong những ngày Thủ đô quyết tử chống Pháp.

Nhiều du khách tới dạo ven hồ Gươm nhưng có lẽ ít ai để ý thấy một chiếc ghế đá to nằm bên bãi giữ xe của Nhà hát ca múa nhạc Trung ương. Đó là chiếc ghế đá duy nhất còn sót lại của một thời Hà Nội xưa. Là ghế nhưng lại có diện tích giống cái bàn đá thì đúng hơn vì chiều dài tới 2 m, ngang gần 1 m, mặt ghế dầy gần 20 cm. Chiếc ghế được tạc hình chữ H, đá xanh nguyên khối và điều khiến nó giống chiếc bàn vì không có vai tựa phía sau.

Theo một số nhà nghiên cứu về Hà Nội thì những chiếc ghế đá đặc biệt này được làm từ thời Pháp và cách đây 20 năm Hà Nội vẫn còn vài chục chiếc như vậy. Nhưng do biến động lịch sử và thời gian, đến nay chỉ còn duy nhất chiếc ghế này tồn tại. Còn nhà văn Băng Sơn thì cho rằng theo ông có lẽ đây  là chiếc ghế đá lớn nhất Hà Nội tính đến thời điểm hiện tại. Bởi những chiếc ghế đá thời nay rất hẹp, rất ngắn, chỉ đủ cho hai, ba người ngồi tựa vào lưng ghế mà thôi, còn riêng chiếc ghế đá này có thể chứa được mười người ngồi dựa lưng vào nhau mà vẫn rất rộng rãi. Theo nhà văn Băng Sơn thì khoảng 20 năm về trước, ở một số công viên của Hà Nội và quanh hồ Hoàn Kiếm có khá nhiều ghế đá được làm từ thời Pháp rất đẹp.

Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì những chiếc ghế đá tựa như những chiếc bàn xinh xắn ấy đã không còn tồn tại. Chỉ còn chiếc ghế này sót lại, nằm phía trước tòa nhà khách sạn Phú Gia xưa. Một điều đặc biệt nữa là chiếc ghế đá nằm ngay trước Nhà hát ca múa nhạc Trung ương. Ngôi nhà này được xây từ những năm 1910 vốn là trụ sở của Hội Khai Trí Tiến Đức những năm đầu thế kỷ trước, nơi các trí thức Hà Nội sinh hoạt tập thể, giao lưu, đàm luận, diễn thuyết.

Đây cũng là trụ sở đầu tiên của Quốc Hội khóa 1 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau ngày tổng tuyển cử bầu Quốc Hội đầu tiên năm 1946. Sau 1954 tòa nhà được dành làm câu lạc bộ Thống Nhất - nơi sinh hoạt của các cán bộ miền Nam tập kết. Rồi trong một số bài thơ viết về Hà Nội, nhà văn, nhà thơ Nguyễn Đình Thi cũng từng nhắc tới chiếc ghế đá này. Có lẽ đây cũng là nơi chốn quen thuộc của nhà thơ mỗi khi ngồi ngắm cảnh Hồ Gươm để sáng tác những vần thơ bất hủ.
 
  ----------------------------------------------

Hà Nội nơi chắt lọc tinh hoa

Khi nói về Thăng Long - Hà Nội ai ai cũng cho rằng đây là dải đất của tinh hoa Việt Nam, dải đất của văn minh, thanh lịch. Nhưng riêng Hà Nội, chỉ tính từ thời định đô cũng đã gần 1000 năm, cả ngàn năm thu hút nhân tài bách nghệ bốn phương.

Các thế hệ đã đem đến những lề thói của địa phương mình, chắt lọc, hun đúc lại, tạo nên cái tinh hoa kinh kỳ. Thêm vào đó, trải ngàn năm, việc giao lưu quốc tế cũng diễn ra thường trực, càng về sau càng thường xuyên hơn, lắm vẻ hơn thời trước.

Cho nên Thăng Long - Hà Nội quả là đã tiếp thu mọi tài hoa của các vùng, nhào nặn lại, nâng cao lên theo yêu cầu của đời sống toàn dân tộc. Điều này có nghĩa là cái văn minh của Hà Nội chính là cái bản lĩnh chung của dân tộc cộng với sắc thái riêng của đất Thủ đô. Đó là sản phẩm đồng thời là động lực để người Thăng Long - Hà Nội sáng tạo ra những thành tựu rực rỡ về các mặt, tiêu biểu nhất là những nhân cách Hà Nội đã được lịch sử khẳng định.

Ngoài ra kinh kỳ cũng là trung tâm chính trị, kinh tế lớn, nghĩa là thịnh vượng hơn các vùng, tạo ra nền tảng vật chất cũng cao hơn cho sự phát triển văn minh, văn hóa, lối sống. Cũng phải kể đến một thực tế là ở chốn Kẻ Chợ sầm uất vốn là nơi cạnh tranh đọ sức đua tài dữ dội, phải nghề tinh, tài cao mới trụ nổi, mới phát triển được. "Phồn hoa thứ nhất Long Thành" là nơi thu hút, hội tụ tài và nghệ tứ chiếng trong sự chọn lọc có vẻ bình yên nhưng khá ngặt nghèo. Cái gì còn lại, phát triển được chính là cái tiêu biểu, cái tinh hoa. Những cái gì xoàng xĩnh, vô bổ, sớm muộn đều bị đào thải. Cứ xem các danh nhân văn hóa, những người gốc gác Thăng Long - Hà Nội không nhiều, phần đông là từ tứ xứ tụ về nhưng cái chính là họ đã hấp thụ được tinh hoa của văn hóa kinh kỳ và được nền văn hóa này chấp nhận. Lê Quý Đôn (Thái Bình), Nguyễn Gia Thiều (Bắc Ninh), Nguyễn Du (Hà Tĩnh), Hồ Xuân Hương (Nghệ An) là như vậy. Hoặc như về bách nghệ thì bách nghệ Kinh đô đa số có gốc gác từ tứ trấn Đông, Nam, Đoài, Bắc, nhưng tinh xảo lên trong thị trường lớn nhất, khó tính nhất là Kẻ Chợ: Nghề vàng bạc từ Đồng Xâm (Thái Bình), nghề thêu từ Hướng Dương, Quất Động (Hà Tây), nghề giày dép từ Phong Lâm, Trúc Lâm (Hải Dương)... Khi nhà Nguyễn chuyển kinh đô vào Huế, văn hóa Hà Nội vẫn phát triển, thị trường Hà Nội vẫn có sức hút lớn nhiều tài năng bách nghệ, vẫn giữ vững tinh hoa kinh kỳ. Có một vấn đề được đặt là là vậy bên cạnh lòng yêu nước là hằng số đạo lý của toàn dân tộc thì còn những phẩm chất gì làm nên tinh hoa đó? Thực ra những phẩm chất ấy cũng là của toàn dân tộc, song vì kinh đô là hội tụ tinh hoa cả nước nên các phẩm chất cũng tập trung hơn, biểu hiện rõ rệt hơn. Trước hết, đó là nghị lực, một nghị lực lớn, kết tinh của ý chí mạnh mẽ, khả năng hành động và đức tính bền bỉ. Nghị lực lớn trong chống ngoại xâm, nghị lực lớn trong tạo dựng văn minh, tạo lập đời sống. Người đời Lý đã từng dời cả một làng Bình Sa - vốn ở bờ nam hồ Tây - ra phía bãi sông Hồng lập ra làng mới (Cơ Xá) để lấy đất làm chỗ xây dựng kinh đô. Thế kỷ XIII người đời Trần tự mình phá hủy cả một kinh thành đô hội của mình rồi lên đường đi kháng chiến để cản bước tiến của quân Nguyên - Mông. Và một công trình đáng kể khác của nghị lực Thăng Long là nơi khởi đầu con để ngăn lũ sông Hồng được đắp suốt chiều dài nghìn năm đã cùng với đê vùng ngược vùng xuôi trở thành "vệ sĩ" khổng lồ bảo vệ cả đồng bằng Bắc Bộ. Và nghị lực Hà Nội lại tiếp nối nghị lực Thăng Long, làm nên những kỳ tích tầm vóc lớn trong hai cuộc chiến tranh đánh thắng hai đế quốc hùng mạnh. Do yêu nước, yêu dân, đầy nghị lực nên người Thăng Long - Hà Nội đã đấu tranh ngoan cường suốt từ thời định đô. Tuy nhiên, đấu tranh chính là để tồn tại, là lòng xót thương nòi giống đồng bào. Cho nên một phẩm chất nữa của người ở đây là lòng nhân hậu và đoàn. Ngay cả khi Kẻ Chợ là thương trường lớn nhưng người ta vẫn giữ được lòng nhân hậu. Dân tứ chiếng đến quần cư mà hòa đồng, mà nương tựa vào nhau. Có chia thành phường thành phố nhưng không xung khắc, không xa lìa mà cùng nhau hòa hợp làm ăn. Ở thôn quê có người hàng xóm, hàng xã, thì ở kinh đô có người hàng phố, hàng phường. Người Kẻ Chợ biết tôn trọng cộng đồng vì họ vấn là người bốn phương về đây tụ hội. Không đoàn kết, nhường nhịn, đề cao cộng đồng thì khó tồn tại. Với họ "người hàng phố" sát cách nhau, cũng thân thiết chẳng khác gì người "hàng xóm" khi còn ở làng quê. Trong cuộc sống hàng ngày, họ chia sẻ với nhau nỗi buồn và niềm vui. Hà Nội có câu văn: Văn ai tất điếu, nghe tiếng khóc là đến hỏi thăm. Họ giữ hòa khí, cận duyệt viễn lai, ở gần đẹp lòng, ở xa muốn đến. Cả phố tránh mất lòng nhau, "chín bỏ làm mười", giữ gìn cho nhau, đi vắng thì "gửi nhà nhau" (Mãi về sau này đến tận những năm chống Mỹ 1965-1975, đi sơ tán gửi nhà nhau vẫn là chuyện thường thấy). Ra quét hè, tiện chổi quét sang cả cho hè hàng xóm. Bà dựn cháu: Chớ có "được lòng ta, xót xa lòng người". Cha dạy con: "Cái mà mình không muốn, thì đừng làm cho người". Cuối cùng là chất thông minh trí tuệ và tài hoa. Thông minh trí tuệ thì nhạy cảm, nhận thức nhanh, lắm sáng kiến, năng động trong hành động, tiếp thu và hội nhập nhanh, luôn luôn tạo ra cái mới, sản phẩm mới, thơ văn mới, nghệ thuật mới. Óc sáng lại thêm khéo tay, tài hoa nên nghề giỏi, sản phẩm vô thể và hữu thể đều tinh xảo. Lại thêm vào đó là lối sống có văn hóa, lịch lãm và tinh tế. Từ ăn uống, nói năng, đi đứng, phục sức, giao tiếp, ứng xử, làm lụng, hưởng thụ nghệ thuật... đều được chăm chút, chọn lọc, cân nhắc, tề chỉnh chứ không buông tuồng trễ tràng. Tất cả làm ra cái mà nhiều thế hệ đã gọi là Thanh lịch Tràng An mà bản chất của nó là sự tôn trọng các giá trị tinh thần, đạo lý, văn hóa trong đời sống thường ngày. Công nghiệp hóa và hiện đại hóa đang đưa Hà Nội vào khúc ngoặt mới. Thắng lợi của công cuộc cách mạng này là đã và sẽ nâng tầm vóc Thủ đô lên tầm cỡ mới. Đặc biệt là vừa qua, Hà Nội mở rộng, hòa đồng cùng cháu con những người đã lần đầu tiên trong lịch sử từ đầu Công nguyên đứng lên chống giặc đô hộ xâm lược (khởi nghĩa Hai Bà Trưng) những thế hệ công dân suốt chiều dài lịch sử ngàn năm đã kiên trì làm "áo giáp chở che" cho Thăng Long Kinh kỳ. Và Hà Nội cùng với sự tăng trưởng về kinh tế thì truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp cũng đang được khơi lại, con người đang tự cấu trúc lại, hứa hẹn góp phần đáng kể vào việc bảo vệ và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến.

-------------------------------------
                                   
 Xao xuyến những cửa ô đất Thăng Long-Hà Nội
       Hà Nội vui sao
            Những cửa đầu ô
            Tíu tít gánh gồng
            Đây ô chợ Dừa, kia ô Cầu Dền
            Làn áo xanh nâu Hà Nội tươi thắm... 
 
 
Ô Quan Chưởng. (Nguồn: Internet)
Các cửa ô Hà Nội được nhắc đến trong bài hát “Người Hà Nội” của nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi đã làm xao xuyến hàng triệu con tim. Cửa ô chính là lối ra vào thành kinh đô Thăng Long xưa, có vọng gác, chốt chặn để kiểm soát, thu thuế, bảo vệ cuộc sống trong thành.

Phần lớn các cửa ô xưa đều thông ra sông Hồng và sông Tô Lịch. Lý do là thời đó đường giao thông nối Thăng Long với các vùng khác chủ yếu là đường sông. Dọc sông Hồng có nhiều bến, phố xá đông đúc, nhiều hiệu buôn lớn của người Việt và người nước ngoài tập trung buôn bán.

Tên gọi cửa ô thường đặt theo tên làng, tên tổng.

Cửa ô Thăng Long-Hà Nội xưa…

Sách "Bắc thành dư địa chí" đầu thế kỷ XIX cho biết Hà Nội có 21 cửa ô, nhưng sách này lại không kể đầy đủ tên của các cửa ô. Đến năm 1931, khi hai ông Lê Đức Lộc và Nguyễn Công Tiến dựng bản đồ tòa thành Hà Nội đã ghi lại vị trí và tên của 16 cửa ô.

Đó là Ô Yên Hoa nay là ngã ba đê Yên Phụ-đường Thanh Niên; Ô Yên Tĩnh nay là ngã ba đê Yên Phụ-Cửa Bắc; Ô Thạch Khối nay là đầu dốc Hàng Than; Ô Phúc Lâm nay là đầu phố Hàng Đậu; Ô Thanh Hà nay là Ô Quan Chưởng; Ô Trừng Thanh là ở phố Chợ Gạo cũ ngày nay; Ô Mỹ Lộc nay là ngã ba đường Trần Quang Khải-Hàng Mắm; Ô Đông An nay là ngã ba đường Trần Quang Khải-Hàng Thùng; Ô Tây Luông nay là Nhà hát Lớn Hà Nội; Ô Nhàn Hòa nay là ngã ba Trần Quang Khải-Trần Hưng Đạo.

Ngoài ra còn có Ô Thanh Lãng nay là Ô Đống Mác; Ô Yên Ninh ngã tư phố Huế-Đại Cồ Việt, tức Ô Cầu Dền; Ô Kim Hoa là ngã tư đường Giải Phóng-Đại Cồ Việt, tức Ô Đồng Lầm ngày nay; Ô Thịnh Quang nay ở ngã tư Hàng Bột-Khâm Thiên, tức Ô Chợ Dừa; Ô Thành Bảo nay là bến ôtô Kim Mã và Ô Thụy Chương là khoảng vườn hoa Tây Hồ ở đầu đường Hoàng Hoa Thám ngày nay.

Cửa ô Thăng Long-Hà Nội nay

Ngày nay, nhắc đến cửa ô Hà Nội, người ta nhắc tới năm di tích cửa ô là Ô Quan Chưởng, Ô Đống Mác, Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Dền và Ô Cầu Giấy.

Ô Quan Chưởng nằm trên phố Hàng Chiếu, ngay cạnh chợ Đồng Xuân. Đây là cửa ô duy nhất còn lại cổng ba cửa như cổng thành, có vọng lâu, xây bằng gạch vồ màu đỏ, có cả tấm bia đá của Tổng đốc Hoàng Diệu cho dựng vào năm 1882 nghiêm cấm binh lính quan nha không được sách nhiễu người dân qua lại đây vào thành.

Ô Quan Chưởng được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 10 (năm 1749) có tên là cửa Thanh Hà, vì đây vốn là đất thôn Thanh Hà, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Ô này là một di tích lịch sử, nơi diễn ra trận chiến oanh liệt của quân dân Hà Nội chống lại thực dân Pháp xâm lược. Ngày 20/11/1873, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất. Từ bốn giờ sáng, tàu chiến Pháp đã tập trung tất cả đại bác bắn vào trong thành Hà Nội. Một cánh quân của chúng tiến tới Ô Quan Chưởng liền bị quân ta chặn lại.

Cửa ô này do một viên Chưởng Cơ cùng với 100 binh sĩ đã chiến đấu kịch liệt với địch và làm cho địch phải thiệt hại nặng nề. Tuy nhiên, trong trận đánh ác liệt này, viên Chưởng Cơ cùng với toàn thể binh sĩ đã anh dũng hy sinh.

Ô Quan Chưởng được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1994.

Ô Đống Mác là tên cửa ô thời xưa, hiện nay nằm ở cuối phố Lò Đúc, nơi tiếp giáp phố Trần Khát Chân. Bản đồ Hà Nội năm 1831 gọi đây là cửa ô Thanh Lãng. Tới bản đồ năm 1866, cửa ô này được gọi là cửa ô Lãng Yên.

Theo nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, Đống Mác còn có tên là Ông Mạc. Vì năm 1782, từ nội thành về bến Thanh Trì, Hải Thượng Lãn Ông đã đi qua cửa ô này và ghi trong Thượng kinh ký sự: "Ngày 10/9, từ sáng tinh mơ, tôi qua cửa ô Ông Mạc. Cửa chưa mở….”

Ô Chợ Dừa ở ngã tư Hàng Bột-Khâm Thiên hiện nay. Theo Bản đồ Hà Nội, đường phố Khâm Thiên hình thành rất sớm với hàng loạt các thôn như Tương Thuận, Khâm Đức, Tô Tiền tổng Hữu Nghiêm, Trung Tả, Quan Thổ và Xã Đàn tổng Thọ Xương.

Thời Pháp thuộc, toàn bộ phố Khâm Thiên thuộc về địa phận tỉnh Hà Đông, huyện Hoàn Long. Ngoài mặt phố có các phòng trà, tiệm nhảy… mọc lên rất hào nhoáng, sầm uất, nhưng sau lưng phố là một thế giới hoàn toàn khác. Đó là cuộc sống cơ hàn của những người dân lao động mất nước với những túp lều tranh xiêu vẹo.

Sau khi Thủ đô được giải phóng, phố Khâm Thiên mang một bộ mặt mới, nhà nhà đèn điện sáng trưng, đường được trải nhựa và mở rộng. Nhưng, một thảm cảnh đã xảy ra vào ngày 26/12/1972, giặc Mỹ đã rải bom xuống cả dãy phố Khâm Thiên làm gần 283 người chết, 266 người bị thương, 234 ngôi nhà bị phá hủy và 1.200 ngôi nhà bị hư hỏng.

Hiện nay, khi nói đến Ô Chợ Dừa là nói đến ngã sáu của các phố Khâm Thiên, Tôn Đức Thắng, Đê La Thành, Nguyễn Lương Bằng, Xã Đàn.

Ô Cầu Dền ngày nay ở ngã tư phố Huế-Bạch Mai-Trần Khát Chân-Đại Cồ Việt: từ xa xưa, nơi đây có con sông nhỏ, trên có một cây cầu bắc qua với tên gọi là Cầu Dền. Vì vậy, cửa ô này lấy Cầu Dền làm tên gọi. Khu vực Ô Cầu Dền cũ bây giờ không còn dấu vết của quá khứ.

Ô Cầu Giấy ra đời từ thời Lý khi kinh thành mở ra về phía Tây, nơi chứng kiến tên sĩ quan Pháp Garnier  thất thủ năm 1873 và Rivie thất thủ năm 1883. Ô Cầu Giấy nằm trên đường phố Cầu Giấy. Đây là một đường phố khá dài với 1.800m nối liền đường Kim Mã từ cổng Đền Voi Phục qua Cầu Giấy, bắc qua sông Tô Lịch đến ngã ba Nguyễn Phong Sắc-Xuân Thủy.

Hiện Ô Cầu Giấy còn một ngôi đền nổi tiếng là đền Voi Phục. Ngoài cửa đền có đắp hai con voi quỳ phục nên đền có tên là Voi Phục.

Theo Ngọc Phả, đền Voi Phục có tên chữ Hán là Linh Lang Từ, vì đây là nơi thờ thần Linh Lang (Linh Lang là con thứ tư của vua Lý Thánh Tông). Theo tín ngưỡng dân gian, kinh thành Thăng Long có bốn thần trấn giữ bảo vệ bốn phía thì Linh Lang là thần trấn phía Tây.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, Hà Nội đã có nhiều cửa ô, con số các cửa ô thay đổi theo thời gian, hiện nay chỉ còn lại Ô Quan Chưởng./.
 
 
-----------------------------
 
Ngàn năm Thăng Long - Hà Nội qua những cái tên
 
Thăng Long, với chữ “Thăng” ở bộ Nhật, được ghi trong Đại Việt sử ký, không chỉ là “Rồng bay lên”, mà còn có nghĩa “Rồng (bay) trong ánh Mặt trời lên cao”. Đây là một tên gọi hoàn toàn do người Việt sáng tạo.
 
 Rồng đá trên thềm điện Kính Thiên trong Thành cổ Hà Nội

Thăng Long - Hà Nội là Kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử Việt Nam. Mảnh đất địa linh nhân kiệt này từ trước khi trở thành Kinh đô của nước Đại Việt dưới triều Lý (1010) đã là đất đặt cơ sở trấn trị của quan lại thời kỳ nhà Tùy (581-618), Đường (618-907) của phong kiến phương Bắc. Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long - Hà Nội có nhiều tên gọi. Chúng tôi xin chia các tên gọi ấy thành hai loại: Chính quy và không chính quy, theo thứ tự thời gian như sau:

Tên chính quy

Là những tên được chép trong sử sách do các triều đại phong kiến, Nhà nước Việt Nam chính thức đặt ra:

1. Long Đỗ. - Truyền thuyết kể rằng lúc Cao Biền nhà Đường, vào năm 866 đắp Thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là Thần Long Đỗ. Do đó trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ. Thí dụ vào năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời Kinh đô về đất An Tôn, Phủ Thanh Hóa. Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: “Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời Kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Đỗ có Núi Tản Viên, có Sông Lô Nhị (tức Sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi”. Điều đó cho thấy Long Đỗ đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ.

2. Tống Bình. - Tống Bình là tên trị sở của bọn đô hộ phương Bắc thời Tùy (581 - 618), Đường (618 - 907). Trước đây, trị sở của chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay). Tới đời Tùy chúng mới chuyển đến Tống Bình.

3. Đại La. - Đại La hay Đại La Thành nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy Kinh đô. Theo kiến trúc xưa, Kinh đô thường có “Tam trùng thành quách”: Trong cùng là Tử Cấm Thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi Vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Đại La Thành. Năm 866, Cao Biền bồi đắp thêm Đại La Thành rộng hơn và vững chãi hơn trước. Từ đó, thành này được gọi là Thành Đại La. Trong Chiếu dời đô của Vua Lý Thái Tổ viết năm 1010 có viết: “... Huống chi Thành Đại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất...” (Toàn thư, Tập I, H, 1993, tr. 241).

4. Thăng Long. - Về ý nghĩa tên gọi Thăng Long, chúng ta vẫn thường giải thích rằng: Thăng là bay lên, Thăng Long tức là rồng bay. Thực ra, ở trong Hán tự có nhiều cách viết và giải thích chữ “thăng”. Với cách viết thứ nhất, chữ “thăng” có nghĩa là “đi lên cao, tiến lên”, bên cạnh nghĩa đầu tiên của nó là cái thưng, một dụng cụ đo lường dung tích (từ văn học: “đẩu thăng: đấu thưng”). Cách viết thứ hai: có chữ Nhật đặt lên trên chữ Thăng mang ý nghĩa là Mặt trời lên cao và cũng có nghĩa là “đi lên cao”, như chữ “Thăng” ở cách viết thứ nhất. Thăng Long, Kinh đô mới của Lý Công Uẩn được ghi trong Đại Việt sử ký, với chữ “Thăng” ở bộ Nhật, và do đó bao hàm hai nghĩa: “Rồng bay lên”, và “Rồng (bay) trong ánh Mặt trời lên cao”. Đặt tên Thăng Long với cách viết như trên, vừa ghi lại sự kiện Vua Lý Thái Tổ thấy rồng xuất hiện trên đất được chọn làm Kinh đô mới, đồng thời có sức mạnh kỳ diệu và tốt lành của giống Rồng, rất gần gũi với dân Việt, vẫn tự cho mình là “con Rồng cháu Tiên”.

Có điều đáng chú ý là các từ điển thông dụng Trung Quốc như Từ nguyên, Từ hải (Từ nguyên xuất bản 1947, Từ hải xuất bản 1967, chưa rõ những kỳ xuất bản sau có khác không), không thấy ghi từ Thăng Long ở cả 2 dạng viết chữ Thăng. Riêng Trung văn đại từ điển (tập 5, Đài Bắc 1967, trang 208), ở chữ “Thăng” là “Thưng” dạng viết thứ nhất nói trên, có từ kép “Thăng Long” nhưng là danh từ chung và được giảng là “rồng bay lên”. Như vậy, có thể thấy tên gọi Thăng Long với cách viết ghi trên sử cũ là một địa danh hoàn toàn do người Việt sáng tạo.

5. Đông Đô. - Sách Đại Việt sử ký toàn thư  cho biết: “Mùa Hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương) coi phủ đô hộ là Đông Đô” (Toàn thư Sđd - tr.192). Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sứ thần nhà Nguyễn chú thích: “Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hóa là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô” (Cương mục - Tập 2, H. 1998, tr.700).

6. Đông Quan. - Đây là tên gọi Thăng Long do quan quân nhà Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ thị Kinh đô của nước ta, chỉ được ví là “cửa quan phía Đông” của Nhà nước phong kiến Trung Hoa. Sử cũ cho biết năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly đóng đô ở Thành Đông Đô, đổi tên thành Đông Quan. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 12 năm Mậu Tý (1408) Giản Định Đế bảo các quân “Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh Thành Đông Quan thì chắc phá được chúng” (Toàn thư , Sđd - Tập 2, tr. 244).

7. Đông Kinh. - Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết sự ra đời của cái tên này như sau: “Mùa Hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427) Vua (tức Lê Lợi) từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở Thành Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh. Ngày 15 Vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là Thành Thăng Long. Vì Thanh Hóa có Tây Đô, cho nên gọi Thành Thăng Long là Đông Kinh” (Toàn thư , Sđd. Tập 2, tr. 293).

8. Bắc Thành. - Đời Tây Sơn (Nguyễn Huệ - Quang Trung 1787 - 1802), vì Kinh đô đóng ở Phú Xuân (tức Huế) nên gọi Thăng Long là Bắc Thành (Nguyễn Vinh  Phúc - Trần Huy Bá - Đường phố Hà Nội - 11.1979, tr.12).

9. Thăng Long. - (Thịnh vượng lên). Sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội cho biết: “Năm 1802, Gia Long quyết định đóng đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (tức Huế), không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi Kinh thành Thăng Long làm trấn thành miền Bắc. Kinh thành đã chuyển làm trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần phải đổi. Nhưng vì tên Thăng Long đã có từ lâu đời, quen dùng trong dân gian cả nước, nên Gia Long thấy không tiện bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ “Long”  là Rồng thành chữ “Long” là thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà Vua, nay Vua không ở đây thì không được dùng chữ “Long” là “rồng” (Trần Huy Liệu - Chủ biên. Lịch sử Thủ đô Hà Nội, H. 1960, tr 81).

Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805, sau đó Vua Gia Long còn hạ lệnh phá bỏ Hoàng thành cũ, vì Vua không đóng đô ở Thăng Long, mà Hoàng thành Thăng Long lại rộng lớn quá.

10. Hà Nội. - So với tên gọi Thăng Long với ý nghĩa chủ yếu có tính cách lịch sử (dù chỉ đưới dạng truyền thuyết: ghi lại sự kiện có rồng hiện lên khi Vua tới đất Kinh đô mới), thì tên gọi Hà Nội có tính cách địa lý, với nghĩa “bên trong sông”. Nhưng nếu xét kỹ trên bản đồ thì chỉ có Sông Nhị là địa giới Tỉnh Hà Nội cũ về phía Đông, còn Sông Hát và Sông Thanh Quyết không là địa giới, như vậy có bộ phận Tỉnh Hà Nội không nằm bên trong những con sông này. Và khi Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp, tên gọi lại càng không tương xứng với thực địa...

Trung văn đại từ điển, tập 19 (Đài Bắc 1967, tr.103) cho biết Hà Nội là tên một quận được đặt từ đời Hán (202 Tr.CN - 220 S.CN) nằm phía Bắc Sông Hoàng Hà. Tên Hà Nội từng được ghi trong Sử ký của Tư Mã Thiên (hạng Vũ Kỷ), kèm lời chú giải: “Kinh đô đế vương thời xưa phần lớn ở phía Đông Sông Hoàng Hà, cho nên gọi phía Bắc Sông Hoàng Hà là Hà Ngoại”. Rất có thể Minh Mạng đã chọn tên gọi Hà Nội, một tên hết sức bình thường để thay tên gọi Thăng Long đầy gợi cảm, nhưng tên gọi mới Hà Nội này lại có thể được giải thích là “đất Kinh đô các đế vương thời xưa”, để đối phó với những điều dị nghị. Chính cách đặt tên đất “dựa theo sách cũ” đã lại được thực thi, sau này, năm 1888 Thành Hà Nội và phụ cận trở thành nhượng địa của thực dân Pháp, tỉnh lỵ Hà Nội phải chuyển tới Làng Cầu Đơ (thuộc Huyện Thanh Oai, Phủ Hoài Đức), cần có một tên tỉnh mới. Người ta đã dựa vào một câu trong sách Mạnh Tử (Lương Huệ Vương, thượng, 3) “Hà Nội mất mùa, thì đưa dân đó về Hà Đông, đưa thóc đất này về Hà Nội, Hà Đông mất mùa cũng theo phép đó”. Dựa theo câu trên, người ta đặt tên tỉnh mới là Hà Đông, tuy rằng tỉnh này nằm ở phía Tây Sông Nhị, theo thực địa phải đặt tên là Hà Tây mới đúng.

 Cửa Bắc

Tên không chính quy

Là những tên trong văn thơ, ca dao, khẩu ngữ... dùng để chỉ Thành Thăng Long - Hà Nội.

1. Trường An. - (Tràng An): Vốn là tên Kinh đô của hai triều đại phong kiến thịnh trị vào bậc nhất của nước Trung Quốc: Tiền Hán (206 Tr. CN - 8 S.CN) và Đường (618 - 907). Do đó, được các nhà Nho Việt Nam xưa sử dụng như một danh từ chung chỉ Kinh đô. Từ đó, cũng được người bình dân sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ chỉ Kinh đô Thăng Long.

Thí dụ:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài.

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.

Rõ ràng chữ Trường An ở đây là để chỉ Kinh đô Thăng Long.

2. Phượng Thành (Phụng Thành)

Vào đầu Thế kỷ XVI, ông Trạng Nguyễn Giản Thanh người Bắc Ninh có bài phú Nôm rất nổi tiếng: Phượng Thành xuân sắc phú (Tả cảnh sắc mùa Xuân ở Thành Phượng).

Nội dung của bài phú trên là tả cảnh mùa Xuân của Thăng Long đời Lê. Phụng Thành hay Phượng Thành được dùng trong văn học Việt Nam để chỉ Thành Thăng Long.

3. Long Biên. - Là nơi quan lại nhà Hán, Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều (Thế kỷ III, IV, V, và VI) đóng trụ sở ở Giao Châu (tên nước ta thời ấy). Sau đó, đôi khi cũng được dùng trong thơ văn để chỉ Thăng Long - Hà Nội. Sách Quốc triều đăng khoa lục có đoạn chép về tiểu sử Tam nguyên Trần Bích San (1838 - 1877), ghi lại bài thơ của Vua Tự Đức viếng ông, có hai câu đầu như sau:

Long Biên tài hướng Phượng Thành hồi

Triệu đối do hy vĩnh biệt thôi!

Dịch nghĩa:

Nhớ người vừa tự Thành Long Biên về tới Phượng Thành

Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi vào triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay.

Thành Long Biên ở đây, Vua Tự Đức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy giờ Trần Bích San đang lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội. Năm 1877, Vua Tự Đức triệu ông về Kinh đô Huế để sung chức sứ thần qua nước Pháp, chưa kịp đi thì mất.

4. Long thành. - Là tên gọi tắt của Kinh thành Thăng Long. Nhà thơ thời Tây Sơn Ngô Ngọc Du, quê ở Hải Dương, từ nhỏ theo ông nội lên Thăng Long mở trường dạy học và làm thuốc. Ngô Ngọc Du là người được chứng kiến trận đại thắng quân Thanh ở Đống Đa - Ngọc Hồi của Vua Quang Trung. Sau chiến thắng Xuân Kỷ Dậu (1789), Ngô Ngọc Du có viết bài Long Thành quang phục kỷ thực (Ghi chép việc khôi phục Long Thành).

5. Hà Thành. - Là tên gọi tắt của Thành phố Hà Nội được dùng nhiều trong thơ ca để chỉ Hà Nội. Thí dụ như bài Hà Thành chính khí ca của Nguyễn Văn Giai, bài Hà Thành thất thủ, tổng vịnh (khuyết danh), Hà Thành hiểu vọng của Ba Giai(?)...

6. Hoàng Diệu. - Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đôi khi trong các báo chí của ta, chúng ta sử dụng tên này để chỉ Hà Nội. (Thành Hoàng Diệu).

Ngoài ra, trong cách nói dân gian còn nhiều từ được dùng để chỉ Thăng Long - Hà Nội  như: Kẻ Chợ (Khéo tay hay nghề đất lề Kẻ Chợ - Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ); Thượng Kinh, tên này để nói đất Kinh Đô ở trên mọi nơi khác trong nước, dùng để chỉ Kinh đô Thăng Long (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh). hoặc trong tác phẩm: Thượng Kinh ký sự của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác; Kinh Kỳ, tên này nói đất có Kinh đô đóng (Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến); Và đôi khi chỉ dùng một từ như “Ăn Bắc, mặc Kinh”. Bắc đây chỉ vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh), Kinh chỉ Kinh đô Thăng Long.

Loại tên không chính quy của Thăng Long - Hà Nội còn nhiều, được người đời sử dụng khá linh hoạt trong văn học, ca dao... kể ra đây chưa hết...
 
                                                                                              Trích Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long
 
 -----------------------------------------

Những nét tương đồng giữa Hoa Lư-Thăng Long Hà Nội

Thời gian 1000 năm qua, nhưng những dấu ấn lịch sử, văn hóa mà sử sách ghi chép để lại và các di tích còn tồn tại là những minh chứng có sức thuyết phục về những nét tương đồng giữa Hoa Lư-Thăng Long Hà Nội hội tụ khá đầy đủ các yếu tố trong không gian văn hóa quốc đô theo dòng lịch sử mà ông cha ta để lại.

Trước hết, về vị trí địa lý, Hoa Lư và Thăng Long Hà Nội đều nằm ở vùng châu thổ đồng bằng Bắc Bộ, ven các dòng sông lớn và đều gắn liền với huyền tích về linh vật “Rồng Vàng”.

Kinh đô Hoa Lư (nay thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) nằm ở gần kề sông Hồng Long nghĩa là Rồng Vàng. Dòng sông này gắn liền với sự tích “Rồng Vàng” nổi lên giữa dòng cứu Đinh Bộ Lĩnh (vua Đinh Tiên Hồng) bị chú ruột là Đinh Thúc Dự đuổi đánh vì tội giết trâu của chú khao lũ trẻ mục đồng, còn kinh đô Thăng Long nằm ở ven sông Nhị Hà (tức sông Hồng ngày nay) gắn liền với huyền tích có “Rồng Vàng hiện lên trên ngã ba Tô Giang Nhị hà dưới chân thành Đại La rẽ sóng tới gần thuyền ngự vua Lý Thái Tổ rồi bay vút lên trời khuất lẫn trong những đám mây bông “Long vân khánh hội” “Rồng mây gặp hội anh hào ra tay”. Dáng Rồng bay vạch thế đất vươn lên nên mới đổi là Thăng Long.


Ngoài những dòng sông lớn là Hoàng Long và Nhị Hà ra thì ở Hoa Lư còn có dòng Sào Khê chạy ngoằn ngoèo uốn lượn bên trong về phía đông Kinh Thành; Còn Thăng Long có dòng Tô lịch ở về phía Tây Kinh Thành.

Dòng Hoàng Long, Nhị Hà cũng như dòng Sào Khê, Tô Lịch là những tuyến đường giao thông thủy đã diễn ra các sự kiện lịch sử quan trọng trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước, mở mang phát triển quốc gia dân tộc dưới triều Đinh và triều Lý sau đó mà sử sách ghi chép cũng như dân gian lưu truyền.

Cuộc dời đô lịch sử của vua Lý Thái Tổ vào năm Canh Tuất (1010) từ sông Hoàng Long ra tới sông Nhị Hà để về thành Đại La (Thăng Long). Còn ở Thăng Long, các vua nhà Lý thường chèo thuyền trên dòng sông Tô Lịch mang nhiều huyền tích ngắm cảnh đất trời sông nước La Thành-Thăng Long nên thơ và ngoạn mục.

Ở khu cố đô Hoa Lư khai quật khảo cổ học đã tìm thấy khu mộ Hán cạnh chùa Bà Ngô thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa lư, tỉnh Ninh Bình bên dòng sông Hoàng Long. Do đó có thể nêu lên một nhận định dựa trên cơ sở xác thực là nơi đây hẳn là trụ sở của Trường Châu thời nhà Đường, vì theo sách Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh thì đất Ninh Bình thời Đường thuộc về Trường Châu; Còn ở Thăng Long Hà Nội vốn là Thành Đại La do Cao Biền xây đúng như sử sách ghi chép.

Ở Hoa Lư và Thăng Long Hà Nội cơ sở hạ tầng xã hội khá thuận lợi để giao thông buôn bán phát triển kinh tế. Hệ thống giao thông mà chủ yếu là các tuyến đường thủy từ các trung tâm Hoa Lư Thăng Long tỏa đi các nơi trong nước lúc đương thời.

Từ Hoa Lư theo dòng Hồng Long xuôi ra sông Đáy tại ngã ba Gián Khẩu xuống Non Nước Vân Sàng sang sông Vạc để ra biển Đông và vào Châu Hoan Ái theo tuyến kênh nhà Lê do Lê Đại Hành đào; Ngược lên phía Bắc vào sông Châu ra sông Hồng… Sử sách ghi chép cho biết Hoa Lư nhộn nhịp cảnh trên bến dưới thuyền. Thương lái các nước lân bang lúc bấy giờ theo đường thủy cập bến Hồng Giang mang hàng hóa là vải lụa, gấm vóc trao đổi bán buôn tấp nập. Còn ở Kinh thành Thăng Long là nơi hội họp của bốn phương là trung tâm của đất nước, nơi đông người nhiều của thương thuyền các nước lúc bấy giờ đến trao đổi hàng hóa buôn bán đông vui, tấp nập mà dân gian còn lưu truyền “Thứ nhất Kinh Kỳ, Thứ nhì Phố Hiến”.

Về cấu trúc của Kinh thành thì cả Hoa Lư thời Đinh-Tiền Lê và Thăng Long thời Lý đều có những nét tương đồng, đều có hai vòng thành mà sử sách ghi chép cũng như hiện còn lưu giữ những dấu tích:

Thành Hoa Lư gồm có thành nội và thành ngoại. Giữa thành Nội và thành Ngoại không lồng vào nhau theo vị trí trong ngoài mà gần như là song song với nhau, ngăn cách nhau bằng dãy núi Phi Vân, nối thông với nhau bởi một quèn gọi là Quèn Vông vì trên quèn đó có rất nhiều cây lá vông mọc xanh tốt um tùm.

Cả thành nội và thành ngoại của thành Hoa Lư đều có hai vòng Thành. Ở khu thành ngoại, vòng thành bên ngoài giống như thành Thăng Long là tường thành phía đông nối từ núi Dãng Sang núi Thanh Lâu sang núi Cột Cờ. Tường thành phía Bắc nối từ núi Cột Cờ sang núi Chẽ và từ núi Chẽ sang núi Chợ. Ở phía đông có dãy núi Hang Quần; phía Tây có dãy núi Phi Vân chắn giữ; phía Nam có quèn Thụ Mộc như một tường thành.

Như vậy, thành ngoài bao gồm cả cánh đồng Hậu Đường chạy đến Hang Luồn (Xuyên Thủy Động) và quèn Thụ Mộc. Vòng thành ngoài vừa là chiến lũy khi có chiến sự xảy ra, lại vừa là đề phòng nước lũ lụt của sông Hồng Long, giống như La Thành Thăng Long vậy.

Ở khu thành nội thành Hoa Lư vòng thành bên ngoài từ núi Cánh Hàn sang núi Nghẽn về phía bắc; còn ở phía đông cũng chung với dãy núi Phi Vân của thành ngoài; phía tây có dãy núi Chùa Thủ chắn giữ; phía nam là núi đá bao bọc không cần phải dùng tường thành.

Vòng thành trong thành nội Thành Hoa Lư thời Đinh-Tiền lê giống như Cung Thành, Cấm Thành của Thành Thăng Long thời Lý. Năm Kỷ Tỵ (1029) Thành Thăng Long xây dựng thêm Long Thành ở trong cùng.

Thành Thăng Long thời Lý được các nhà nghiên cứu xác định là thành của Cao Biền. Vòng Thành ngoài đến nay vẫn còn dấu tích đó là địa danh La Thành. Các tường Thành này đều được đắp bằng đất và dựa vào địa thế tự nhiên mà đào đắp. Các cửa Thành chỉ là những khuyết của tường Thành mà không xây đắp cổng hay lầu cổng (Môn Lâu), như các tòa ô thành ở đời sau (giống như lối đi đặc biệt ở phía đông bắc thành Hoa Lư được phát hiện trong đợt khai quật khảo cổ học năm 1970).

Như vậy, về cấu trúc Thành Hoa Lư và Thành Thăng Long có những nét giống nhau là đều có hai vòng Thành, đều không xây dựng các cổng ra vào (Môn Lâu) như các tòa thành đời sau này; chỉ khác nhau ở chỗ: Thành Hoa Lư dựa vào thế núi non hiểm trở mà xây dựng tường thành, còn ở Thành Thăng Long tường thành chủ yếu xây đắp bằng đất.

Về kiến trúc cung điện thì ở Thành Hoa Lư và Thành Thăng Long đều có những điểm giống nhau là các cung điện đều quy tụ về tâm điểm và đối xứng nhau qua tâm điểm.

Năm Giáp Thân (984) Vua Lê Đại Hành cho xây dựng nhiều cung điện cột dát vàng dát bạc khá lộng lẫy như: Điện Bách Bảo Thiên Tuế ở giữa; Các điện Phong Lưu, Cực Lạc, Tử Hoa; Bồng Lai đối xứng nhau ở hai bên đông tây tả hữu; Còn ở Thành Thăng Long năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) Lý Thái Tổ cho xây dựng điện Càn Nguyên ở giữa; Các điện Tập Hiền, Giảng Vũ, Nhật Quang, Nguyệt Minh đối xứng nhau ở hai bên tả hữu.

Các mô típ hoa văn trang trí trên vật liệu xây dựng kiến trúc cung điện đồ dùng trong sinh hoạt cũng có những nét tương đồng thật đáng trân trọng.

Những viên gạch trang trí hoa văn hình hoa sen ở Thành Hoa Lư là cơ sở để các nghệ nhân dân gian thời Lý phát triển với những họa tiết trang trí phong phú hơn, thành những viên gạch có hoa văn hay trang trí  hình hoa sen, hoa cúc khá rực rỡ. Những con vịt bằng đất nung phát hiện ở Thành Hoa Lư là hình mẫu để các nghệ sĩ tạo hình thời Lý tạo nên những con vịt đất nung nhìn tươi tắn, mịn màng, xinh đẹp. Một số bát, đĩa, bình gốm ở Hoa Lư cũng là những khuôn mẫu dáng hình để các nghệ nhân dân gian thời Lý chế tác ra các đồ dùng gốm bát, đĩa, bình, lọ, liễn, chậu… được pha lên lớp men ngọc trắng ngà thật là tinh tế và đẹp mắt.

Ngày nay ở Hoa Lư-Thăng Long Hà Nội còn lưu giữ những địa danh mang đậm dấu ấn lịch sử văn hóa truyền thống đất quốc đô như: Tháp Báo Thiên; Chùa Nhất Trụ-Chùa Một Cột; Chùa Bà Ngô; Chùa Am; Đình Ngang; Cầu Đông; Cầu Dền; Cột Cờ; Đông Môn; Tràng Tiền; Ngã ba Bồ Đề; Cống Chẹn…

Những địa danh lịch sử văn hóa truyền thống trên đã gợi lên bóng dáng của Thành cổ Hoa Lư ở đất Kinh thành Thăng Long mang những nét tương đồng, là chứng tích của sự kiện lịch sử trọng đại trong cuộc dời đô của vua Lý Thái Tổ từ Hoa Lư ra Thành Đại La-Thăng Long Hà Nội đã ngàn năm qua.

Hoa Lư-Thăng Long Hà Nội có những nét tương đồng về vị trí địa lý; hành chính; kinh tế lịch sử văn hóa và địa danh… là những minh chứng mang các giá trị, ý nghĩa lịch sử văn hóa như là sự nối tiếp truyền thống dựng đặt đất Quốc Đô thời thống nhất, độc lập, tự chủ triều Đinh-Tiền Lê; xây dựng phát triển quốc gia dân tộc Đại Việt thời Lý và các đời tiếp theo với Thăng Long-Hà Nội to đẹp hơn, bề thế hơn; Là nơi hội tụ của mọi miền đất nước; Là nơi chung đúc vương khí của núi sông, anh linh của đất trời; Dung hòa giữa tinh hoa văn hóa dân gian truyền thống với văn hóa cung đình lung linh tỏa sáng muôn sắc màu rực rỡ, trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước, xây dựng phát triển quốc gia dân tộc Đại Việt.  
 
                                                                                                Nguồn tin: Theo Nguoihanoi.com.vn

---------------------------------------------
 
Phồn hoa thứ nhất Long Thành  

Thời xa xưa, Thăng Long phần lớn chỉ có thành quách, cung điện, xung quanh là đền đài, chợ búa, làng xóm. Thời vua Lê chúa Trịnh, sử chép có những khu phố tranh tre cháy vèo cái là xong.


Còn lại là những kiến trúc bền vững của cung đình, hoàng tộc, nhưng thời thế thay đổi là cái xây sau lại đè lên cái trước. Thành tựu khảo cổ Hoàng thành đã chứng minh những điểm nhấn huy hoàng. Nhưng cái còn lại, mang dấu ấn kiến trúc kẻ chợ – đô thị chỉ có thể rõ nét từ thế kỷ XIX, qua thế kỷ XX rồi XXI. Vậy là mang trên mình 3 thế kỷ, dù tính chi ly ra chỉ tròm trèm hai trăm năm.

Khi lên ngôi, nhà Nguyễn dời đô vào Phú Xuân (Huế). Mặc dù không phải là kinh đô, Hà Nội vẫn có sức sản xuất khá lớn từ các nghề thủ công, với đủ loại sản phẩm. Kinh tế hàng hóa phát triển, nguồn thu lợi của đất Kẻ Chợ càng lớn. Nhà bằng gạch nhiều hơn, kể cả nhà hai tầng, đường phố lát gạch, lát đá. Chaigneau, một sỹ quan Pháp từng giúp vua Gia Long dựng nghiệp đã cho rằng: “Trước thế kỷ XIX Thăng Long là một trong những thành phố đẹp nhất châu Á”. Ca dao thế kỷ XIX cũng ghi:

“Phồn hoa thứ nhất Long Thành/Phố dăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ”

Thành thị hình thành đan xen phố xá và xóm làng. Phố buôn bán có nhiều nhà gạch. Sau mặt phố, thôn xóm với nhà tranh vẫn chiếm phần nhiều, xếp đặt chưa thành hàng lối rõ rệt. Hình dáng nhà đơn giản, mái làm thẳng tuột một mạch từ đòn giông đến mái hiên, vì vậy nóc rất cao, nhưng mái hiên chỉ cách mặt đất 4,5 thước (1 thước = 0,40m). Thế nên nhà có phần tối, phải trổ cửa sổ, không có bàn ghế, trải chiếu cói ngay trên nền đất. Cũng có nhà khá giả lợp ngói hình vẩy cá, cạnh giường nghỉ có lò than sưởi ấm và tránh hơi ẩm. Luật Gia Long (1802 -1819) hà khắc ghi rõ: “Nhà ở không được xây trên nền 2 cấp hay chồng 2 mái, không được sơn và trang trí, không quá 3 gian, 5 vì kèo”.

Nhìn chung kết cấu cơ bản là bộ khung gỗ truyền thống nhiều thế kỷ, như sợi chỉ đỏ thống nhất, hình thành kiểu nhà ống, bề rộng mặt phố chỉ vài ba mét nhưng chiều dài thì rất sâu, dăm bảy chục mét. Chạy từ phố này sang phố khác nên chúng được phân đoạn bằng nhiều sân nhỏ để thông thoáng và chiếu sáng. Không gian kiến trúc độc đáo này được mang tên khu phố cổ Ba sáu phố phường, đang được thế giới đương đại quan tâm.

Năm 1873, thực dân Pháp tấn công Hà Nội, đến năm 1882 thì hoàn thành công cuộc chiếm đóng. Hà Nội tuy không phải là kinh đô nhưng là trung tâm của cả ba xứ Đông Dương là Việt Nam, Cam-pu-chia, Lào. Quy mô xây dựng mới bắt đầu từ 1888, với quy hoạch theo kiểu châu Âu. Đường phố thẳng tắp, rộng, hai bên có vỉa hè, sông, hồ, ao, đầm lấp đi. Ngôi thành bị phá. Làng xóm di chuyển theo quy hoạch mới. Nhiều công trình, chủ yếu phục vụ cho bộ máy thống trị và khai thác thuộc địa, mang phong cách kiến trúc phương Tây mọc lên, làm thay đổi nhanh bộ mặt kiến trúc Hà Nội. Phong phú hơn hẳn.

Những công trình cho quân đội, công thự chính quyền, nhà công vụ, hãng buôn, kinh doanh xây rất đa dạng. Phong cách Hy Lạp, La Mã cổ đại, cổ điển châu Âu đua chen với nhiều kiểu dáng, nổi bật là hệ thống cột. Barốc, Toscan, Yonich, Corintien, Roman, Gotich đủ cả. Nổi lên là Nhà thờ Lớn, Nhà hát Lớn, Phủ Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch), Phủ Thống sứ (nay là Bộ LĐ-TB&XH). Tường dày vững chắc, hành lang rộng, vòm cuốn nhọn hoặc bán nguyệt, mái Mansard cao, dốc đứng… thể hiện vẻ đẹp trang nghiêm và bền vững. Tiếp đó trào lưu Môđéc, lúc đó đang lan tỏa ở châu Âu, cũng tạo cho Hà Nội bộ mặt mới mẻ. Hiện nay, dấu vết kiến trúc này còn nhiều ở phố Tràng Tiền, một số biệt thự đường Lý Thường Kiệt. Đáng chú ý nhất là nhà Ngân hàng Đông Dương (nay là Ngân hàng Quốc gia) bề thế, đĩnh đạc, hoành tráng nhưng không sa đà vào hệ thức chi tiết rườm rà cổ điển. Mảng biệt thự – hầu hết của người Pháp – rất đa dạng. Họ đưa vào những nét quen thuộc của nhiều vùng quê đất Pháp: mái dốc lớn, có ống khói lò sưởi.

Nhiều kiến trúc sư (KTS) Pháp sau một thời gian thâm nhập Việt Nam đã khai thác văn hóa bản địa, sáng tạo phong cách kiến trúc Đông Dương, đậm đà nhiều nét Á Đông. Mái dốc, có đao, có kè, có bảy, mảng trang trí chữ triện, nhiều mái ngói nhỏ lô xô liên kết với nhau. Phong cách này có thể thấy ở các trụ sở Bảo tàng Lịch sử, Tổng cục TDTT, báo Văn nghệ Quân đội, bốn tòa nhà 2 tầng có mái cong ở Đại học Bách khoa…

Tổng thể công trình này được dư luận thế giới đánh giá cao, được coi là phong phú kiến trúc Pháp nhất ở vùng châu Á, có giá trị nghệ thuật cao và bền vững. Nhiều chuyên gia nước ngoài đã đến nghiên cứu với những đề xuất giải pháp bảo tồn di sản.

Hầu hết những công trình lớn, tiêu biểu của giai đoạn kiến trúc này là của tác giả người Pháp. Trong thời kỳ này cũng xuất hiện một số công trình mà các KTS Việt Nam làm, với xu hướng tìm về bản sắc dân tộc, khai thác những tinh hoa truyền thống.
 

Sau năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, Hà Nội bước vào đợt khôi phục kinh tế. Tiếp đó là kế hoạch 5 năm xây dựng CNXH. Thiếu thốn đủ thứ, khó khăn chồng chất. Thế hệ KTS đầu tiên được đào tạo tại Trường Mỹ thuật Đông Dương với trợ thủ – một số KTS  trẻ được đào tạo từ nước ngoài trở về đã tạo dựng một kiểu dáng kiến trúc đặc thù. Họ chịu ảnh hưởng cổ điển Hy Lạp, La Mã nhưng không lặp lại các hệ thống cột với nhiều chi tiết trang trí. Vẻ hoành tráng ở bố cục đối xứng, phân vị ngang dọc rõ ràng, tạo ấn tượng về một cái đẹp giản dị, vững chắc, tiết kiệm. Có người đánh giá đây là phong cách “Tân cổ điển Việt Nam”. Các công trình tiêu biểu của giai đoạn này là Trường Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh), trụ sở Bộ Xây dựng, các trường ĐH Thủy lợi, Nông nghiệp, Ngoại ngữ, Tổng cục Thống kê. Và không thể không nhắc đến Hội trường Ba Đình (nay đã phá dỡ để xây nhà Quốc hội mới).

Do chính sách kinh tế, quản lý xã hội, hầu như mảng xây dựng tư nhân không tồn tại. Nổi lên trong xây dựng nhà ở là tổ chức điểm dân cư đô thị, có thể gọi là theo phong cách hiện đại. Các khu tập thể Kim Liên, Nguyễn Công Trứ, Giảng Võ… ra đời thời kỳ này, đến nay bộc lộ nhiều bất tiện nhưng lại là ước mơ với cư dân ngày ấy.

Cuối thế kỷ XX, bước vào thế kỷ XXI, Hà Nội cựa mình, vươn lên mạnh mẽ. Nhà không chỉ 4, 5 tầng đơn điệu mà vút, chọc
lên trời, bên dưới lại khoét sâu vào lòng đất cả vài ba tầng hầm. Những khu nhà được tổ chức liên kết với không gian đô thị. Những tổng thể xây dựng mang dáng dấp hiện đại, nổi lên hình hộp với nhiều mảng kính. Được xếp hạng kiểu mẫu là khu đô thị Linh Đàm với cây xanh mặt nước. Có phần xa lạ là khu Ciputra, The Manor.

Đó là những thành tựu kiến trúc Hà Nội qua một thời kỳ lịch sử. Nhưng cũng nên điểm qua vài nét lệch lạc, “tồn tại” của nó. Ảnh hưởng của kiến trúc châu Âu vẫn nặng nề, những chi tiết rối rắm tràn lan trên các mặt nhà, chồng chất lên những khoảng không gian chật hẹp, các căn nhà chia lô, các biệt thự nhỏ. Cái chóp của Nhà hát Lớn được sao chép ở công thự quốc gia và cả nhà tư nhân. Người ta quảng cáo “theo phong cách châu Âu”, mà không chịu tìm tòi phong cách Việt Nam, nhiệt đới mặc dầu chủ trương “đậm đà bản sắc dân tộc” luôn luôn được nhắc tới.

Đó đây, ở những cảnh quan thuận lợi, người ta đã dựng lên nếp nhà sàn vận chuyển từ miền núi về và những lều, quán nhỏ, lợp lá… Dầu sao, chúng đã góp phần làm mềm mại cái khô cứng bê tông.

Trải qua những tháng năm phong kiến kìm hãm và chiến tranh, kiến trúc Việt Nam đang vươn lên dáng đứng mới. Chưa phải đã hiện đại so với bạn bè khu vực, chưa phải đã tạo dựng được đặc thù Việt Nam, nhưng rõ ràng giới kiến trúc, với nhiều hội thảo, bàn bạc đang đưa kiến trúc Hà Nội vào con đường tự nhiên phải đi. Một điểm đáng mừng nữa là quy hoạch xây dựng thời đổi mới đang mở ra triển vọng cho nghệ thuật kiến trúc Thủ đô, để nó ngày càng làm đẹp lòng mọi người.

                                                                                                                Theo HNM
 -------------------------------------------------------
 
Định đô Thăng Long – bước trưởng thành vượt bậc của dân tộc

Sự kiện Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long, xét trên mọi chiều cạnh, phản ánh một bước trưởng thành vượt bậc của dân tộc Việt.

 
Thăng Long - Hà Nội hội đủ những điều kiện căn bản để trở thành kinh đô - trung tâm quốc gia.

Vương triều Lý đã mở đầu một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của quốc gia người Việt, của một “thời đại Lý - Trần” vàng son trong lịch sử Việt Nam.

Trưởng thành về lực lượng

Năm 905 Khúc Thừa Dụ xưng nền tự chủ - mở đầu một thế kỷ quá độ - bản lề của lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, đó mới chỉ là mốc khởi đầu. Với hai nội dung cơ bản là độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia, thế kỷ X là thế kỷ của cuộc đấu tranh không ngừng của cha ông ta để thực hiện các mục tiêu đó.  

Thứ nhất, bao trùm hơn cả là cuộc đấu tranh giành, giữ và khẳng định nền độc lập dân tộc. Với họ Khúc, họ Dương (905 - 937) - nền tự chủ đã được khôi phục, nhưng phải đến chiến thắng Bạch Đằng (938) nền độc lập của người Việt mới được xác lập đầy đủ, cả trên thực tế, cả trên danh nghĩa, và phải đến chiến thắng chống Tống lần thứ nhất (981), nền độc lập đó mới được khẳng định một cách mạnh mẽ.

Đánh bại nhà Tống - một đế chế đã thống nhất Trung Quốc và đang trên đường hùng mạnh - là thắng lợi vĩ đại của cha ông ta, nó chứng tỏ sự lớn mạnh vượt bậc về lực lượng của người Việt trên mọi phương diện và khẳng định vững chắc chủ quyền, nền độc lập của dân tộc.   

Thứ hai, đây cũng là thế kỷ của cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng tập quyền thống nhất và phân tán cát cứ. Đỉnh điểm của xu hướng phân tán cát cứ là cục diện mười hai sứ quân xuất hiện sau khi Ngô Quyền mất (944), chính quyền trung ương nhà Ngô suy yếu và tan rã (965). Đó là một bất lợi lớn ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của đất nước, đến nền độc lập vừa mới giành lại được. Đinh Bộ Lĩnh cờ lau dẹp loạn, lần lượt đánh dẹp các sứ quân, thống nhất đất nước, khôi phục chính quyền trung ương đánh dấu một thành tựu, một bước trưởng thành trên “con đường dân tộc” của dân tộc Việt Nam, khẳng định sự thắng thế của yêu cầu và xu hướng tập quyền và thống nhất đất nước.  

Thứ ba, dù phải tập trung cao độ nỗ lực vào việc thực hiện các nhiệm vụ trên, nhưng thế kỷ X cũng là thế kỷ bước đầu của công cuộc dựng xây đất nước. Thể chế nhà nước từng bước được xây dựng quy củ. Kinh tế có bước tiến nhất định, với nhiều sông ngòi được khai thông, đường sá được mở mang, vua đi cày ruộng tịch điền (Lê Hoàn) để khuyến khích chăm lo nông nghiệp… Về văn hoá, bên cạnh phần lớn bình dân – dân giã – dân gian, ngày càng đông đảo tầng lớp sư tăng – trí thức uyên bác và lịch lãm…  

Tóm lại, thế kỷ X với quá nhiều các hoạt động quân sự để giành và giữ nền độc lập dân tộc, để khắc phục khuynh hướng phân tán cát cứ đã kết thúc với sự khẳng định vững chắc nền độc lập dân tộc, với sự thắng thế của xu hướng tập quyền và thống nhất quốc gia. Nó là bằng chứng về bước trưởng thành vượt bậc của lực lượng dân tộc, làm tiền đề cho cuộc bứt phá vĩ đại, mà sự kiện dời đô vừa như một biểu hiện, vừa như một mốc mở đầu.

Trưởng thành về nhận thức

Xét trên nhiều ý nghĩa, Thăng Long - Hà Nội hội đủ những điều kiện căn bản để trở thành kinh đô - trung tâm quốc gia. Vùng đất này ở vào vị trí “trung tâm” đất nước, trung tâm châu thổ sông Hồng, điều kiện tự nhiên thuận lợi, đủ thế mạnh để hội tụ và lan toả. Có lẽ vì thế, một cách “tự nhiên”, từ rất sớm những lợi thế này đã được phát hiện.

Bằng chứng là, sau kháng chiến chống Lương thắng lợi năm 542, Lý Bí – Lý  Nam Đế đã chọn vùng trung tâm Hà Nội ngày nay để đặt thủ phủ, dựng thành luỹ, mở chùa Khai Quốc - tiền thân của chùa Trấn Quốc ngày nay. Nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng, có thể coi Lý Bí là người Việt đầu tiên đã nhận ra vị trí trung tâm đất nước của Thăng Long- Hà Nội.

Tiếp đấy, đến thời các chính quyền đô hộ Trung Hoa Tùy và Đường, cũng đã chọn nơi đây làm thủ phủ. Dường như đặc tính “đất đế vương” của Thăng Long - Hà Nội là một cái gì đó tự nhiên, dễ nhận thấy và đã được nhận thấy từ rất sớm. Việc Lý Công Uẩn dời đô ra thành Đại La có thể coi là sự tiếp nối của nhận thức đó.

Nhưng khác với trước đó, đây là lần đầu tiên, nhận thức đó được “tuyên ngôn” với những phân tích toàn diện – phản ánh một tư duy khoa học đáng kinh ngạc của Lý Công Uẩn về vị thế của Thăng Long – Hà Nội qua “Chiếu dời đô”: “Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi mãi muôn đời…”.

Từ cảm nhận tự nhiên (Lý Bí) đến nhận thức khoa học (Lý Công Uẩn) là một bước tiến, bước trưởng thành quan trọng của người Việt Nam trong nhận thức về vị thế của vùng đất Thăng Long- Hà Nội này.

Trưởng thành về tư duy quản lý đất nước


Cố đô Hoa Lư

Đó là tư duy cầm quyền dựa trên quan điểm phát triển, lấy phát triển để tạo ra khả năng phòng thủ. Kinh đô – thủ đô là trung tâm quyền lực của đất nước, là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia. Vấn đề ở đây là phải giải bài toán giữa mục tiêu  đảm bảo an ninh với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá. Có khi phải hy sinh cái này để đảm bảo cái kia và ngược lại.

Trên một ý nghĩa nhất định, hai nhà Đinh – Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư là sự lựa chọn ưu tiên cho mục tiêu an ninh, vì Hoa Lư ở vào địa thế hiểm yếu, khả năng phòng thủ tốt. Trong điều kiện một chính quyền - nhất là chính quyền trung ương chưa thực sự vững mạnh, nguy cơ xâm lăng từ phương Bắc và sự trỗi dậy của các thế lực cát cứ luôn tiềm ẩn thì việc chọn Hoa Lư làm kinh đô của hai nhà Đinh và Tiền Lê có thể coi là hợp lý. Nhưng Hoa Lư không thuận lợi về vị trí, về điều kiện tự nhiên để phát triển thành trung tâm kinh tế, văn hoá số một của đất nước. Vì thế, lựa chọn này, trên một ý nghĩa nhất định, có thế xem là sự “hy sinh” phát triển để đáp ứng yêu cầu an ninh.

Còn Thăng Long – Hà Nội, với vị trí ấy, điều kiện tự nhiên và lịch sử ấy tập trung rất nhiều lợi thế để phát triển thành trung tâm chính trị, hành chính, văn hoá số một của đất nước. Nhưng Thăng Long – Hà Nội lại cũng có hạn chế lớn, là ở vào nơi rất trống trải giữa vùng đồng bằng, khả năng phòng thủ kém. Chọn Thăng Long làm kinh đô là để phát triển mạnh mẽ đất nước, không phải là sự đánh đổi - hy sinh yếu tố an ninh để phát triển, mà là lấy phát triển để tạo ra khả năng quốc phòng, để đảm bảo an ninh.      

Trưởng thành về trách nhiệm

Một thực tế phải thừa nhận là, sự ra đời của vương triều Lý, định đô Thăng Long - mốc mở đầu cho thời kỳ phát triển rực rỡ của quốc gia Đại Cồ Việt - Đại Việt, là dựa trên những tiền đề được tạo ra trong suốt một thế kỷ nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi của cha ông ta. Lý Công Uẩn dời đô là dựa trên cơ sở của những thành tựu, của sự lớn mạnh lực lượng dân tộc ấy kết hợp với nhận thức sáng suốt về vị thế của vùng đất này và tư duy cầm quyền - quản lý đất nước khoa học của ông và rộng ra là của người Việt Nam lúc này.

Nhưng còn một khía cạnh nữa để góp thành một nhân tố làm nên sự kiện lịch sử lớn lao này - đó là trách nhiệm của Lý Công Uẩn, cũng như cả triều đình Hoa Lư bấy giờ trước sự hưng thịnh của đất nước.

Trách nhiệm đó thể hiện ở sự trăn trở của Lý Công Uẩn trước quyết định dời đô, ở sự sẵn sàng trước những bất lợi của vùng đất thành Đại La. Trong “Chiếu dời đô” chỉ thấy Lý Công Uẩn phân tích về những lợi thế của thành Đại La mà không thấy nhắc đến những hạn chế của vùng đất này. Nhưng điều đó không có nghĩa là Lý Công Uẩn và triều đình Hoa Lư không thấy được những điểm yếu của nơi đây. Nhưng Lý Công Uẩn và triều đình do ông đứng đầu đã không theo cách của hai nhà Đinh – Lê mà gia cố Hoa Lư hay về quê Cổ Pháp đóng đô.Quyết định ra thành Đại La “ở giữa khu vực trời đất”, Lý Công Uẩn đã không “theo ý riêng”, chấp nhận “mạo hiểm” để “tính kế” cho muôn đời con cháu mai sau. Đó là một tinh thần trách nhiệm nghiêm túc trước xã tắc, trước vận hội phát triển của đất nước đành rằng việc dời đô là dựa trên sự chuẩn bị về lực lượng của cả thế kỷ X, là thể hiện sự tự tin vào sự trưởng thành của Đại Cồ Việt của Lý Công Uẩn.

Nhà Lý ra đời và dời đô ra Thăng Long đã chính thức khép lại một thế kỷ với dồn dập những sự kiện quân sự, với sự thay đổi liên tục các dòng họ - triều đại cầm quyền, với sự “loay hoay” của cha ông ta trong dựng đặt kinh thành - để mở đầu một thời kỳ mới phát triển rực rỡ của quốc gia dân tộc - của kỷ nguyên Đại Việt, văn hoá Thăng Long. Nó phản ánh bước tiến lớn, bước trưởng thành vượt bậc của người Việt về lực lượng, về nhận thức, về tư duy quản lý đất nước và về trách nhiệm trước vận hội đi lên của đất nước trên con đường phục hưng và phát triển.

                                                            PGS.TS Vũ Văn Quân
                                                            (Đại học Quốc gia Hà Nội)

---------------------------------------------------------------

Cổ Loa - Kinh đô của người Việt cổ

Loa Thành là di sản văn hóa, là bằng chứng về sự sáng tạo và trình độ của người Việt lúc bấy giờ. Đối với người dân nơi đây, ngày nay Cổ Loa vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và sinh hoạt văn hóa.

Cổ Loa - tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ rất cần được tiếp tục bảo tồn, tôn tạo để nơi đây trở thành địa chỉ du lịch hấp dẫn.

Kinh đô của người Việt cổ

Khu di tích Cổ Loa cách trung tâm Hà Nội 17km thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội, có diện tích bảo tồn gần 500ha được coi là địa chỉ văn hóa đặc biệt của thủ đô và cả nước. Cổ Loa có hàng loạt di chỉ khảo cổ học đã được phát hiện, phản ánh quá trình phát triển liên tục của dân tộc ta từ sơ khai qua các thời kỳ đồ đồng, đồ đá và đồ sắt mà đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn, vẫn được coi là nền văn minh sông Hồng thời kỳ tiền sử của dân tộc Việt Nam.

Cổ Loa từng là kinh đô của nhà nước Âu Lạc thời kỳ An Dương Vương (thế kỷ III TCN) và của nước Đại Việt thời Ngô Quyền (thế kỷ X) mà thành Cổ Loa là một di tích còn lại cho đến ngày nay. Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là “tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ”.

Do những đặc điểm kiến trúc đặc biệt và độc đáo, công trình được gọi là Cổ Loa. Tương truyền thành gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng căn cứ trên dấu tích hiện còn, các nhà khoa học nhận thấy thành có 3 vòng, trong đó vòng thành nội rất có thể được làm về sau, thời Ngô Quyền. Chu vi ngoài 8km, vòng giữa 6,5km, vòng trong 1,6km, diện tích trung tâm lên tới 2km². Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu lũy xây đến đó.

Đến khu di tích Loa Thành, du khách cảm nhận được cảnh quan thiên nhiên khoáng đạt của làng quê Việt với hào nước, sông ngòi, gò đống. Khu vực thành nội có nhiều di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật như khu đền Thượng thờ An Dương Vương, đình Ngự Triều, am thờ Mỵ Châu và chùa Bảo Sơn.

Đền thờ An Dương Vương (còn gọi là đền Thượng) ở trên một quả đồi tương truyền là cung thất của nhà vua. Ngay trước đền thờ là một hồ nước hình bán nguyệt, giữa là giếng Ngọc – gắn liền với truyền thuyết về mối tình Mỵ Châu - Trọng Thủy.

Đền thờ An Dương Vương gồm nhiều cửa, đi vào khu vực chính là điện thờ vua, nằm phía trong hai bên là thờ Hoàng hậu và thờ Mẫu. Đình Ngự Triều được xây dựng trên nền điện thiết triều cũ, năm 1907 thời Nguyễn. Đình có dáng vóc vững chãi, bề thế, mái đao vút cong. Tại đây trưng bày nhiều di tích khảo cổ có giá trị quan trọng.

Có một nơi mà du khách không thể bỏ qua khi đến Loa Thành đó là am thờ Mỵ Châu. Đây chỉ là một am nhỏ, nằm u tịch dưới gốc đa. Trong căn phòng nhỏ phía sau có tượng công chúa Mỵ Châu – một khối đá tự nhiên hình người không đầu. Truyền thuyết kể rằng xác Mỵ Châu sau khi bị vua cha chặt đầu đã hóa thành đá và trôi về bãi Đường Cấm,  phía Đông thành Cổ Loa. Dân trong thành thương cảm đem võng ra cáng bức tượng đá không đầu về đến gốc đa thì đứt võng. Người dân bèn lập am thờ Mỵ Châu ngay tại nơi tượng đá rơi xuống…

Để Loa Thành là địa chỉ thu hút du khách

Loa Thành là di sản văn hóa, là bằng chứng về sự sáng tạo và trình độ của người Việt lúc bấy giờ. Đối với người dân nơi đây, ngày nay Cổ Loa vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và sinh hoạt văn hóa.

Dân gian có câu: “Thứ nhất lễ hội Cổ Loa/Thứ hai hội Gióng, thứ ba hội Chèm”.  Bắt đầu từ năm 1961, Lễ hội Cổ Loa được tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng âm lịch, tương truyền là ngày An Dương Vương lên ngôi hoàng đế. Lễ hội là dịp để người dân địa phương nói riêng và người dân trên cả nước nói chung tưởng nhớ công lao của vị vua đầu tiên của nước Âu Lạc.

Tuy nhiên, ngoài dịp lễ hội, những ngày khác ở Khu di tích Cổ Loa thường vắng lặng một cách đáng buồn. Chị Chu Minh Nương, cán bộ thuyết minh của Trung tâm Bảo tồn Khu di tích Cổ Loa - Thành cổ Hà Nội cho biết lượng khách đến Cổ Loa chủ yếu là trong nước, khách nước ngoài không nhiều. Các tua du lịch cũng thường chỉ ghé qua trong thời gian rất ngắn nên các dịch vụ ăn uống tại đây chưa phong phú, dịch vụ nghỉ qua đêm chưa có.

Do thời gian ghé thăm ít ỏi nên khách du lịch thường không kịp nghe thuyết minh và tham quan, tìm hiểu kỹ về Khu di tích. Vì thế, tuy đã đến Cổ Loa nhưng du khách vẫn khó có thể hình dung ra bức tranh toàn cảnh của thành cổ.

Theo chị Nương, khách du lịch đến tham quan Cổ Loa cần phải có thời gian lắng nghe thuyết minh, quan sát và đi thực địa kết hợp với sự hình dung thì mới có thể thưởng ngoạn được hết toàn bộ Di tích thành Cổ Loa cũng như ý nghĩa lịch sử của thành cổ.

Cụ Chu Văn Trinh, người đã có 40 năm làm công tác bảo tồn nơi đây cho biết, việc bảo vệ Cổ Loa thành cách đây 50 năm đã được thực hiện khá nghiêm túc. Bởi nơi đây có đất sét rất tốt, (cũng chính là vật liệu đã đắp nên Loa thành) nên người dân địa phương hay khai thác về để làm ông đầu rau. Đêm đêm, có nhiều người thường đi đào trộm đất sét ở thành Cổ Loa về đắp bếp. Thành cổ vì thế mà cứ dần mai một. Thời ấy, các chức sắc trong vùng đã ý thức phải bảo vệ dấu tích của lịch sử. Việc bảo vệ thành Cổ Loa  được cắt đặt khá nghiêm ngặt. Cả vùng có 12 xóm, mỗi xóm được phân công phụ trách một khu vực của Loa thành. Lý trưởng (của xóm Nhồi khi ấy) phân công rõ ràng, 30 suất đinh được cử ra để chuyên đi tuần bảo vệ thành. Nếu bắt được những trường hợp phá thành, ăn trộm đất sét thì phạt rất nặng.

Cụ Trinh cũng cho biết thêm, di tích thành Cổ Loa so với ngày xưa đã bị xuống cấp nhiều, do thời gian, do bom đạn Mỹ. Toàn bộ hệ thống thành cũ (vòng nội thành) đã mai một gần hết, vòng 2 (8.600m) còn đủ nhưng vòng 3 đã mất 1,5km. Đó còn chưa kể có nhiều hộ dân còn sinh sống ngay trong khu di tích Loa thành. Các di tích còn lại như đền, đình Cổ Loa đã được bảo tồn, trùng tu và phục chế lại những phần bị hư hỏng hay xuống cấp. Tuy nhiên, sau nhiều năm, chúng ta vẫn chưa có một chính sách duy trì vào bảo tồn xứng đáng với tầm vóc của di tích.

Hiện tại, Khu di tích Cổ Loa đã được UBND TP đầu tư để phục vụ công tác bảo tồn. Tuy nhiên vấn đề cần giải quyết hiện nay là di dời hàng trăm hộ dân đang ở xâm lấn, xen kẽ rất nhiều trong Cổ Loa thành. Hiện tại, thành nội đang “bao bọc” trọn vẹn dân xóm Chùa và xóm Chợ, còn ở thành ngoại thì nhà cửa của nhiều xóm khác cũng san sát.

Là di sản văn hóa quan trọng và đặc sắc của đất nước, việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác Khu di tích thành Cổ Loa  cần sớm có những phương án thiết thực, nhất là khi thời điểm Đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội đã cận kề.

Nên chăng đặt Cổ Loa trong tuyến du lịch lịch sử hướng về cội nguồn, là tâm điểm đô thị cổ nối với trung tâm Ba Đình lịch sử trên trục xuyên không gian mặt nước của sông Hồng - hồ Tây? Và như thế, cần phải xây dựng một dự án đúng tầm, có quy mô tương xứng với khu di tích thành Cổ Loa, để toà thành ốc độc nhất vô nhị trên thế giới vẫn trường tồn.
 
                                                                                                                       Theo Chinhphu.vn
------------------------------------------