Điều 25
Tàu thuỷ và tàu bay quá cảnh
Trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của các hiệp ước quốc tế, căn cứ Điều 27
và
Điều 43, Quốc gia không được áp dụng các biện pháp y tế đối với:
(a) tàu thuỷ không đến từ khu vực bị ảnh hưởng, quá cảnh qua một eo biển hay đường thuỷ trong lãnh thổ của Quốc gia tới cảng thuộc lãnh thổ của một Quốc gia khác. Bất cứ tàu thuỷ nào thuộc diện này cũng phải được tiếp tục hành trình, tiếp nhiên liệu, nước, thức ăn và các nhu yếu phẩm khác dưới sự giám sát của cơ quan thẩm quyền;
(b) tàu thuỷ đi qua vùng nước trong phạm vi chủ quyền của Quốc gia nhưng không cập cảng hoặc bờ biển;
(c) tàu bay quá cảnh tại sân bay thuộc phạm vi chủ quyền của Quốc gia mà không cho người lên, xuống hoặc bốc dỡ hàng hoá, trừ tàu bay đi vào khu vực đặc biệt của sân bay. Tuy nhiên, bất cứ tàu bay nào thuộc diện này cũng phải được phép cất cánh, tiếp nhiên liệu, nước, thức ăn và các nhu yếu phẩm khác dưới sự giám sát của cơ quan thẩm quyền.
Điều 26
Xe khách, tàu hỏa và xe tải quá cảnh
Trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của các hiệp ước quốc tế, căn cứ Điều 27 và Điều 43, Quốc gia không được áp dụng các biện pháp y tế đối với xe khách, tàu hỏa, xe tải không đến từ khu vực bị ảnh hưởng, đi qua lãnh thổ mà không cho người lên, xuống hoặc bốc dỡ hàng.
Điều 27
Phương tiện vận tải bị ảnh hưởng
1. Nếu phát hiện trên phương tiện vận tải có dấu hiệu hoặc triệu chứng lâm sàng và có thông tin hoặc bằng chứng thực tế về nguy cơ sức khoẻ cộng đồng, kể nguồn bệnh và ô nhiễm, cơ quan thẩm quyền sẽ xem phương tiện đó là phương tiện bị ảnh hưởng và có thể:
(a) thực hiện hoặc giám sát thực hiện việc diệt khuẩn, tẩy uế, diệt côn trùng hoặc diệt chuột trên phương tiện vận tải;
(b) quyết định biện pháp kỹ thuật đối với từng trường hợp để bảo đảm đủ mức độ kiểm soát nguy cơ sức khoẻ cộng đồng theo quy định của Điều lệ. Nên áp dụng biện pháp hoặc nguyên vật liệu được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo, trừ phi cơ quan thẩm quyền có biện pháp an toàn và tin cậy hơn.
Cơ quan thẩm quyền có thể thực hiện biện pháp y tế bổ sung, bao gồm cách ly phương tiện vận tải khi cần để ngăn cản sự lây lan của bệnh. Cần thông báo các biện pháp bổ sung này cho Đầu mối Quốc gia về Điều lệ Y tế quốc tế.
2. Nếu cơ quan thẩm quyền tại cửa khẩu không thể tiến hành biện pháp kiểm soát theo quy định tại Điều này, thì phương tiện bị ảnh hưởng được phép khởi hành với điều kiện:
(a) khi phương tiện vận tải bắt đầu khởi hành, cơ quan thẩm quyền sẽ thông báo cho cơ quan thẩm quyền tại cửa khẩu đến kế tiếp của phương tiện mọi thông tin quy định tại điểm (b);
(b) với tàu thuỷ, ghi bằng chứng phát hiện được và các biện pháp kiểm soát cần áp dụng vào Giấy chứng nhận kiểm soát vệ sinh tàu thuỷ.
Phương tiện vận tải sẽ được phép tiếp tục hành trình, tiếp nhiên liệu, nước, thức ăn và các nhu yếu phẩm khác dưới sự giám sát của cơ quan thẩm quyền.
3. Phương tiện được xem là đã hết bị ảnh hưởng khi cơ quan thẩm quyền thấy:
(a) đã thực hiện hiệu quả các biện pháp được quy định tại khoản 1 Điều này;
(b) trên phương tiện không còn điều kiện có thể gây nguy cơ sức khoẻ cộng đồng.
Điều 28
Tàu thuỷ và tàu bay đến cửa khẩu
1. Theo Điều 43 hoặc quy định của các Hiệp ước quốc tế, không được ngăn cản tàu thuỷ hoặc tàu bay ghé qua bất cứ cửa khẩu nào vì lý do sức khoẻ cộng đồng. Tuy nhiên, nếu cửa khẩu không có đủ trang thiết bị để tiến hành các biện pháp y tế theo Điều lệ, thì tàu thủy hoặc tàu bay phải được đi tiếp tới cửa khẩu gần nhất và thuận tiện nhất có thể thực hiện các biện pháp y tế, ngoại trừ tàu thủy hoặc tàu bay có vấn đề gây mất an toàn cho việc di chuyển này.
2. Theo Điều 43 hoặc quy định của các Hiệp ước quốc tế, Quốc gia không được từ chối cho tàu thủy hoặc tàu bay tự do cập bến vì lý do sức khoẻ cộng đồng, đặc biệt không được ngăn cản việc cho hành khách lên, xuống, hay bốc, dỡ hàng, hoặc tiếp nhiên liệu, nước, thức ăn và các nhu yếu phẩm khác. Quốc gia có thể cho phép tự do cập bến để kiểm tra và nếu phát hiện thấy có tác nhân gây bệnh hoặc ô nhiễm trên tàu, thì tiến hành diệt khuẩn, tẩy uế, diệt côn trùng, diệt chuột, hoặc các biện pháp cần thiết khác để ngăn ngừa lây lan bệnh hoặc ô nhiễm.
3. Theo khoản trên và khi khả thi, Quốc gia sẽ thông báo cho phép tự do cập bến bằng radio hoặc phương tiện thông tin khác cho tàu thủy hoặc tàu bay trên cơ sở thông tin nhận được trước khi tàu đến nếu theo đánh giá của Quốc gia thì tàu không gây lây lan bệnh.
4. Trước khi tàu thuỷ hoặc tàu bay đến huyền trưởng tàu thủy, cơ trưởng tàu bay hoặc người đại diện của họ phải thông báo cho bến cảng hoặc sân bay nơi đến càng sớm càng tốt mọi trường hợp ốm đau có biểu hiện bệnh truyền nhiễm hoặc bằng chứng về nguy cơ sức khỏe cộng đồng trên tàu. Phải chuyển ngay lập tức thông tin này tới cơ quan thẩm quyền của bến cảng hoặc sân bay. Trong trường hợp khẩn cấp, thuyền trưởng, cơ trưởng phải thông báo trực tiếp tới người có thẩm quyền liên quan tại bến cảng hoặc sân bay.
5. Nếu cơ trưởng tàu bay hoặc thuyền trưởng tàu thủy không đủ năng lực kiểm soát tình hình, phải hạ cánh ngoài sân bay hoặc thả neo ngoài cảng, thì áp dụng các biện pháp sau:
(a) Ngay lập tức, cơ trưởng tàu bay hoặc thuyền trưởng tàu thủy hoặc người chịu trách nhiệm bằng mọi cách liên lạc với cơ quan thẩm quyền gần nhất;
(b) ngay sau khi cơ quan thẩm quyền nhận được thông báo hạ cánh của tàu bay hoặc thả neo của tàu thuỷ, cơ quan thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp y tế do Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo hoặc các biện pháp y tế khác theo quy định tại Điều lệ;
(c) trừ khi có yêu cầu khẩn cấp hoặc cần thông tin cho cơ quan thẩm quyền, không hành khách nào trên tàu bay hoặc tàu thủy được rời khỏi khu vực lân cận của tàu bay, tàu thủy, không được bốc dỡ hàng hóa ra khỏi tàu bay, tàu thủy, nếu chưa được phép của cơ quan thẩm quyền;
(d) khi đã thực hiện xong các biện pháp y tế, tàu bay hoặc tàu thủy có thể đi tiếp tới sân bay hoặc bến cảng đích, hoặc nếu sân bay hoặc bến cảng đích không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật thì đến sân bay hoặc bến cảng có điều kiện thuận tiện.
6. Ngoài quy định trong Điều này, khi cần thuyền trưởng tàu thủy hoặc cơ trưởng tàu bay có thể thực hiện các biện pháp khẩn cấp vì sức khỏe và an toàn cho hành khách. Thuyền trưởng hoặc cơ trưởng phải thông báo cho cơ quan thẩm quyền càng sớm càng tốt các biện pháp được thực hiện theo khoản này.
Điều 29
Xe khách, tàu hỏa và xe tải đến cửa khẩu
Tổ chức Y tế thế giới sẽ tư vấn với Quốc gia để đưa ra hướng dẫn áp dụng biện pháp y tế đối với xe khách, tàu hỏa và xe tải đến cửa khẩu hoặc đi qua lãnh thổ Quốc gia.
Điều 30
Giám sát y tế đối với hành khách
Theo Điều 43 hoặc theo quy định của các Hiệp ước quốc tế, hành khách bị nghi ngờ sẽ được giám sát y tế tại nơi đến và có thể tiếp tục hành trình của mình nếu trước mắt họ không gây nguy cơ sức khoẻ cộng đồng. Quốc gia sẽ thông báo cho cơ quan thẩm quyền tại cửa khẩu nơi đến (nếu biết) của hành khách. Tại nơi đến, hành khách phải khai báo với cơ quan thẩm quyền.
Điều 31
Biện pháp y tế đối với hành khách nhập cảnh
1. Không coi thăm khám thực thể, tiêm chủng hoặc áp dụng biện pháp dự phòng khác là điều kiện để nhập cảnh đối với hành khách khi đến Quốc gia. Tuy nhiên, theo qui định tại các Điều 32, 42 và 45 của Điều lệ này, không ngăn cấm Quốc gia thực hiện thăm khám y tế, tiêm chủng hoặc áp dụng biện pháp dự phòng khác hoặc yêu cầu có chứng nhận tiêm chủng hoặc biện pháp dự phòng khác trong các trường hợp sau:
(a) khi cần phải xác định có nguy cơ sức khoẻ cộng đồng hay không;
(b) là điều kiện nhập cảnh đối với hành khách có nhu cầu cư trú tạm thời hoặc lâu dài;
(c) là điều kiện để nhập cảnh đối với hành khách theo qui định tại Điều 43 hoặc Phụ lục 6và 7;
(d) những nội dung có thể phải thực hiện theo qui định tại Điều 23.
2. Nếu hành khách mà Quốc gia yêu cầu được kiểm tra y tế, tiêm chủng hoặc áp dụng biện pháp dự phòng khác theo quy định tại khoản 1 Điều này không chấp thuận các biện pháp này hoặc từ chối cung cấp thông tin, tài liệu nêu tại khoản 1(a) Điều 23, thì Quốc gia có thể từ chối nhập cảnh hành khách đó theo quy định tại các Điều 32, 42 và 45. Nếu có bằng chứng về nguy cơ sức khỏe cộng đồng, thì tùy theo luật pháp Quốc gia và để đạt mức độ cần thiết trong việc phải kiểm soát nguy cơ này, Quốc gia có thể buộc hành khách thực hiện hoặc tư vấn cho hành khách thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 23:
(a) thăm khám ở mức độ ít tác động lên cơ thể và ít gây phiền hà nhất nhưng vẫn phát hiện được nguy cơ sức khoẻ cộng đồng;
(b) tiêm chủng hoặc áp dụng biện pháp dự phòng khác;
(c) các biện pháp y tế bổ sung để ngăn ngừa hoặc kiểm soát sự lây lan bệnh, kể cả cách ly, kiểm dịch hoặc giám sát y tế đối với hành khách.
Điều 32
Đối xử với hành khách
Khi thực hiện các biện pháp y tế theo Điều lệ, Quốc gia cần tôn trọng phẩm giá, nhân quyền, quyền tự do cơ bản của hành khách và hạn chế mọi bất tiện cho hành khách, bao gồm:
(a) đối xử lịch sự và tôn trọng mọi hành khách;
(b) quan tâm đến các đặc điểm giới tính, văn hóa xã hội, dân tộc hoặc tôn giáo của hành khách;
(c) cung cấp hoặc bố trí đủ thức ăn, nước, nơi ăn ở thích hợp và y phục, bảo vệ hành lý và các tài sản khác, xử lý y tế thích hợp, phương tiện truyền thông cần thiết - tốt nhất là sử dụng ngôn ngữ hành khách có thể hiểu được và các trợ giúp khác cho hành khách cần được kiểm dịch, cách ly, kiểm tra y tế hoặc áp dụng các thủ tục khác vì mục đích sức khoẻ cộng đồng.
Điều 33
Hàng hoá quá cảnh
Ngoại trừ quy định của các Hiệp ước quốc tế mà Quốc gia là thành viên, theo quy định của Điều 43, hàng hóa không phải là động vật sống nếu quá cảnh mà không chuyển phương tiện thì không bị áp dụng các biện pháp y tế theo Điều lệ hoặc không bị ngăn cản vì mục đích sức khỏe cộng đồng.
Điều 34
Công te nơ và khu vực bốc dỡ công te nơ
1. Quốc gia phải bảo đảm phương tiện vận chuyển công te nơ không bị nhiễm bệnh, ô nhiễm, không có véc tơ và nguồn truyền bệnh, đặc biệt là trong quá trình đóng gói.
2. ở mức cao nhất có thể được, Quốc gia phải bảo đảm khu vực bốc dỡ công te nơ không bị nhiễm khuẩn hoặc ô nhiễm, không có véc tơ và nguồn truyền nhiễm.
3. Theo nhận định của Quốc gia, khi lưu lượng giao thông quốc tế quá lớn, cơ quan thẩm quyền cần tiến hành các biện pháp khả thi phù hợp với Điều lệ, bao gồm kiểm tra, đánh giá tình trạng vệ sinh của công te nơ và khu vực bốc dỡ công te nơ để bảo đảm thực hiện đầy đủ những qui định trong Điều lệ.
4. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra và cách ly công te nơ tại khu vực bốc dỡ công te nơ.
5. Người nhận và người gửi công te nơ phải cố gắng tránh ô nhiễm chéo khi sử dụng phương tiện bốc dỡ công te nơ đa dạng.
Điều 35
Quy định chung
Không yêu cầu cung cấp tài liệu y tế nào khác ngoài tài liệu qui định trong Điều lệ hoặc khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới. Tuy nhiên Điều này không áp dụng đối với hành khách nhập cảnh để cư trú tạm thời hoặc lâu dài, cũng như trường hợp có yêu cầu cung cấp tài liệu y tế của hàng hoá trong thương mại quốc tế theo các Hiệp ước quốc tế liên quan. Cơ quan thẩm quyền có thể yêu cầu hành khách hoàn thiện mẫu thông tin liên hệ và bảng hỏi về sức khỏe của hành khách theo các qui định tại Điều 23.
Điều 36
Giấy chứng nhận tiêm chủng hoặc biện pháp dự phòng khác
1. Việc tiêm chủng hoặc áp dụng biện pháp dự phòng cho hành khách theo Điều lệ hoặc theo khuyến cáo và giấy chứng nhận phải phù hợp với quy định tại Phụ lục 6, trường hợp liên quan đến bệnh cụ thể sử dụng Phụ lục 7.
2. Không được từ chối nhập cảnh hành khách có giấy chứng nhận tiêm chủng hoặc áp dụng biện pháp dự phòng khác qui định tại các Phụ lục 6 và 7 vì lý do bệnh được ghi trong giấy chứng nhận, ngay cả khi hành khách đến từ khu vực ảnh hưởng, trừ khi cơ quan thẩm quyền kiểm tra phát hiện thấy dấu hiệu hoặc bằng chứng khảng định rằng việc tiêm chủng hoặc áp dụng biện pháp dự phòng khác không hiệu quả.
Điều 37
Bản khai báo y tế hàng hải
1. Trừ trường hợp Quốc gia nơi tàu đến không yêu cầu, Trưởng tàu trước khi tới cảng đầu tiên thuộc lãnh thổ của Quốc gia phải đánh giá tình trạng y tế trên tàu. Trước hoặc khi tàu đến cảng, tùy theo yêu cầu của Quốc gia, trưởng tàu phải hoàn chỉnh Bản khai báo y tế hàng hải có chữ ký của bác sỹ tàu (nếu có) và gửi cho cơ quan thẩm quyền tại cảng.
2. Trưởng tàu hoặc bác sỹ (nếu có) phải cung cấp các thông tin theo yêu cầu của cơ quan thẩm quyền về điều kiện y tế trên tàu trong hành trình quốc tế.
3. Bản khai báo y tế hàng hải phải được thực hiện theo mẫu qui định tại Phụ lục 8.
4. Quốc gia có thể quyết định:
(a) miễn nộp Bản khai báo y tế hàng hải đối với tất cả các tàu đến;
(b) yêu cầu nộp Bản khai báo y tế hàng hải theo khuyến cáo đối với các tàu đến từ vùng bị ảnh hưởng hoặc tàu mang tác nhân gây bệnh hoặc ô nhiễm.
Quốc gia phải thông báo cho chủ tàu hoặc người đại diện của họ về yêu cầu này.
Điều 38
Bản khai báo y tế hàng không
1. Trừ trường hợp Quốc gia nơi tàu bay đến không yêu cầu, cơ trưởng tàu bay hoặc người đại diện, khi tàu bay đang bay hoặc khi hạ cánh xuống sân bay đầu tiên trong lãnh thổ của Quốc gia, phải hoàn thành và nộp cho cơ quan thẩm quyền tại sân bay Bản khai báo y tế hàng không theo mẫu quy định tại Phụ lục 9.
2. Cơ trưởng tàu bay hoặc người đại diện phải cung cấp mọi thông tin theo yêu cầu của Quốc gia về tình trạng y tế trên phương tiện trong hành trình quốc tế và các biện pháp y tế được áp dụng trên tàu bay.
3. Quốc gia có thể quyết định:
(a) miễn nộp Bản khai báo y tế hàng không cho tất cả các tàu bay đến;
(b) yêu cầu nộp Bản khai báo y tế hàng không theo khuyến cáo đối với tàu bay đến từ vùng bị ảnh hưởng hoặc tàu bay mang tác nhân gây bệnh hoặc ô nhiễm. Quốc gia phải thông báo cho chủ tàu hoặc người đại diện của họ về yêu cầu này
Quốc gia phải thông báo cho cơ trưởng tàu bay hoặc người đại diện những yêu cầu này.
Điều 39
Chứng nhận vệ sinh tàu thủy
1. Chứng nhận kiểm soát vệ sinh tàu thủy và Chứng nhận miễn kiểm soát vệ sinh tàu thủy có giá trị tối đa sáu tháng. Có thể kéo dài thời hạn này thêm một tháng nếu không thể hoàn thành các biện pháp kiểm tra hoặc kiểm soát theo yêu cầu tại cảng.
2. Nếu trên tàu không có Chứng nhận kiểm soát vệ sinh tàu thủy hoặc Chứng nhận miễn kiểm soát vệ sinh tàu thủy có giá trị, hoặc nếu phát hiện có bằng chứng nguy cơ sức khoẻ cộng đồng, Quốc gia có thể tiến hành theo quy định tại khoản 1 Điều 27.
3. Các giấy chứng nhận đề cập trong Điều này được quy định tại Phụ lục 3.
4. Nếu có thể, phải thực hiện các biện pháp kiểm soát khi tàu thuỷ và các khoang chứa hàng trong tình trạng không tải. Trường hợp tàu có chứa nước dằn tàu thì phải thực hiện các biện pháp kiểm soát trước khi đưa hàng lên.
5. Khi hoàn thành các biện pháp kiểm soát theo yêu cầu, cơ quan thẩm quyền sẽ cấp Giấy chứng nhận kiểm soát vệ sinh tàu thủy, ghi rõ các bằng chứng phát hiện được và biện pháp kiểm soát đã thực hiện.
6. Cơ quan thẩm quyền có thể cấp Giấy chứng nhận miễn kiểm soát vệ sinh tàu thủy tại bất cứ cảng nào theo quy định tại Điều 20 nếu tàu thủy đó không có tác nhân gây bệnh, ô nhiễm, véc tơ và nguồn truyền bệnh. Chỉ được cấp Giấy chứng nhận này khi việc kiểm tra tàu thủy được thực hiện khi tàu thuỷ và các khoang chứa hàng trong tình trạng không tải hoặc khi tàu thuỷ chỉ chứa nước dằn tàu hoặc vật liệu khác.
7. Nếu đã tiến hành các biện pháp kiểm soát theo quy định nhưng theo nhận định của cơ quan thẩm quyền tại cảng, kết quả thu được chưa đạt yêu cầu thì cơ quan đó sẽ ghi điều này vào Giấy chứng nhận kiểm soát vệ sinh tàu thủy.
Điều 40
Phí thực hiện các biện pháp y tế đối với hành khách
1. Trừ những hành khách nhập cảnh với mục đích cư trú tạm thời hoặc lâu dài và trừ những qui định tại khoản 2 Điều này, theo quy định của Điều lệ này Quốc gia không được thu phí thực hiện các biện pháp bảo vệ sức khoẻ cộng đồng trong trường hợp sau:
(a) kiểm tra y tế theo qui định của Điều lệ hoặc kiểm tra bổ sung theo yêu cầu của Quốc gia để xác định tình trạng sức khoẻ của hành khách;
(b) tiêm chủng hoặc áp dụng biện pháp dự phòng khác cho hành khách nếu các biện pháp này không phải là quy định đã được công bố, hoặc là quy định được công bố chưa đến 10 ngày trước khi thực hiện cho hành khách;
(c) cách ly hoặc kiểm dịch đối với hành khách;
(d) cấp giấy chứng nhận cho hành khách để xác nhận biện pháp y tế đã áp dụng và ngày thực hiện biện pháp đó;
(e) áp dụng biện pháp y tế đối với hành lý xách tay của hành khách.
2. Quốc gia có thể thu phí thực hiện biện pháp y tế không qui định tại khoản 1 Điều này, kể cả những biện pháp chủ yếu vì lợi ích của hành khách.
3. Khi thu phí thực hiện biện pháp y tế đối với hành khách theo quy định của Điều lệ này, Quốc gia chỉ được có một biểu giá và các phí phải:
(a) tuân thủ biểu giá này;
(b) không vượt quá chi phí thực tế;
(c) việc thu phí không phân biệt quốc tịch, quê quán, hoặc nơi ở của hành khách.
4. Biểu giá và mọi điều chỉnh về sau, phải được công bố ít nhất 10 ngày trước khi thực hiện thu phí.
5. Điều lệ này không ngăn cấm Quốc gia tìm cách bù đắp chi phí phải gánh chịu khi áp dụng biện pháp y tế qui định tại khoản 1 Điều này đối với:
(a) chủ phương tiện hoặc chủ sử dụng lao động;
(b) các nguồn bảo hiểm có liên quan.
6. Trong bất cứ trường hợp nào, hành khách hoặc chủ phương tiện cũng không được từ chối trả phí theo qui định tại khoản 1 hoặc 2 Điều này khi rời khỏi lãnh thổ của Quốc gia.
Điều 41
Phí đối với hành lý, hàng hóa, công te nơ,
phương tiện vận tải và bưu phẩm
1. Trong việc thu phí thực hiện biện pháp y tế đối với hành lý, hàng hóa, công te nơ, phương tiện vận tải và bưu phẩm theo quy định của Điều lệ này, Quốc gia chỉ được có một biểu giá thống nhất và các phí phải:
(a) tuân thủ biểu giá này;
(b) không vượt quá chi phí thực tế;
(c) việc thu phí không phân biệt quốc tịch, cờ quốc tịch, tình trạng đăng ký hoặc chủ sở hữu hành lý, hàng hóa, công te nơ, phương tiện vận tải và bưu phẩm. Đặc biệt, không được phân biệt giữa hành lý, hàng hóa, công te nơ, phương tiện và bưu phẩm trong nước và nước ngoài.
2. Biểu giá và mọi điều chỉnh về sau phải được công bố ít nhất 10 ngày trước khi thực hiện thu phí.
Điều 42
Thực hiện biện pháp y tế
Các biện pháp y tế qui định tại Điều lệ phải được triển khai và hoàn thành không chậm trễ, phải minh bạch và không có sự đối xử phân biệt.
Điều 43
Biện pháp y tế bổ sung
1. Điều lệ không ngăn cấm Quốc gia thực hiện các biện pháp y tế phù hợp với pháp luật và bổn phận của Quốc gia theo luật pháp quốc tế, nhằm đáp ứng với nguy cơ sức khoẻ cộng đồng hoặc tình trạng khẩn cấp về sức khoẻ cộng đồng quốc tế, nếu các biện pháp đó:
(a) đạt mức độ bảo vệ sức khỏe bằng hoặc cao hơn khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới;
(b) ngoài qui định tại các Điều 25, 26, khoản 1 và 2 Điều 28, Điều 30, khoản 1 (c) Điều 31 và Điều 33,
việc áp dụng các biện pháp y tế bổ sung phải phù hợp với qui định của Điều lệ.
Biện pháp bổ sung không được làm tăng cản trở lưu thông quốc tế, tăng gây phiền hà hoặc tác động lên cơ thể hành khách hơn các biện pháp thay thế khác đạt mức độ bảo vệ sức khoẻ thích hợp.
2. Để quyết định thực hiện biện pháp y tế qui định tại khoản 1 Điều này hoặc các biện pháp y tế bổ sung theo khoản 2 Điều 23, khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 28 và khoản 2(c) Điều 31, Quốc gia phải dựa vào:
(a) các nguyên tắc khoa học;
(b) bằng chứng khoa học về nguy cơ đối với sức khỏe con người, hoặc khi không có đủ bằng chứng thì dựa vào thông tin từ Tổ chức y tế thế giới, các tổ chức liên chính phủ và tổ chức quốc tế liên quan khác;
(c) khuyến cáo và hướng dẫn cụ thể của Tổ chức y tế thế giới.
3. Nếu việc thực hiện biện pháp y tế bổ sung theo qui định tại khoản 1 Điều này ảnh hưởng đáng kể tới lưu thông quốc tế, Quốc gia phải thông báo cho Tổ chức y tế thế giới lý do giải trình về sức khoẻ cộng đồng và những thông tin khoa học thích hợp khác. Tổ chức y tế thế giới sẽ chia sẻ thông tin này với các Quốc gia khác. “ảnh hưởng đáng kể“ tới lưu thông quốc tế trong Điều này được hiểu là từ chối hoặc trì hoãn trên 24 giờ việc nhập cảnh, xuất cảnh, nhập khẩu, xuất khẩu của hành khách, hành lý, hàng hóa, công te nơ, phương tiện vận tải và các vật thể khác.
4. Sau khi đánh giá thông tin theo qui định tại các khoản 3 và 5 của Điều này và những thông tin khác có liên quan, Tổ chức y tế thế giới có thể yêu cầu Quốc gia xem xét lại việc áp dụng các biện pháp y tế bổ sung.
5. Nếu việc thực hiện biện pháp y tế bổ sung theo quy định tại các khoản 1 và 2 của Điều này ảnh hưởng đáng kể tới lưu thông quốc tế, thì trong vòng 48 giờ Quốc gia phải thông báo cho Tổ chức y tế thế giới về biện pháp đó và lý do thực hiện, trừ khi nó được quy định trong khuyến cáo tạm thời hoặc khuyến cáo chính thức.
6. Quốc gia thực hiện biện pháp y tế theo khoản 1 hoặc 2 của Điều này, trong vòng 3 tháng phải xem xét lại biện pháp đã thực hiện theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới và các tiêu chuẩn nêu tại khoản 2 Điều này.
7. Không tổn hại đến quyền lợi được quy định tại điều 56, bất cứ Quốc gia nào bị ảnh hưởng từ việc Quốc gia khác thực hiện biện pháp nêu tại khoản 1 hoặc 2 của Điều này có thể yêu cầu Quốc gia đó đàm phán để làm sáng tỏ các thông tin khoa học và lý do sức khoẻ cộng đồng dẫn đến việc phải áp dụng biện pháp và tìm ra giải pháp chung.
8. Có thể áp dụng những quy định của Điều này để thực hiện các biện pháp cần thiết đối với hành khách đi theo đoàn.
Điều 44
Hợp tác và trợ giúp
1. Trong phạm vi có thể, các Quốc gia sẽ hợp tác với nhau trong những hoạt động sau:
(a) phát hiện, đánh giá và đáp ứng với các sự kiện theo qui định tại Điều lệ này.
(b) cung cấp, hoặc tạo điều kiện thuận lợi về hợp tác kỹ thuật và hỗ trợ hậu cần, đặc biệt trong việc phát triển, tăng cường và duy trì năng lực y tế công cộng theo qui định của Điều lệ;
(c) huy động các nguồn tài chính để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nghĩa vụ theo qui định tại Điều lệ;
(d) xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và quy định việc tổ chức thực hiện Điều lệ này.
2. Trong phạm vi có thể, khi được yêu cầu, Tổ chức y tế thế giới sẽ hợp tác với Quốc gia trong việc:
(a) đánh giá năng lực y tế công cộng để tạo thuận lợi cho việc thực hiện hiệu quả các qui định của Điều lệ;
(b) cung cấp hoặc tạo điều kiện thuận lợi về hợp tác kỹ thuật và hỗ trợ hậu cần cho Quốc gia;
(c) huy động các nguồn tài chính để hỗ trợ các Quốc gia đang phát triển xây dựng, tăng cường và duy trì những năng lực quy định tại Phụ lục 1.
3. Có thể thực hiện việc hợp tác theo qui định tại Điều này qua nhiều kênh, bao gồm hợp tác song phương, qua các mạng lưới khu vực và cơ quan khu vực của Tổ chức y tế thế giới, qua các tổ chức liên chính phủ và tổ chức quốc tế.
Điều 45
Xử lý thông tin cá nhân
1. Phải giữ bí mật và xử lý ẩn danh thông tin về mỗi cá nhân đã được xác định hoặc có thể được xác định do Quốc gia thu thập hoặc nhận được từ Quốc gia khác hoặc từ Tổ chức y tế thế giới theo quy định của Điều lệ theo đúng qui định của luật pháp Quốc gia.
2. Mặc dù theo khoản 1, Quốc gia có thể công khai và xử lý thông tin cá nhân khi cần vì mục đích đánh giá và quản lý nguy cơ sức khoẻ cộng đồng, nhưng theo luật pháp, Quốc gia và Tổ chức y tế thế giới phải bảo đảm rằng thông tin cá nhân:
(a) phải được xử lý minh bạch và đúng luật pháp, không được xử lý thêm ngoài mục đích đó;
(b) đầy đủ, thích hợp và không vượt quá mục đích liên quan;
(c) chính xác và nếu cần, phải cập nhật; phải thực hiện tất cả các bước cần thiết để bảo đảm loại bỏ hoặc chỉnh sửa những thông tin không chính xác hoặc chưa đầy đủ;
(d) không lưu giữ lâu hơn cần thiết.
3. Theo yêu cầu của cá nhân, Tổ chức y tế thế giới sẽ cung cấp cho cá nhân đó những thông tin về bản thân họ theo quy định tại Điều này dưới hình thức dễ hiểu, không trì hoãn một cách phi lý, không đòi hỏi trả phí và khi cần, đồng ý cho sửa đổi.
Điều 46
Vận chuyển và xử lý các chất sinh học, thuốc thử
và vật liệu dùng trong chẩn đoán
Quốc gia căn cứ vào luật pháp quốc gia và tham khảo tài liệu hướng dẫn có liên quan của quốc tế, phải tạo thuận lợi cho việc vận chuyển, nhập khẩu, xuất khẩu, xử lý và tiêu hủy các chất sinh học, mẫu vật, thuốc thử và vật liệu chẩn đoán khác phục vụ cho việc xác minh và cho các mục đích sức khoẻ cộng đồng theo qui định của Điều lệ này.