1.3.1. Lưu giữ mẫu xét nghiệm
Để giữ cho vi khuẩn hoặc virus còn nguyên vẹn trong mẫu xét nghiệm trước khi mẫu được nuôi cấy phân lập, thì mẫu xét nghiệm cần được đặt trong môi trường và nhiệt độ bảo quản thích hợp và được duy trì trong suốt thời gian vận chuyển về phòng thí nghiệm. Mỗi loại mẫu xét nghiệm và tác nhân gây bệnh cần điều kiện khác nhau về độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng và pH. Trước khi vào điều tra bất kỳ một vụ dịch nào chúng ta cũng nên tham khảo ý kiến của phòng thí nghiệm về cách tiến hành thu thập các loại mẫu xét nghiệm cho tốt nhất.
- Nhiều mẫu xét nghiệm để phân lập virus có thể chấp nhận nuôi cấy sau 2 ngày nếu được để trong môi trường đặc biệt ỏ nhiệt độ từ 2 - 8oC. Nếu giai đoạn đầu để lâu hơn thì nên để đông đá, nhưng kết quả có thể bị thay đổi. Nếu để có tính lâu dài hơn nữa thì phải để trong điều kiện nhiệt độ - 70oC.
- Mẫu bệnh phẩm để nuôi cấy vi khuẩn nên giữ trong môi trường vận chuyển thích hợp và điều kiện nhiệt độ thích hợp. Trừ mẫu xét nghiệm là nước tiểu, dịch đờm có thể giữu trông điều kiện nhiệt độ môi trường nếu mẫu xét nghiệm được xử lý trong vòng 24 giờ. Nếu để lâu hơn thì phải bảo quản trong nhiệt độ từ 2 - 8oC, nhưng ngoại trừ với một số vi khuẩn nhạy cảm với lạnh như shigella, meningococcus và pneumococcus. Nếu để chậm hơn nưa thì không thích hợp vì số lượng vi khuẩn giảm một cách đáng kể.
- Mẫu xét nghiệm để phát hiện kháng nguyên, kháng thể phải giữ trong điều kiện 4 - 8oC trong thời gian 24 - 48 giờ, hoặc - 20oC nếu thời gian đầu kéo dài hơn. Huyết thanh để phát hiện kháng thể có giữ trong điều kiện 4 - 8oC trên 10 ngày. Lưu ý quan trọng là tránh làm tan rồi đông đá lại nhiều lần, làm ảnh hưởng đến phản ứng ngưng kết.
1.3.2. Đóng gói và dán nhãn mẫu xét nghiệm
Các phương pháp đóng gói phải chuẩn thức và chắc chấn an toàn cho con người. Mẫu xét nghiệm phải được đóng gói, dán nhãn theo đúng nguyên tắc của quốc gia và quốc tế về vận chuyển các chất nhiễm trùng. Địa chỉ được dán phía ngoài bao gói và phải thể hiện rõ nơi gửi và tên phòng thí nghiệm với đầy đủ địa chỉ, số điện thoại và cả cả người gửi và người nhận. Tài liệu gửi theo cũng phải được ghi chép chi tiết về mẫu xét nghiệm (số, loại mẫu xét nghiệm, thời gian thu thập mâu), dán nhãn cảnh báo nguy hiểm thích hợp.
1.3.3. Vận chuyển mẫu xét nghiệm
Vận chuyển mẫu xét nghiệm có thể dưới nhiều hình tức khác nhau như, bằng đường bộ, đường hàng không. Nhưng trước khi vận chuyển nhóm thu thập mẫu nên thông báo tới phòng thí nghiệm sẽ tiếp nhận mẫu về hình thức vận chuyển và cụ thể mẫu xét nghiệm được gửi tới. Nếu cần thiết vận chuyển theo con đường quốc tế thì phải có giấy phép của phòng thí nghiệm và phòng thí nghiệm cũng phải thông báo cho người gửi biết có nhận hay không nhận mẫu xét nghiệm.
2. CÁC PHƯƠNG PHÁP THU THẬP BỆNH PHẨM
2.1. Lấy mẫu dịch não tủy
Mẫu xét nghiệm cần phải được lấy do các bác sĩ hoặc những người có kinh nghiệm. Dịch não tủy được dùng để chẩn đoán virus, vi khuẩn, ký sinh trùng và viêm màng não do nấm.
2.1.1. Chuẩn bị dụng cụ
Khay để chọc dịch, gồm:
-Dụng cụ vô khuẩn: găng tay, bông thấm nước, gạc.
-Gây tê vùng: kim và bơm tiêm.
-Sát trùng da: povidon iodin 10% hoặc cồn y tế 70%.
- 6 tuýp vô trùng loại nhỏ, có nắp xoắy và giá đựng tuýp.
-Máy đo áp lực nước.
- Kính hiển vi quang học và lam kính.
2.1.2. Phương pháp lấy mẫu xét nghiệm
Như đã nói ở trên, chỉ có những người có kinh nghiệm mới tham gia lấy mẫu dịch não tủy và không được mô tả ở đây. Dịch não tủy được lấy và chuyển trực tiếp vào các tuýp có nắp vặn. Nếu bệnh phẩm không được chuyển nhanh chóng thì các tuýp riêng nên được tập chung để cho quy trình xử lý virus và vi khuẩn.
2.1.3. Vận chuyển mẫu
Nói chung là các mẫu xét nghiệm nên gửi tới phòng thí nghiệm để xử lý càng sớm càng tốt.
Mẫu dịch não tủy cho xét nghiệm vi khuẩn được vận chuyển trong điều kiện nhiệt độ môi trường, nói chung là không cần môi trường vận chuyển. Không được để đông đá vì rất nhiều tác nhân gây bệnh sẽ không tồn tại trong điều kiện nhiệt độ thấp.
Mẫu dịch não tủy cho phân lập virus không cần môi trường vận chuyển. Chúng có thể vận chuyển ở điều kiện 4 - 8oC, thời gian trên 48giờ, hoặc - 70oC cho thời gian kéo dài hơn.
2.2. Lấy mẫu phân
Các mẫu phân được dùng để chẩn đoán vi sinh vật rất hiệu quả nếu được thu thập ngay sau khi bệnh nhân bị ỉa chảy cấp (với virus ≤ 48 giờ và vi khuẩn < 4 ngày), và nên lấy trước khi điều kháng sinh. Có thể lấy từ 2 - 3 mẫu phân chia ra cho các ngày. Phân là mẫu xét nghiệm ưu tiên cho nuôi cấy vi khuẩn, virus và ký sinh trùng. Tăm bông trực tràng được dùng để lấy phân ở trẻ em và tăm bông trực tràng không khuyến cáo để lấy phân cho chẩn đoán virus.
2.2.1. Chuẩn bị môi trường và dụng cụ
-Hộp chứa phân phải có sạch, khô và có nắp vặn.
-Chuẩn bị môi trường vận chuyển vi khuẩn thích hợp cho tăm bông trực tràng: CARRY – BLAIR.
-Hộp vận chuyển phân để chán đoán ký sinh trùng: dung dịch formalin 10%, polyviny isopropyl alcohol (PVA).
2.2.3. Phương pháp lấy mẫu phân
-Lấy mẫu phân tươi, 5 ml dung dịch hoặc 5 gram phân đặc, đưa vào hộp hoặc tuýp bảo quản.
-Dán nhãn.
Phương pháp lấy mẫu phân bằng tăm bông trực tràng (ở trẻ em)
-Tăm bông phải được làm ẩm bằng nước muối vô khuẩn.
-Đưa chóp tăm bông vào qua cơ thắt hậu môn rồi xoay nhẹ nhàng.
-Lấy tăm bông ra và kiểm tra chắc chắn đầu tăm bông đã có dính phân.
-Đưa tăm bông vào tuýp vô khuẩn hoặc hộp bảo quản có chứa môi trường thích hợp cho vận chuyển virus hoặc vi khuẩn.
-Bẻ gẫy phần trên cùng của cán tăm bông không chạm vào tuýp, sau đó vặn chặt nắp lại.
- Dán nhãn lên tuýp.
2.2.4. Vận chuyển mẫu xét nghiệm
- Mẫu phần cần được vận chuyển ở điều kiện 4 - 8oC. Số lượng vi khuẩn có thể giảm đáng kể nếu mẫu xét nghiệm không được xử lý trong vòng 1 - 2 ngày sau khi được thu thập. Vi khuẩn Shigella có nhạy cảm đặc biệt khi nhiệt độ tăng lên.
-Mẫu xét nghiệm để kiểm tra ký sinh trùng thì nên cho vào dung dịch formali 10% hoặc PVA (3 phần phân/1 phần bảo quản). Vận chuyển ở điều kiện nhiệt độ môi trường, trong túi ni lông bịt kín miệng.
2.3. Lấy mẫu xét nghiệm từ đường hô hấp
Mẫu xét nghiệm được lấy từ trên hoặc dưới bộ máy đường hô hấp là còn phụ thuộc vào vị trí nhiễm trùng. Căn nguyên vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp trên (virus và vi khuẩn) thường được phân lập từ bệnh phẩm họng hoặc tỵ hầu (Streptococcus, Staphylococcus, S.pneumoniae...). Và căn nguyên gây bệnh đường hô hấp dưới thường phân lập được từ mẫu xét nghiệm đờm (S.aureus, P.aruginosa, K.pneumoniae....).
Khi viêm thanh quản cấp, nếu chúng ta không lấy mẫu xét nghiệm hầu họng hoặc tỵ hầu để kiểm tra thì có thể từ đó dẫn đến tiến triển làm tắc nghẽn đường
hô hấp.
2.3.1. Chuẩn bị môi trường và dụng cụ
- Môi trường vận chuyển vi khuẩn và virus.
- Tăm bông hoặc loại có cán bằng kim loại, mềm đầu là sợi mềm đặc biệt.
- Đè lưỡi.
-Dụng cụ banh mũi.
-Máy hút dịch hoặc bơm tiêm loại 20 - 50 ml.
- Tuýp vô khuẩn có nắp vặn.
2.3.2. Mẫu xét nghiệm lấy từ đường hô hấp trên
- Dùng dụng cụ đè lưỡi để đè lưỡi xuống. Dùng đèn có nguồn sáng mạnh soi vào vị trí có viêm hoặc xuất tiết sau tỵ hầu.
-Dùng tăm bông chà sát nhẹ mặt sau và trước của hốc amidal, sau lưỡi gà rồi kéo ra không được chạm vào lưỡi, răng hoặc thành trong của má và đưa vào tuýp đựng môi trường vận chuyển có nắp vặn.
-Bẻ đoạn trên của tăm bông, phần không chạm vào tuýp và vặn chắc nắp.
- Dán nhãn trên hộp đựng mẫu xét nghiệm.
-Hoàn thành các mẫu yêu cầu của phòng thí nghiệm.
2.3.3. Lấy mẫu qua đường mũi
-Để bệnh nhân ngồi ở tư thế thật thoải mái, hơi ngả đầu ra phía sau và đưa banh mũi vào.
-Dùng loại tăm bông có cán được làm bằng kim loại mỏng, mềm, không gỉ vào qua banh mũi, song song với sàn mũi và không hướng đi lên. Sau đó bẻ cong dây kim loại và đưa vào trong cổ họng, di chuyển đầu bông lên phía trên khu vực tỵ hầu.
-Soay đầu bông trên màng tỵ hầu vài lần rồi nhẹ nhàng kéo ra đưa vào tuýp có môi trường vận chuyển và có nắp vặn.
-Bẻ đoạn trên của tăm bông, phần không chạm vào tuýp và vặn chắc nắp.
-Dán nhãn trên tuýp đựng mẫu xét nghiệm.
2.3.4. Bệnh phẩm đường hô hấp dưới
-Hướng dẫn cho bệnh nhân thở sâu và ho bật đờm mủ trực tiếp vào hộp vô trùng có miệng rộng, ít nhất là 1 ml. Tránh nước bọt hoặc mũi.
-Dán nhãn trên hộp đựng mẫu xét nghiệm.
-Hoàn thành các mẫu yêu cầu của phòng thí nghiệm.
2.3.5. Vận chuyển mẫu xét nghiệm
- Tất cả mẫu xét nghiệm đường hô hấp trừ đờm đều được vận chuyển trong môi trường thích hợp cho vi khuẩn hoặc virus.
-Chuyển nhanh chóng đến phòng thí nghiệm càng nhanh càng tốt để giảm tối đa sự phát triển của vi khuẩn hội sinh ở miệng.
-Nếu để tới 24 giờ, qua trình vận chuyển mẫu xét nghiệm vi khuẩn và virus cần để trong điều kiện nhiệt độ từ 2 - 8oC/môi trường thích hợp.
2.4. Lấy mẫu xét nghiệm máu
Máu và huyết thanh là mẫu xét nghiệm thường được làm để điều tra các bệnh truyền qua đường máu. Máu tĩnh mạch có thể dùng để phân lập và định danh căn nguyên gây bệnh trong quá nuôi cấy, hoặc tách huyết thanh để phát hiện các gen (PCR), đặc biệt là kháng thể, kháng nguyên hoặc độc tố (bằng phương pháp ELISA). Để xử lý các mẫu xét nghiệm cho chẩn đoán virus thì huyết thanh thích hợp hơn là máu nguyên, trừ khi sử dụng trực tiếp.
2.4.1. Chuẩn bị dụng cụ lấy máu
- Khử trùng ngoài da: cồn 70% hoặc povidon iodin 10%, bông gạc, băng sơ cứu.
-Găng tay vô khuẩn dùng 1 lần.
-Ga rô, bộ lấy máu chân không (vaccutainer) hoặc bơm kim tiêm dùng 1 lần.
- Bộ lấy chưa máu chân không hoặc tuýp đựng máu có nắp vặn, chai cấy máu (50 ml/người lớn, 25 ml/trẻ em) có chứa môi trường thích hợp.
-Gắn nhãn và dùng bút không xoá.
2.4.2. Phương pháp lấy máu.
-Đặt ga rô phía trên vị trí chọc ven.
- Bắt mạch để xác định vị trí ven. Sát trùng tại vị trí lấy vên và rộng ra vùng xung quanh, để bay hơi hết rồi thực hiện chọc ven.
- Nếu dùng bơm tiêm một lần thì lấy 5-10 ml/người lớn, từ 2-5 ml/trẻ em.
- Xong bỏ ga rô, ép mạch đến khi máu ngừng chảy và dán băng lên trên.
- Chuyển mầu vào tuýp vận chuyển có nắp và chai cấy máu
- Dán nhãn tuýp, dùng bút không xoá ghi số bệnh nhân.
-Hoàn thành các mẫu yêu cầu trường hợp điều tra của phòng thí nghiệm theo số của bệnh nhân.
2.4.3. Quy trình vận chuyển
-Chai máu nuôi cấy và tuýp bệnh phẩm máu cần được chuyển ở tư thế đứng thẳng và an toàn trong chia đựng có nắp hoặc trong túi để trong hộp vận chuyển. Đi qua khu vực địa hình khó đi, nên đệm hoặc treo chai lên để tránh vỡ hồng cầu. Chèn giấy thấm xung quanh đề phòng bị tràn dung dịch ra ngoài.
-Nếu như mẫu xét nghiệm đến được phòng thí nghiệm trong vòng 24 giờ, hầu như các căn nguyên gây bệnh là vi khuẩn vẫn tồn tại trong điều kiện vận chuyển ở nhiệt độ môi trường.
3. QUY TRÌNH SƠ CỨU BAN ĐẦU KHI BỊ TIẾP XÚC TRỰC TIẾP VỚI CHẤT NHIỄM TRÙNG
3.1. Tai nạn khi bị kim tiêm làm bị thương
Một nguy cơ được coi là nghiêm trọng khi bị kim tiêm đâm làm bị thương, thậm chí là không thấy máu chảy ra và kim tiêm cũng không bị gãy.
-Dội ngay nước vào chỗ bị kim đâm và rửa bằng xà phòng.
-Nếu cần thiết thì phải băng lại.
-Ngay lập tức báo cáo tại nạn với người phụ trách và bác sĩ có trách nhiệm.
3.2. Tại nạn khi tiếp xúc với các chất nhiễm trùng
Tai nạn này bao gồm bất kỳ tiếp xúc nào không được bảo vệ giữa chất có khả năng nhiễm trùng với chỗ da bị trầy xước, mồm, mũi và mắt.
-Dội ngay nước sạch và nước xà phòng vào vùng bị tiếp xúc. Dùng nước nước sạch hoặc nước muối để cho miệng và mắt.
-Ngay lập tức báo cáo tại nạn với người phụ trách và bác sĩ có trách nhiệm.
3.3. Các hoạt động ngay lập tức sau khi xảy ra tai nạn
Không quan tâm đến tác nhân gây bệnh đang được điều tra, mà phải tuân thủ ngay một quy trình sau khi bị tiếp xúc với chất có khả năng nhiễm trùng. Các bệnh nhân có thể bị nhiễm với các tác nhân gây bệnh khác mà không liên quan đến điều tra vụ dịch. Ví dụ như, virus viêm gan B hoặc HIV. Các mẫu máu cần được thu thập ngay lập tức từ nhân viên y tế đã bị tiếp xúc, và nếu có thể thì lấy cả từ bệnh nhân. Nếu có thể, cần phải xây dựng một quy trình điều trị lâu dài cho những nhân viên y tế bị tiếp xúc với chất nhiễm trùng trong uqá trình điều tra dịch.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Collection, Handling, and Sipment of Microbiological Specimens. Forney., John E., Editor. Public Health Service Publication, Number 976, 1968.
2. Guidelines for the collection of clinical specimens during fiel investigation of outbreaks. WHO/CDS/CSR/2000.4.
3. Manual of Clinical Microbiology. Blair., John E., Lennette., Edwin H., Joseph P. American Society for Microbiology, Bethesda, Maryland, 1970.