
Còn lại là những kiến trúc bền vững của cung đình, hoàng tộc, nhưng thời thế thay đổi là cái xây sau lại đè lên cái trước. Thành tựu khảo cổ Hoàng thành đã chứng minh những điểm nhấn huy hoàng. Nhưng cái còn lại, mang dấu ấn kiến trúc kẻ chợ – đô thị chỉ có thể rõ nét từ thế kỷ XIX, qua thế kỷ XX rồi XXI. Vậy là mang trên mình 3 thế kỷ, dù tính chi ly ra chỉ tròm trèm hai trăm năm.
Khi lên ngôi, nhà Nguyễn dời đô vào Phú Xuân (Huế). Mặc dù không phải là kinh đô, Hà Nội vẫn có sức sản xuất khá lớn từ các nghề thủ công, với đủ loại sản phẩm. Kinh tế hàng hóa phát triển, nguồn thu lợi của đất Kẻ Chợ càng lớn. Nhà bằng gạch nhiều hơn, kể cả nhà hai tầng, đường phố lát gạch, lát đá. Chaigneau, một sỹ quan Pháp từng giúp vua Gia Long dựng nghiệp đã cho rằng: “Trước thế kỷ XIX Thăng Long là một trong những thành phố đẹp nhất châu Á”. Ca dao thế kỷ XIX cũng ghi:
“Phồn hoa thứ nhất Long Thành/Phố dăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ”
Thành thị hình thành đan xen phố xá và xóm làng. Phố buôn bán có nhiều nhà gạch. Sau mặt phố, thôn xóm với nhà tranh vẫn chiếm phần nhiều, xếp đặt chưa thành hàng lối rõ rệt. Hình dáng nhà đơn giản, mái làm thẳng tuột một mạch từ đòn giông đến mái hiên, vì vậy nóc rất cao, nhưng mái hiên chỉ cách mặt đất 4,5 thước (1 thước = 0,40m). Thế nên nhà có phần tối, phải trổ cửa sổ, không có bàn ghế, trải chiếu cói ngay trên nền đất. Cũng có nhà khá giả lợp ngói hình vẩy cá, cạnh giường nghỉ có lò than sưởi ấm và tránh hơi ẩm. Luật Gia Long (1802 -1819) hà khắc ghi rõ: “Nhà ở không được xây trên nền 2 cấp hay chồng 2 mái, không được sơn và trang trí, không quá 3 gian, 5 vì kèo”.
Nhìn chung kết cấu cơ bản là bộ khung gỗ truyền thống nhiều thế kỷ, như sợi chỉ đỏ thống nhất, hình thành kiểu nhà ống, bề rộng mặt phố chỉ vài ba mét nhưng chiều dài thì rất sâu, dăm bảy chục mét. Chạy từ phố này sang phố khác nên chúng được phân đoạn bằng nhiều sân nhỏ để thông thoáng và chiếu sáng. Không gian kiến trúc độc đáo này được mang tên khu phố cổ Ba sáu phố phường, đang được thế giới đương đại quan tâm.
Năm 1873, thực dân Pháp tấn công Hà Nội, đến năm 1882 thì hoàn thành công cuộc chiếm đóng. Hà Nội tuy không phải là kinh đô nhưng là trung tâm của cả ba xứ Đông Dương là Việt Nam, Cam-pu-chia, Lào. Quy mô xây dựng mới bắt đầu từ 1888, với quy hoạch theo kiểu châu Âu. Đường phố thẳng tắp, rộng, hai bên có vỉa hè, sông, hồ, ao, đầm lấp đi. Ngôi thành bị phá. Làng xóm di chuyển theo quy hoạch mới. Nhiều công trình, chủ yếu phục vụ cho bộ máy thống trị và khai thác thuộc địa, mang phong cách kiến trúc phương Tây mọc lên, làm thay đổi nhanh bộ mặt kiến trúc Hà Nội. Phong phú hơn hẳn.
Những công trình cho quân đội, công thự chính quyền, nhà công vụ, hãng buôn, kinh doanh xây rất đa dạng. Phong cách Hy Lạp, La Mã cổ đại, cổ điển châu Âu đua chen với nhiều kiểu dáng, nổi bật là hệ thống cột. Barốc, Toscan, Yonich, Corintien, Roman, Gotich đủ cả. Nổi lên là Nhà thờ Lớn, Nhà hát Lớn, Phủ Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch), Phủ Thống sứ (nay là Bộ LĐ-TB&XH). Tường dày vững chắc, hành lang rộng, vòm cuốn nhọn hoặc bán nguyệt, mái Mansard cao, dốc đứng… thể hiện vẻ đẹp trang nghiêm và bền vững. Tiếp đó trào lưu Môđéc, lúc đó đang lan tỏa ở châu Âu, cũng tạo cho Hà Nội bộ mặt mới mẻ. Hiện nay, dấu vết kiến trúc này còn nhiều ở phố Tràng Tiền, một số biệt thự đường Lý Thường Kiệt. Đáng chú ý nhất là nhà Ngân hàng Đông Dương (nay là Ngân hàng Quốc gia) bề thế, đĩnh đạc, hoành tráng nhưng không sa đà vào hệ thức chi tiết rườm rà cổ điển. Mảng biệt thự – hầu hết của người Pháp – rất đa dạng. Họ đưa vào những nét quen thuộc của nhiều vùng quê đất Pháp: mái dốc lớn, có ống khói lò sưởi.
Nhiều kiến trúc sư (KTS) Pháp sau một thời gian thâm nhập Việt Nam đã khai thác văn hóa bản địa, sáng tạo phong cách kiến trúc Đông Dương, đậm đà nhiều nét Á Đông. Mái dốc, có đao, có kè, có bảy, mảng trang trí chữ triện, nhiều mái ngói nhỏ lô xô liên kết với nhau. Phong cách này có thể thấy ở các trụ sở Bảo tàng Lịch sử, Tổng cục TDTT, báo Văn nghệ Quân đội, bốn tòa nhà 2 tầng có mái cong ở Đại học Bách khoa…
Tổng thể công trình này được dư luận thế giới đánh giá cao, được coi là phong phú kiến trúc Pháp nhất ở vùng châu Á, có giá trị nghệ thuật cao và bền vững. Nhiều chuyên gia nước ngoài đã đến nghiên cứu với những đề xuất giải pháp bảo tồn di sản.
Hầu hết những công trình lớn, tiêu biểu của giai đoạn kiến trúc này là của tác giả người Pháp. Trong thời kỳ này cũng xuất hiện một số công trình mà các KTS Việt Nam làm, với xu hướng tìm về bản sắc dân tộc, khai thác những tinh hoa truyền thống.
Sau năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, Hà Nội bước vào đợt khôi phục kinh tế. Tiếp đó là kế hoạch 5 năm xây dựng CNXH. Thiếu thốn đủ thứ, khó khăn chồng chất. Thế hệ KTS đầu tiên được đào tạo tại Trường Mỹ thuật Đông Dương với trợ thủ – một số KTS trẻ được đào tạo từ nước ngoài trở về đã tạo dựng một kiểu dáng kiến trúc đặc thù. Họ chịu ảnh hưởng cổ điển Hy Lạp, La Mã nhưng không lặp lại các hệ thống cột với nhiều chi tiết trang trí. Vẻ hoành tráng ở bố cục đối xứng, phân vị ngang dọc rõ ràng, tạo ấn tượng về một cái đẹp giản dị, vững chắc, tiết kiệm. Có người đánh giá đây là phong cách “Tân cổ điển Việt Nam”. Các công trình tiêu biểu của giai đoạn này là Trường Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh), trụ sở Bộ Xây dựng, các trường ĐH Thủy lợi, Nông nghiệp, Ngoại ngữ, Tổng cục Thống kê. Và không thể không nhắc đến Hội trường Ba Đình (nay đã phá dỡ để xây nhà Quốc hội mới).
Do chính sách kinh tế, quản lý xã hội, hầu như mảng xây dựng tư nhân không tồn tại. Nổi lên trong xây dựng nhà ở là tổ chức điểm dân cư đô thị, có thể gọi là theo phong cách hiện đại. Các khu tập thể Kim Liên, Nguyễn Công Trứ, Giảng Võ… ra đời thời kỳ này, đến nay bộc lộ nhiều bất tiện nhưng lại là ước mơ với cư dân ngày ấy.
Cuối thế kỷ XX, bước vào thế kỷ XXI, Hà Nội cựa mình, vươn lên mạnh mẽ. Nhà không chỉ 4, 5 tầng đơn điệu mà vút, chọc lên trời, bên dưới lại khoét sâu vào lòng đất cả vài ba tầng hầm. Những khu nhà được tổ chức liên kết với không gian đô thị. Những tổng thể xây dựng mang dáng dấp hiện đại, nổi lên hình hộp với nhiều mảng kính. Được xếp hạng kiểu mẫu là khu đô thị Linh Đàm với cây xanh mặt nước. Có phần xa lạ là khu Ciputra, The Manor.
Đó là những thành tựu kiến trúc Hà Nội qua một thời kỳ lịch sử. Nhưng cũng nên điểm qua vài nét lệch lạc, “tồn tại” của nó. Ảnh hưởng của kiến trúc châu Âu vẫn nặng nề, những chi tiết rối rắm tràn lan trên các mặt nhà, chồng chất lên những khoảng không gian chật hẹp, các căn nhà chia lô, các biệt thự nhỏ. Cái chóp của Nhà hát Lớn được sao chép ở công thự quốc gia và cả nhà tư nhân. Người ta quảng cáo “theo phong cách châu Âu”, mà không chịu tìm tòi phong cách Việt Nam, nhiệt đới mặc dầu chủ trương “đậm đà bản sắc dân tộc” luôn luôn được nhắc tới.
Đó đây, ở những cảnh quan thuận lợi, người ta đã dựng lên nếp nhà sàn vận chuyển từ miền núi về và những lều, quán nhỏ, lợp lá… Dầu sao, chúng đã góp phần làm mềm mại cái khô cứng bê tông.
Trải qua những tháng năm phong kiến kìm hãm và chiến tranh, kiến trúc Việt Nam đang vươn lên dáng đứng mới. Chưa phải đã hiện đại so với bạn bè khu vực, chưa phải đã tạo dựng được đặc thù Việt Nam, nhưng rõ ràng giới kiến trúc, với nhiều hội thảo, bàn bạc đang đưa kiến trúc Hà Nội vào con đường tự nhiên phải đi. Một điểm đáng mừng nữa là quy hoạch xây dựng thời đổi mới đang mở ra triển vọng cho nghệ thuật kiến trúc Thủ đô, để nó ngày càng làm đẹp lòng mọi người.
Theo HNM
-------------------------------------------------------
Định đô Thăng Long – bước trưởng thành vượt bậc của dân tộc
Sự kiện Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long, xét trên mọi chiều cạnh, phản ánh một bước trưởng thành vượt bậc của dân tộc Việt.
Thăng Long - Hà Nội hội đủ những điều kiện căn bản để trở thành kinh đô - trung tâm quốc gia.
Vương triều Lý đã mở đầu một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của quốc gia người Việt, của một “thời đại Lý - Trần” vàng son trong lịch sử Việt Nam.
Trưởng thành về lực lượng
Năm 905 Khúc Thừa Dụ xưng nền tự chủ - mở đầu một thế kỷ quá độ - bản lề của lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, đó mới chỉ là mốc khởi đầu. Với hai nội dung cơ bản là độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia, thế kỷ X là thế kỷ của cuộc đấu tranh không ngừng của cha ông ta để thực hiện các mục tiêu đó.
Thứ nhất, bao trùm hơn cả là cuộc đấu tranh giành, giữ và khẳng định nền độc lập dân tộc. Với họ Khúc, họ Dương (905 - 937) - nền tự chủ đã được khôi phục, nhưng phải đến chiến thắng Bạch Đằng (938) nền độc lập của người Việt mới được xác lập đầy đủ, cả trên thực tế, cả trên danh nghĩa, và phải đến chiến thắng chống Tống lần thứ nhất (981), nền độc lập đó mới được khẳng định một cách mạnh mẽ.
Đánh bại nhà Tống - một đế chế đã thống nhất Trung Quốc và đang trên đường hùng mạnh - là thắng lợi vĩ đại của cha ông ta, nó chứng tỏ sự lớn mạnh vượt bậc về lực lượng của người Việt trên mọi phương diện và khẳng định vững chắc chủ quyền, nền độc lập của dân tộc.
Thứ hai, đây cũng là thế kỷ của cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng tập quyền thống nhất và phân tán cát cứ. Đỉnh điểm của xu hướng phân tán cát cứ là cục diện mười hai sứ quân xuất hiện sau khi Ngô Quyền mất (944), chính quyền trung ương nhà Ngô suy yếu và tan rã (965). Đó là một bất lợi lớn ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của đất nước, đến nền độc lập vừa mới giành lại được. Đinh Bộ Lĩnh cờ lau dẹp loạn, lần lượt đánh dẹp các sứ quân, thống nhất đất nước, khôi phục chính quyền trung ương đánh dấu một thành tựu, một bước trưởng thành trên “con đường dân tộc” của dân tộc Việt Nam, khẳng định sự thắng thế của yêu cầu và xu hướng tập quyền và thống nhất đất nước.
Thứ ba, dù phải tập trung cao độ nỗ lực vào việc thực hiện các nhiệm vụ trên, nhưng thế kỷ X cũng là thế kỷ bước đầu của công cuộc dựng xây đất nước. Thể chế nhà nước từng bước được xây dựng quy củ. Kinh tế có bước tiến nhất định, với nhiều sông ngòi được khai thông, đường sá được mở mang, vua đi cày ruộng tịch điền (Lê Hoàn) để khuyến khích chăm lo nông nghiệp… Về văn hoá, bên cạnh phần lớn bình dân – dân giã – dân gian, ngày càng đông đảo tầng lớp sư tăng – trí thức uyên bác và lịch lãm…
Tóm lại, thế kỷ X với quá nhiều các hoạt động quân sự để giành và giữ nền độc lập dân tộc, để khắc phục khuynh hướng phân tán cát cứ đã kết thúc với sự khẳng định vững chắc nền độc lập dân tộc, với sự thắng thế của xu hướng tập quyền và thống nhất quốc gia. Nó là bằng chứng về bước trưởng thành vượt bậc của lực lượng dân tộc, làm tiền đề cho cuộc bứt phá vĩ đại, mà sự kiện dời đô vừa như một biểu hiện, vừa như một mốc mở đầu.
Trưởng thành về nhận thức
Xét trên nhiều ý nghĩa, Thăng Long - Hà Nội hội đủ những điều kiện căn bản để trở thành kinh đô - trung tâm quốc gia. Vùng đất này ở vào vị trí “trung tâm” đất nước, trung tâm châu thổ sông Hồng, điều kiện tự nhiên thuận lợi, đủ thế mạnh để hội tụ và lan toả. Có lẽ vì thế, một cách “tự nhiên”, từ rất sớm những lợi thế này đã được phát hiện.
Bằng chứng là, sau kháng chiến chống Lương thắng lợi năm 542, Lý Bí – Lý Nam Đế đã chọn vùng trung tâm Hà Nội ngày nay để đặt thủ phủ, dựng thành luỹ, mở chùa Khai Quốc - tiền thân của chùa Trấn Quốc ngày nay. Nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng, có thể coi Lý Bí là người Việt đầu tiên đã nhận ra vị trí trung tâm đất nước của Thăng Long- Hà Nội.
Tiếp đấy, đến thời các chính quyền đô hộ Trung Hoa Tùy và Đường, cũng đã chọn nơi đây làm thủ phủ. Dường như đặc tính “đất đế vương” của Thăng Long - Hà Nội là một cái gì đó tự nhiên, dễ nhận thấy và đã được nhận thấy từ rất sớm. Việc Lý Công Uẩn dời đô ra thành Đại La có thể coi là sự tiếp nối của nhận thức đó.
Nhưng khác với trước đó, đây là lần đầu tiên, nhận thức đó được “tuyên ngôn” với những phân tích toàn diện – phản ánh một tư duy khoa học đáng kinh ngạc của Lý Công Uẩn về vị thế của Thăng Long – Hà Nội qua “Chiếu dời đô”: “Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi mãi muôn đời…”.
Từ cảm nhận tự nhiên (Lý Bí) đến nhận thức khoa học (Lý Công Uẩn) là một bước tiến, bước trưởng thành quan trọng của người Việt Nam trong nhận thức về vị thế của vùng đất Thăng Long- Hà Nội này.
Trưởng thành về tư duy quản lý đất nước

Cố đô Hoa Lư
Đó là tư duy cầm quyền dựa trên quan điểm phát triển, lấy phát triển để tạo ra khả năng phòng thủ. Kinh đô – thủ đô là trung tâm quyền lực của đất nước, là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia. Vấn đề ở đây là phải giải bài toán giữa mục tiêu đảm bảo an ninh với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá. Có khi phải hy sinh cái này để đảm bảo cái kia và ngược lại.
Trên một ý nghĩa nhất định, hai nhà Đinh – Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư là sự lựa chọn ưu tiên cho mục tiêu an ninh, vì Hoa Lư ở vào địa thế hiểm yếu, khả năng phòng thủ tốt. Trong điều kiện một chính quyền - nhất là chính quyền trung ương chưa thực sự vững mạnh, nguy cơ xâm lăng từ phương Bắc và sự trỗi dậy của các thế lực cát cứ luôn tiềm ẩn thì việc chọn Hoa Lư làm kinh đô của hai nhà Đinh và Tiền Lê có thể coi là hợp lý. Nhưng Hoa Lư không thuận lợi về vị trí, về điều kiện tự nhiên để phát triển thành trung tâm kinh tế, văn hoá số một của đất nước. Vì thế, lựa chọn này, trên một ý nghĩa nhất định, có thế xem là sự “hy sinh” phát triển để đáp ứng yêu cầu an ninh.
Còn Thăng Long – Hà Nội, với vị trí ấy, điều kiện tự nhiên và lịch sử ấy tập trung rất nhiều lợi thế để phát triển thành trung tâm chính trị, hành chính, văn hoá số một của đất nước. Nhưng Thăng Long – Hà Nội lại cũng có hạn chế lớn, là ở vào nơi rất trống trải giữa vùng đồng bằng, khả năng phòng thủ kém. Chọn Thăng Long làm kinh đô là để phát triển mạnh mẽ đất nước, không phải là sự đánh đổi - hy sinh yếu tố an ninh để phát triển, mà là lấy phát triển để tạo ra khả năng quốc phòng, để đảm bảo an ninh.
Trưởng thành về trách nhiệm
Một thực tế phải thừa nhận là, sự ra đời của vương triều Lý, định đô Thăng Long - mốc mở đầu cho thời kỳ phát triển rực rỡ của quốc gia Đại Cồ Việt - Đại Việt, là dựa trên những tiền đề được tạo ra trong suốt một thế kỷ nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi của cha ông ta. Lý Công Uẩn dời đô là dựa trên cơ sở của những thành tựu, của sự lớn mạnh lực lượng dân tộc ấy kết hợp với nhận thức sáng suốt về vị thế của vùng đất này và tư duy cầm quyền - quản lý đất nước khoa học của ông và rộng ra là của người Việt Nam lúc này.
Nhưng còn một khía cạnh nữa để góp thành một nhân tố làm nên sự kiện lịch sử lớn lao này - đó là trách nhiệm của Lý Công Uẩn, cũng như cả triều đình Hoa Lư bấy giờ trước sự hưng thịnh của đất nước.
Trách nhiệm đó thể hiện ở sự trăn trở của Lý Công Uẩn trước quyết định dời đô, ở sự sẵn sàng trước những bất lợi của vùng đất thành Đại La. Trong “Chiếu dời đô” chỉ thấy Lý Công Uẩn phân tích về những lợi thế của thành Đại La mà không thấy nhắc đến những hạn chế của vùng đất này. Nhưng điều đó không có nghĩa là Lý Công Uẩn và triều đình Hoa Lư không thấy được những điểm yếu của nơi đây. Nhưng Lý Công Uẩn và triều đình do ông đứng đầu đã không theo cách của hai nhà Đinh – Lê mà gia cố Hoa Lư hay về quê Cổ Pháp đóng đô.Quyết định ra thành Đại La “ở giữa khu vực trời đất”, Lý Công Uẩn đã không “theo ý riêng”, chấp nhận “mạo hiểm” để “tính kế” cho muôn đời con cháu mai sau. Đó là một tinh thần trách nhiệm nghiêm túc trước xã tắc, trước vận hội phát triển của đất nước đành rằng việc dời đô là dựa trên sự chuẩn bị về lực lượng của cả thế kỷ X, là thể hiện sự tự tin vào sự trưởng thành của Đại Cồ Việt của Lý Công Uẩn.
Nhà Lý ra đời và dời đô ra Thăng Long đã chính thức khép lại một thế kỷ với dồn dập những sự kiện quân sự, với sự thay đổi liên tục các dòng họ - triều đại cầm quyền, với sự “loay hoay” của cha ông ta trong dựng đặt kinh thành - để mở đầu một thời kỳ mới phát triển rực rỡ của quốc gia dân tộc - của kỷ nguyên Đại Việt, văn hoá Thăng Long. Nó phản ánh bước tiến lớn, bước trưởng thành vượt bậc của người Việt về lực lượng, về nhận thức, về tư duy quản lý đất nước và về trách nhiệm trước vận hội đi lên của đất nước trên con đường phục hưng và phát triển.
PGS.TS Vũ Văn Quân
(Đại học Quốc gia Hà Nội)
---------------------------------------------------------------
Cổ Loa - Kinh đô của người Việt cổ
Loa Thành là di sản văn hóa, là bằng chứng về sự sáng tạo và trình độ của người Việt lúc bấy giờ. Đối với người dân nơi đây, ngày nay Cổ Loa vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và sinh hoạt văn hóa.
Cổ Loa - tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ rất cần được tiếp tục bảo tồn, tôn tạo để nơi đây trở thành địa chỉ du lịch hấp dẫn.
Kinh đô của người Việt cổ
Khu di tích Cổ Loa cách trung tâm Hà Nội 17km thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội, có diện tích bảo tồn gần 500ha được coi là địa chỉ văn hóa đặc biệt của thủ đô và cả nước. Cổ Loa có hàng loạt di chỉ khảo cổ học đã được phát hiện, phản ánh quá trình phát triển liên tục của dân tộc ta từ sơ khai qua các thời kỳ đồ đồng, đồ đá và đồ sắt mà đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn, vẫn được coi là nền văn minh sông Hồng thời kỳ tiền sử của dân tộc Việt Nam.
Cổ Loa từng là kinh đô của nhà nước Âu Lạc thời kỳ An Dương Vương (thế kỷ III TCN) và của nước Đại Việt thời Ngô Quyền (thế kỷ X) mà thành Cổ Loa là một di tích còn lại cho đến ngày nay. Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là “tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ”.
Do những đặc điểm kiến trúc đặc biệt và độc đáo, công trình được gọi là Cổ Loa. Tương truyền thành gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng căn cứ trên dấu tích hiện còn, các nhà khoa học nhận thấy thành có 3 vòng, trong đó vòng thành nội rất có thể được làm về sau, thời Ngô Quyền. Chu vi ngoài 8km, vòng giữa 6,5km, vòng trong 1,6km, diện tích trung tâm lên tới 2km². Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu lũy xây đến đó.
Đến khu di tích Loa Thành, du khách cảm nhận được cảnh quan thiên nhiên khoáng đạt của làng quê Việt với hào nước, sông ngòi, gò đống. Khu vực thành nội có nhiều di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật như khu đền Thượng thờ An Dương Vương, đình Ngự Triều, am thờ Mỵ Châu và chùa Bảo Sơn.
Đền thờ An Dương Vương (còn gọi là đền Thượng) ở trên một quả đồi tương truyền là cung thất của nhà vua. Ngay trước đền thờ là một hồ nước hình bán nguyệt, giữa là giếng Ngọc – gắn liền với truyền thuyết về mối tình Mỵ Châu - Trọng Thủy.
Đền thờ An Dương Vương gồm nhiều cửa, đi vào khu vực chính là điện thờ vua, nằm phía trong hai bên là thờ Hoàng hậu và thờ Mẫu. Đình Ngự Triều được xây dựng trên nền điện thiết triều cũ, năm 1907 thời Nguyễn. Đình có dáng vóc vững chãi, bề thế, mái đao vút cong. Tại đây trưng bày nhiều di tích khảo cổ có giá trị quan trọng.
Có một nơi mà du khách không thể bỏ qua khi đến Loa Thành đó là am thờ Mỵ Châu. Đây chỉ là một am nhỏ, nằm u tịch dưới gốc đa. Trong căn phòng nhỏ phía sau có tượng công chúa Mỵ Châu – một khối đá tự nhiên hình người không đầu. Truyền thuyết kể rằng xác Mỵ Châu sau khi bị vua cha chặt đầu đã hóa thành đá và trôi về bãi Đường Cấm, phía Đông thành Cổ Loa. Dân trong thành thương cảm đem võng ra cáng bức tượng đá không đầu về đến gốc đa thì đứt võng. Người dân bèn lập am thờ Mỵ Châu ngay tại nơi tượng đá rơi xuống…
Để Loa Thành là địa chỉ thu hút du khách
Loa Thành là di sản văn hóa, là bằng chứng về sự sáng tạo và trình độ của người Việt lúc bấy giờ. Đối với người dân nơi đây, ngày nay Cổ Loa vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và sinh hoạt văn hóa.
Dân gian có câu: “Thứ nhất lễ hội Cổ Loa/Thứ hai hội Gióng, thứ ba hội Chèm”. Bắt đầu từ năm 1961, Lễ hội Cổ Loa được tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng âm lịch, tương truyền là ngày An Dương Vương lên ngôi hoàng đế. Lễ hội là dịp để người dân địa phương nói riêng và người dân trên cả nước nói chung tưởng nhớ công lao của vị vua đầu tiên của nước Âu Lạc.
Tuy nhiên, ngoài dịp lễ hội, những ngày khác ở Khu di tích Cổ Loa thường vắng lặng một cách đáng buồn. Chị Chu Minh Nương, cán bộ thuyết minh của Trung tâm Bảo tồn Khu di tích Cổ Loa - Thành cổ Hà Nội cho biết lượng khách đến Cổ Loa chủ yếu là trong nước, khách nước ngoài không nhiều. Các tua du lịch cũng thường chỉ ghé qua trong thời gian rất ngắn nên các dịch vụ ăn uống tại đây chưa phong phú, dịch vụ nghỉ qua đêm chưa có.
Do thời gian ghé thăm ít ỏi nên khách du lịch thường không kịp nghe thuyết minh và tham quan, tìm hiểu kỹ về Khu di tích. Vì thế, tuy đã đến Cổ Loa nhưng du khách vẫn khó có thể hình dung ra bức tranh toàn cảnh của thành cổ.
Theo chị Nương, khách du lịch đến tham quan Cổ Loa cần phải có thời gian lắng nghe thuyết minh, quan sát và đi thực địa kết hợp với sự hình dung thì mới có thể thưởng ngoạn được hết toàn bộ Di tích thành Cổ Loa cũng như ý nghĩa lịch sử của thành cổ.
Cụ Chu Văn Trinh, người đã có 40 năm làm công tác bảo tồn nơi đây cho biết, việc bảo vệ Cổ Loa thành cách đây 50 năm đã được thực hiện khá nghiêm túc. Bởi nơi đây có đất sét rất tốt, (cũng chính là vật liệu đã đắp nên Loa thành) nên người dân địa phương hay khai thác về để làm ông đầu rau. Đêm đêm, có nhiều người thường đi đào trộm đất sét ở thành Cổ Loa về đắp bếp. Thành cổ vì thế mà cứ dần mai một. Thời ấy, các chức sắc trong vùng đã ý thức phải bảo vệ dấu tích của lịch sử. Việc bảo vệ thành Cổ Loa được cắt đặt khá nghiêm ngặt. Cả vùng có 12 xóm, mỗi xóm được phân công phụ trách một khu vực của Loa thành. Lý trưởng (của xóm Nhồi khi ấy) phân công rõ ràng, 30 suất đinh được cử ra để chuyên đi tuần bảo vệ thành. Nếu bắt được những trường hợp phá thành, ăn trộm đất sét thì phạt rất nặng.
Cụ Trinh cũng cho biết thêm, di tích thành Cổ Loa so với ngày xưa đã bị xuống cấp nhiều, do thời gian, do bom đạn Mỹ. Toàn bộ hệ thống thành cũ (vòng nội thành) đã mai một gần hết, vòng 2 (8.600m) còn đủ nhưng vòng 3 đã mất 1,5km. Đó còn chưa kể có nhiều hộ dân còn sinh sống ngay trong khu di tích Loa thành. Các di tích còn lại như đền, đình Cổ Loa đã được bảo tồn, trùng tu và phục chế lại những phần bị hư hỏng hay xuống cấp. Tuy nhiên, sau nhiều năm, chúng ta vẫn chưa có một chính sách duy trì vào bảo tồn xứng đáng với tầm vóc của di tích.
Hiện tại, Khu di tích Cổ Loa đã được UBND TP đầu tư để phục vụ công tác bảo tồn. Tuy nhiên vấn đề cần giải quyết hiện nay là di dời hàng trăm hộ dân đang ở xâm lấn, xen kẽ rất nhiều trong Cổ Loa thành. Hiện tại, thành nội đang “bao bọc” trọn vẹn dân xóm Chùa và xóm Chợ, còn ở thành ngoại thì nhà cửa của nhiều xóm khác cũng san sát.
Là di sản văn hóa quan trọng và đặc sắc của đất nước, việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác Khu di tích thành Cổ Loa cần sớm có những phương án thiết thực, nhất là khi thời điểm Đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội đã cận kề.
Nên chăng đặt Cổ Loa trong tuyến du lịch lịch sử hướng về cội nguồn, là tâm điểm đô thị cổ nối với trung tâm Ba Đình lịch sử trên trục xuyên không gian mặt nước của sông Hồng - hồ Tây? Và như thế, cần phải xây dựng một dự án đúng tầm, có quy mô tương xứng với khu di tích thành Cổ Loa, để toà thành ốc độc nhất vô nhị trên thế giới vẫn trường tồn.
Theo Chinhphu.vn
------------------------------------------