Thời tiết











  Thường quy và Hướng dẫn kỹ thuật-Kiểm dịch Y tế quốc tế
Điều lệ Y tế Quốc tế (từ Điều 2 -> Điều 24)
 

Điều 2

Mục đích và phạm vi

Mục đích và phạm vi của Điều lệ Y tế quốc tế là ngăn ngừa, bảo vệ và phòng chống sự lây lan bệnh trên phạm vi quốc tế, quy định các biện pháp đáp ứng y tế công cộng phù hợp với các nguy cơ sức khỏe cộng đồng, tránh những trở ngại không cần thiết đối với lưu thông và thương mại quốc tế.

Điều 3

Nguyên tắc

1.     Việc thực hiện Điều lệ phải tôn trọng đầy đủ nhân phẩm, nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của con người.

2.     Hiến chương Liên hiệp quốc và Công ước của Tổ chức Y tế thế giới sẽ hướng dẫn thực hiện Điều lệ này.

3.     Việc thực hiện Điều lệ phải mang tính toàn cầu để bảo vệ tất cả mọi người trên thế giới khỏi sự lây lan của bệnh.

4.      Trên cơ sở Hiến chương Liên hiệp quốc và quy định của quốc tế, các Quốc gia có quyền xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và thực hiện văn bản đó phù hợp với chính sách y tế của mình để nâng cao mục đích của Điều lệ.

Điều 4

Cơ quan chức trách

1.     Mỗi Quốc gia sẽ chỉ định hoặc thiết lập một Đầu mối Quốc gia về Điều lệ Y tế quốc tế để chịu trách nhiệm thực hiện các biện pháp y tế theo quy định của Điều lệ này.

2.     Bất cứ lúc nào Đầu mối Quốc gia về Điều lệ Y tế quốc tế cũng có thể thông tin được với Đầu mối liên lạc về Điều lệ Y tế quốc tế của Tổ chức Y tế thế giới theo quy định tại khoản 3 Điều này. Chức năng của Đầu mối Quốc gia về Điều lệ Y tế quốc tế bao gồm:

(a)   thay mặt Quốc gia gửi tới Đầu mối liên lạc về Điều lệ Y tế quốc tế của Tổ chức Y tế thế giới thông tin khẩn cấp liên quan đến việc thực hiện Điều lệ này, cụ thể theo quy định tại Điều 6 đến Điều 12;

(b)  phổ biến thông tin tới các cơ quan, ban ngành liên quan trong nước, đồng thời bổ sung thông tin từ các cơ quan có trách nhiệm giám sát và báo cáo, cơ quan cửa khẩu, cơ quan y tế công cộng, phòng khám, bệnh viện và các cơ quan, ban ngành khác của chính phủ.

3.     Tổ chức Y tế thế giới sẽ chỉ định Đầu mối liên lạc về Điều lệ Y tế quốc tế của Tổ chức Y tế thế giới. Đầu mối này sẽ duy trì liên lạc với Đầu mối Quốc gia bất cứ lúc nào. Đầu mối liên lạc của Tổ chức Y tế thế giới sẽ gửi thông tin khẩn cấp liên quan đến việc thực hiện Điều lệ tới Đầu mối Quốc gia về Điều lệ Y tế quốc tế theo quy định tại Điều 6 đến Điều 12. Tổ chức Y tế thế giới có thể chỉ định đặt Đầu mối liên lạc của Tổ chức Y tế thế giới tại Tổng hành dinh Tổ chức Y tế thế giới và tại các văn phòng khu vực.

4.     Quốc gia sẽ cung cấp cho Tổ chức Y tế thế giới địa chỉ với Đầu mối Quốc gia, Tổ chức Y tế thế giới sẽ cung cấp cho Quốc gia địa chỉ liên hệ với Đầu mối liên lạc của Tổ chức Y tế thế giới. Địa chỉ liên hệ này sẽ được cập nhật và xác định lại hàng năm. Tổ chức Y tế thế giới sẽ cung cấp địa chỉ liên hệ của các Đầu mối Quốc gia của tất cả các Quốc gia mà Tổ chức Y tế thế giới nhận được theo quy định của Điều này.

Điều 6

Thông báo

1. Quốc gia phải đánh giá sự kiện đang xảy ra trong lãnh thổ theo sơ đồ tại Phụ lục 2. Thông qua Đầu mối Quốc gia, với phương tiện thông tin liên lạc hiệu quả nhất, Quốc gia phải thông báo cho Tổ chức Y tế thế giới tất cả các sự kiện có thể gây tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng trên lãnh thổ của mình trong vòng 24 giờ sau khi bắt đầu đánh giá theo sơ đồ hướng dẫn tại Phụ lục 2, kể cả những biện pháp y tế đáp ứng với các sự kiện đó. Nếu Tổ chức Y tế thế giới nhận được thông báo liên quan đến thẩm quyền của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Tổ chức Y tế thế giới sẽ lập tức thông báo cho IAEA.

2. Sau khi thông báo, Quốc gia sẽ tiếp tục trao đổi với Tổ chức Y tế thế giới những thông tin về sức khỏe cộng đồng liên quan đến sự kiện được thông báo một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời, bao gồm xác định ca bệnh, kết quả xét nghiệm, nguồn và loại nguy cơ, số ca mắc và chết, điều kiện ảnh hưởng tới sự lây lan của bệnh và biện pháp y tế đã thực hiện; khó khăn gặp phải và nhu cầu hỗ trợ để đáp ứng với khả năng gây tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng.

Điều 7

Chia sẽ thông tin khi có sự kiện bất thường hoặc

đột xuất về sức khỏe cộng đồng

Nếu Quốc gia có bằng chứng về sự kiện bất thường hoặc đột xuất về sức khỏe cộng đồng xảy ra trên lãnh thổ có thể gây tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng, bất kể căn nguyên hoặc nguồn gốc, thì Quốc gia phải cung cấp cho Tổ chức Y tế thế giới tất cả thông tin thích hợp theo quy định tại Điều 6.

Điều 8

Tư vấn

Trong trường hợp sự kiện xảy ra trên lãnh thổ mà không phải thông báo theo quy định tại Điều 6, đặc biệt là sự kiện không đủ thông tin để đưa ra quyết định, Quốc gia vẫn giữ liên lạc với Tổ chức Y tế thế giới thông qua Đầu mối Quốc gia để tham khảo ý kiến về những biện pháp y tế thích hợp theo quy định từ khoản 2 tới khoản 4 Điều 11. Quốc gia xảy ra sự kiện trên lãnh thổ có thể yêu cầu Tổ chức Y tế thế giới hỗ trợ để đánh giá bằng chứng dịch tễ học của Quốc gia đó.

Điều 9

Báo cáo khác

1.      Tổ chức Y tế thế giới sẽ xem xét báo cáo từ các nguồn thông báo và tư vấn khác và sẽ đánh giá những báo cáo này theo các nguyên tắc dịch tễ học, sau đó sẽ trao đổi thông tin với Quốc gia có sự kiện trên lãnh thổ. Theo quy định tại Điều 10, trước khi thực hiện hành động, Tổ chức Y tế thế giới sẽ cùng xem xét lại kết quả xác minh của Quốc gia. Tổ chức Y tế thế giới cũng sẽ thông báo cho các Quốc gia thông tin đã nhận được và nếu thông tin đó được chứng minh là đúng, Tổ chức Y tế thế giới vẫn có thể giữ bí mật nguồn cung cấp thông tin và sử dụng nguồn thông tin này theo quy định tại Điều 11.

2.      Quốc gia phải thông báo cho Tổ chức Y tế thế giới bằng các biện pháp khả thi trong vòng 24 giờ sau khi nhận được các bằng chứng về nguy cơ sức khỏe cộng đồng xảy ra bên ngoài lãnh thổ của mình mà có thể gây lây lan quốc tế qua việc xuất - nhập cảnh, xuất - nhập khẩu:

(a)   các ca bệnh ở người;

(b)  các véc tơ mang tác nhân gây bệnh hoặc ô nhiễm;

(c)  hàng hoá bị ô nhiễm.

Điều 10

Xác minh

1.      Tổ chức Y tế thế giới sẽ yêu cầu Quốc gia xác minh lại báo cáo từ các nguồn khác ngoài báo cáo và tư vấn về sự kiện có thể gây tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng được xem là đang xảy ra trên lãnh thổ của Quốc gia theo quy định tại Điều 9. Tổ chức Y tế thế giới sẽ thông báo cho các Quốc gia liên quan về những báo cáo đang cần xác minh.

2.      Theo quy định tại khoản trên và quy định tại Điều 9, khi Tổ chức Y tế thế giới yêu cầu, Quốc gia sẽ xác minh và cung cấp:

(a)   thư phúc đáp đã nhận được yêu cầu của Tổ chức Y tế thế giới trong vòng 24 giờ;

(b)  thông tin về sức khỏe cộng đồng liên quan đến sự kiện theo yêu cầu của Tổ chức Y tế thế giới trong vòng 24 giờ;

(c)  thông tin cho Tổ chức Y tế thế giới nội dung đánh giá theo quy định tại Điều 6, kể cả các thông tin liên quan như mô tả tại Điều đó.

3.      Khi Tổ chức Y tế thế giới nhận được thông tin về sự kiện có thể gây tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng, Tổ chức Y tế thế giới sẽ đề nghị Quốc gia liên quan phối hợp để đánh giá khả năng lây lan của bệnh trên phạm vi quốc tế, khả năng ảnh hưởng tới giao thông quốc tế và các biện pháp phòng chống tương ứng. Đồng thời Tổ chức Y tế thế giới cũng huy động các cơ quan, tổ chức quốc tế hỗ trợ Quốc gia trong việc triển khai đánh giá tại chỗ. Tổ chức Y tế thế giới sẽ cung cấp thông tin hỗ trợ nếu Quốc gia yêu cầu.

4.      Nếu Quốc gia không chấp nhận sự hợp tác, trong khi có bằng chứng về nguy cơ sức khỏe cộng đồng, Tổ chức Y tế thế giới có thể chia sẻ thông tin có được với các Quốc gia khác trong khi tiếp tục khuyến khích Quốc gia chấp nhận sự hợp tác.

Điều 11

Cung cấp thông tin của Tổ chức Y tế thế giới

1. Theo quy định tại khoản 2 Điều này, bằng các phương tiện tin cậy và hiệu quả nhất, Tổ chức Y tế thế giới sẽ gửi tới các Quốc gia và các tổ chức liên chính phủ thích hợp thông tin về sức khỏe cộng đồng mà Tổ chức Y tế thế giới nhận được theo quy định từ Điều 5 đến Điều 10, bao gồm những thông tin cần thiết để Quốc gia có thể đáp ứng với nguy cơ sức khỏe cộng đồng. Tổ chức Y tế thế giới sẽ trao đổi thông tin với những Quốc gia khác để giúp họ ngăn ngừa xảy ra các sự kiện tương tự.

2. Tổ chức Y tế thế giới sẽ sử dụng thông tin nhận được theo quy định tại Điều 6, Điều 8 và khoản 2 Điều 9 để xác minh, đánh giá và hỗ trợ theo quy định của Điều lệ này. Trừ khi có thỏa thuận khác với Quốc gia, Tổ chức Y tế thế giới sẽ không phổ biến những thông tin này cho các Quốc gia khác cho tới khi:

 (a) sự kiện được xác định là gây tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng quốc tế theo quy định tại Điều 12;

 (b) thông tin chứng tỏ sự lây lan của bệnh hoặc ô nhiễm trên phạm vi quốc tế đã được Tổ chức Y tế thế giới khẳng định theo các nguyên tắc dịch tễ học; hoặc

 (c) có bằng chứng cho thấy:

 (i) các biện pháp kiểm soát sự lây lan trên phạm vi quốc tế hầu như không thành công bởi tính chất của ô nhiễm, của tác nhân gây bệnh, của véc tơ hoặc nguồn bệnh;

 (ii) Quốc gia thiếu năng lực triển khai đầy đủ để thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm ngăn ngừa sự lan rộng của bệnh;

 (d) việc di chuyển của hành khách, hành lý, hàng hoá, công te nơ, phương tiện vận tải hoặc bưu phẩm có thể bị nhiễm bệnh hoặc ô nhiễm đòi hỏi phải áp dụng ngay lập tức các biện pháp kiểm soát quốc tế.

3. Tổ chức Y tế thế giới sẽ tham khảo ý kiến của Quốc gia có sự kiện để đưa thông tin theo quy định của Điều này.

4. Khi thấy thông tin quy định tại khoản 2 Điều này có giá trị đối với Quốc gia, Tổ chức Y tế thế giới cũng sẽ thông báo cho cộng đồng nếu các thông tin khác về sự kiện đó đã trở nên phổ biến và cần có thông báo công khai chính thức.

Điều 12

Xác định tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng

1.      Trên cơ sở những thông tin nhận được, đặc biệt thông tin từ Quốc gia có sự kiện đang xảy ra trên lãnh thổ, Tổng giám đốc sẽ xác định xem sự kiện đó có gây ra tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng quốc tế theo tiêu chuẩn và quy định của Điều lệ hay không.

2.      Dựa vào kết quả đánh giá theo quy định của Điều lệ này, nếu thấy có tình trạng khản cấp về sức khoẻ cộng đồng, Tổng Giám đốc sẽ tư vấn với Quốc gia về nhận định sơ bộ này. Nếu Tổng Giám đốc và Quốc gia thống nhất với nhận định này, theo quy định tại Điều 49, Tổng Giám đốc sẽ tham khảo ý kiến của Uỷ ban được thiết lập theo quy định tại Điều 48 (sau đây gọi là "Uỷ ban về tình trạng khẩn cấp") để đưa ra các khuyến cáo tạm thời.

3.      Nếu sau quá trình tư vấn nêu tại khoản 2 trên đây mà Tổng Giám đốc và Quốc gia không thống nhất được với nhau, thì theo quy định tại Điều 49, trong vòng 48 giờ phải đưa ra được nhận định về việc có sự kiện gây tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng quốc tế hay không.

4.      Khi đưa ra nhận định về việc sự kiện có gây tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng quốc tế hay không, Tổng Giám đốc sẽ xem xét:

(a)    thông tin do Quốc gia cung cấp;

(b)    sơ đồ hướng dẫn ở Phụ lục 2;

(c)    tư vấn của Uỷ ban về tình trạng khẩn cấp

(d)    nguyên tắc khoa học, bằng chứng khoa học và những thông tin liên quan khác

(e)    báo cáo đánh giá nguy cơ đối với sức khỏe con người, nguy cơ lây lan của bệnh trên phạm vi quốc tế và nguy cơ ảnh hưởng tới giao thông quốc tế.

5.      Nếu sau khi tư vấn với Quốc gia có tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng trên lãnh thổ và cho rằng tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng quốc tế đã kết thúc, Tổng giám đốc sẽ ra quyết định theo quy định tại Điều 49.

Điều 13

Đáp ứng y tế công cộng

1.      Mỗi Quốc gia sẽ xây dựng, củng cố và duy trì càng sớm càng tốt (không muộn hơn 5 năm kể từ ngày Điều lệ này có hiệu lực đối với Quốc gia) năng lực đáp ứng kịp thời và hiệu quả đối với nguy cơ sức khỏe cộng đồng và tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng như quy định tại Phụ lục 1. Sau khi tư vấn với các Quốc gia thành viên, Tổ chức Y tế thế giới sẽ ban hành hướng dẫn để trợ giúp Quốc gia xây dựng năng lực đáp ứng y tế công cộng.

2.      Tiếp theo việc đánh giá nêu tại đoạn 2, phần A, Phụ lục 1, trên cơ sở, nhu cầu thực tế và kế hoặc thực hiện (nếu có), Quốc gia có thể báo cáo với Tổ chức Y tế thế giới để gia hạn thêm 2 năm thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này. Trong trường hợp ngoại lệ có kế hoạch mới, Quốc gia có thể đề nghị Tổng giám đốc gia hạn thêm không quá 2 năm sau khi xem xét tư vấn chuyên môn của Uỷ ban thẩm định. Sau thời gian nêu tại khoản 1 Điều này, hàng năm Quốc gia được gia hạn phải báo cáo cho Tổ chức Y tế thế giới quá trình chuẩn bị thực hiện Điều lệ.

3.      Theo yêu cầu của Quốc gia, Tổ chức Y tế thế giới sẽ hợp tác trong việc đáp ứng y tế công cộng và các sự kiện khác thông qua việc hướng dẫn và trợ giúp kỹ thuật và đánh giá hiệu quả của các biện pháp kiểm soát tại chỗ, kể cả việc huy động các đội chuyên gia quốc tế trợ giúp tại chỗ khi cần.

4.      Nếu khi tư vấn với các Quốc gia liên quan như quy định tại Điều 12, xác định thấy có tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng, Ngoài quy định tại khoản 3 Điều này, Tổ chức Y tế thế giới có thể đề xuất trợ giúp thêm cho Quốc gia bao gồm đánh giá mức độ trầm trọng về nguy cơ quốc tế và các biện pháp kiểm soát thích hợp. Sự hợp tác này có thể bao gồm cả việc huy động hỗ trợ quốc tế để trợ giúp Quốc gia thực hiện và điều phối đánh giá tại chỗ. Tổ chức Y tế thế giới sẽ cung cấp thông tin hỗ trợ theo yêu cầu của Quốc gia.

5.      Khi có yêu cầu của Tổ chức Y tế thế giới, Quốc gia sẽ hỗ trợ trong phạm vi có thể, các hoạt động ứng phó do Tổ chức Y tế thế giới điều phối.

6.      Khi có yêu cầu, Tổ chức Y tế thế giới sẽ hướng dẫn và hỗ trợ các Quốc gia khác bị ảnh hưởng hoặc bị đe dọa bởi tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng

Điều 18

Khuyến cáo về người, hành lý, hàng hóa, công te nơ,

phương tiện vận tải và bưu phẩm

1. Khuyến cáo về người được Tổ chức Y tế thế giới gửi tới Quốc gia có thể bao gồm:

-   không khuyến cáo các biện pháp y tế cụ thể;

-   xem xét quá trình đi lại ở khu vực bị ảnh hưởng;

-   xem xét bằng chứng kiểm tra y tế và các xét nghiệm;

-   yêu cầu kiểm tra y tế;

-   xem xét bằng chứng tiêm chủng hoặc các biện pháp dự phòng khác;

-   yêu cầu tiêm chủng hoặc các biện pháp dự phòng khác;

-   yêu cầu giám sát y tế đối với người bị nghi ngờ;

-   thực hiện kiểm dịch hoặc các biện pháp y tế khác đối với người bị nghi ngờ;

-   thực hiện cách ly và điều trị đối với người nhiễm bệnh khi cần thiết;

-   thực hiện theo dõi các đối tượng tiếp xúc với người bị nghi ngờ hoặc người nhiễm bệnh;

-   từ chối nhập cảnh người bị nghi ngờ hoặc người nhiễm bệnh;

-   từ chối xuất cảnh người không bị ảnh hưởng vào khu vực bị ảnh hưởng;

-   thực hiện sàng lọc và hạn chế người xuất cảnh khỏi khu vực bị ảnh hưởng.

2. Khuyến cáo về hành lý, hàng hóa, công te nơ, phương tiện vận tải và bưu phẩm được Tổ chức Y tế thế giới gửi tới các Quốc gia có thể bao gồm:

-   không khuyến cáo các biện pháp y tế cụ thể;

-   xem xét bản kê khai và lộ trình;

-   thực hiện kiểm tra;

-   xem xét bằng chứng về việc thực hiện các biện pháp diệt khuẩn hoặc tẩy uế khi xuất cảnh hoặc quá cảnh;

-   thực hiện xử lý hành lý, hàng hóa, phương tiện vận tải, công te nơ và bưu phẩm hoặc thi hài để loại bỏ nhiễm khuẩn hoặc ô nhiễm, kể cả véc tơ và nguồn bệnh;

-   sử dụng các biện pháp y tế đặc thù để bảo đảm an toàn trong việc bảo quản và vận chuyển thi hài.

-   thực hiện cách ly hoặc kiểm dịch;

-   nếu không có biện pháp hoặc qui trình nào có thể thành công được thì tịch thu và tiêu hủy hành lý, hàng hóa, công te nơ, phương tiện vận tải và bưu phẩm bị nhiễm bệnh hoặc bị ô nhiễm hoặc nghi ngờ nhiễm bệnh trong điều kiện được kiểm soát được;

-   từ chối xuất khẩu hoặc nhập khẩu.

Điều 19

Bổn phận chung

Ngoài các bổn phận khác được quy định trong Điều lệ này, mỗi Quốc gia có nghĩa vụ:

(a)   bảo đảm trang bị cho các cửa khẩu được chỉ định bảo đảm đủ những năng lực nêu tại Phụ lục 1 trong thời gian quy định tại khoản 1 Điều 5 và khoản 1 Điều 13;

(b)  xác định cơ quan thẩm quyền tại cửa khẩu được chỉ định trong lãnh thổ của mình;

(c)  khi được yêu cầu đáp ứng với một nguy cơ sức khoẻ cộng đồng, cung cấp cho Tổ chức Y tế thế giới những số liệu liên quan đến nguồn nhiễm khuẩn hoặc ô nhiễm, kể cả véc tơ và nguồn bệnh tại những cửa khẩu có thể gây lây lan bệnh trên phạm vi quốc tế.

Điều 20

Sân bay và bến cảng

1.      Quốc gia sẽ chỉ định những sân bay và bến cảng cần được trang bị đủ năng lực nêu tại Phụ lục 1.

2.      Quốc gia sẽ bảo đảm việc cấp Giấy chứng nhận miễn kiểm soát vệ sinh tàu thuỷ và Giấy chứng nhận kiểm soát vệ sinh tàu thủy phù hợp với các yêu cầu tại Điều 39 và theo mẫu tại Phụ lục 3.

3.      Quốc gia phải gửi cho Tổ chức Y tế thế giới danh sách các cảng được phép:

(a)   cấp Giấy chứng nhận kiểm soát vệ sinh tàu thuỷ và cung cấp các dịch vụ nêu tại Phụ lục 1Phụ lục 3, hoặc

(b)  chỉ cấp Giấy chứng nhận miễn kiểm soát vệ sinh tàu thủy;

(c)  gia hạn Giấy chứng nhận miễn kiểm soát vệ sinh tàu thủy thêm một tháng cho đến khi tàu thuỷ đó đến được cảng có thể cấp Giấy chứng nhận.

Quốc gia phải thông báo cho Tổ chức Y tế thế giới khi có bất kỳ sự thay đổi nào đối với các cảng nêu trên. Tổ chức Y tế thế giới sẽ công bố thông tin về sự thay đổi này.

4.      Theo yêu cầu của các Quốc gia liên quan, Tổ chức Y tế thế giới có thể tổ chức điều tra và chứng nhận cảng hoặc sân bay đạt yêu cầu qui định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này. Tổ chức Y tế thế giới sẽ tư vấn với Quốc gia có cảng hoặc sân bay để định kỳ xem xét lại chứng nhận.

Tổ chức Y tế thế giới phối hợp với các tổ chức liên chính phủ và tổ chức quốc tế có thẩm quyền để xây dựng và ra hướng dẫn chứng nhận sân bay và bến cảng theo quy định tại Điều này. Tổ chức y tế thế giới sẽ công bố danh sách các sân bay và bến cảng đã được chứng nhận.

Điều 21

Cửa khẩu đường bộ

1.      Quốc gia có thể chỉ định các cửa khẩu đường bộ có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng để trang bị năng lực quy định tại Phụ lục 1, đặc biệt lưu ý các vấn đề sau:
 
(a)   lưu lượng và tần xuất qua lại của các phương tiện giao thông quốc tế tại cửa khẩu đó so với các cửa khẩu khác;

(b)  nguy cơ sức khoẻ cộng đồng tại khu vực xuất phát hoặc trên đường đi qua trước khi đến cửa khẩu của các chuyến giao thông quốc tế.

2.      Các Quốc gia có chung đường biên giới cần xem xét:

(a)   ký kết hiệp ước hoặc thỏa thuận song phương hoặc đa phương về ngăn ngừa hoặc kiểm soát sự lây lan của bệnh trên phạm vi quốc tế tại cửa khẩu theo qui định tại Điều 57;

(b)  cùng xác định các cặp cửa khẩu đường bộ cần bảo đảm năng lực nêu tại Phụ lục 1 theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 22

Vai trò của cơ quan thẩm quyền

1.      Cơ quan thẩm quyền phải:

(a)   chịu trách nhiệm giám sát hành lý, hàng hóa, công te nơ, phương tiện vận tải, bưu phẩm và thi hài đến và đi từ các khu vực bị ảnh hưởng, để bảo đảm rằng chúng không mang tác nhân gây bệnh hoặc ô nhiễm, véc tơ và nguồn truyền nhiễm;

(b)  bảo đảm cơ sở vật chất, trang bị cho hành khách sử dụng tại cửa khẩu đáp ứng điều kiện vệ sinh và không có tác gây bệnh hoặc ô nhiễm, véc tơ và nguồn truyền nhiễm;

(c)  chịu trách nhiệm giám sát việc diệt chuột, diệt khuẩn, diệt côn trùng hoặc tẩy uế hành lý, hàng hoá, công te nơ, phương tiện vận tải, bưu phẩm và thi hài hoặc các biện pháp vệ sinh đối với người theo quy định của Điều lệ;

(d)  thông báo trước cho chủ phương tiện vận tải mục đích áp dụng biện pháp kiểm soát đối với phương tiện vận tải, nếu có thể cần cung cấp thông tin bằng văn bản liên quan đến biện pháp được thực hiện;

(e)  chịu trách nhiệm giám sát việc loại bỏ và tiêu hủy nước và thực phẩm bị ô nhiễm, phân người hoặc động vật, nước thải và tất cả các chất bị ô nhiễm khác trên phương tiện vận tải;

(f)   thực hiện tất cả các biện pháp khả thi phù hợp với Điều lệ để giám sát và kiểm soát việc thải rác, nước dằn tàu và các chất có khả năng gây ô nhiễm vùng nước của cảng, sông, ngòi, kênh rạch, hồ hoặc đường thủy quốc tế khác.

(g)  chịu trách nhiệm giám sát các cơ sở cung cấp dịch vụ cho hành khách, hành lý, hàng hóa, công te nơ, bưu phẩm và thi hài tại cửa khẩu, kể cả kiểm tra và thăm khám y tế khi cần thiết;

(h)  chuẩn bị sẵn sàng giải quyết có hiệu quả sự kiện đột xuất về sức khỏe cộng đồng;

(i)    liên lạc với Đầu mối Quốc gia về Điều lệ Y tế quốc tế về việc thực hiện các biện pháp y tế công cộng liên quan theo qui định của Điều lệ này.

2.      áp dụng lại các biện pháp y tế được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo đối với người, hành lý, hàng hóa, công te nơ, phương tiện vận tải, bưu phẩm và thi hài đến từ khu vực bị ảnh hưởng nếu có dấu hiệu hoặc có bằng chứng cho thấy những biện pháp được áp dụng nơi xuất phát ở khu vực bị ảnh hưởng không đạt hiệu quả.

3.      Khi thực hiện việc diệt côn trùng, diệt chuột, tẩy uế, diệt khuẩn và các biện pháp vệ sinh khác phải tránh gây thương tổn hoặc bất tiện cho người hoặc có hại đối với môi trường y tế công cộng hoặc gây nguy hại đến hành lý, hàng hóa, công te nơ, phương tiện vận tải và bưu phẩm.

Điều 23

Biện pháp y tế tại nơi đến và nơi xuất phát

1.      Theo Hiệp ước quốc tế và những điều khoản liên quan của Điều lệ này, để bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, Quốc gia có thể yêu cầu tại nơi đến hoặc nơi xuất phát: đối với hành khách:

 (i) cung cấp thông tin về đích đến của hành khách để có thể liên lạc được;

 (ii) cung cấp thông tin về lịch trình của hành khách để xác định xem hành khách có đi vào hoặc đến gần khu vực bị ảnh hưởng hoặc có tiếp xúc với tác nhân gây bệnh hoặc ô nhiễm trước khi đến hay không, xuất trình hồ sơ về sức khoẻ nếu được yêu cầu theo Điều lệ;

 (iii) thực hiện việc thăm khám lâm sàng không tác động lên cơ thể, ít gây phiền hà nhất vì mục đích bảo vệ sức khỏe cộng đồng;

 (b) kiểm tra hành lý, hàng hoá, công te nơ, phương tiện vận tải, bưu phẩm và thi hài.

2.      Trên cơ sở bằng chứng về nguy cơ sức khoẻ cộng đồng phát hiện được qua biện pháp nêu tại khoản 1 Điều này hoặc qua biện pháp khác, Quốc gia có thể áp dụng biện pháp y tế bổ sung phù hợp với Điều lệ này, đặc biệt đối với người bị nghi ngờ hoặc bị mắc bệnh có thể khám thực thể từng trường hợp để phát hiện và ngăn ngừa sự lây lan của bệnh trên phạm vi quốc tế.

3.      Nếu chưa giải thích và chưa được hành khách, cha mẹ hoặc nguời bảo hộ chấp thuận thì không được thăm khám, tiêm chủng, áp dụng biện pháp dự phòng hoặc biện pháp y tế khác theo Điều lệ đối với hành khách, ngoại trừ quy định tại khoản 2 Điều 31 theo luật pháp và nghĩa vụ quốc tế của Quốc gia.
 
4.      Hành khách được tiêm chủng hoặc áp dụng biện pháp dự phòng theo qui định của Điều lệ này hay cha mẹ hoặc người bảo hộ của họ sẽ được thông báo về các nguy cơ do tiêm chủng hoặc không tiêm chủng, do áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp dự phòng theo luật pháp và nghĩa vụ quốc tế của Quốc gia. Quốc gia sẽ thông báo cho cán bộ y tế những yêu cầu này theo luật pháp của Quốc gia.

5.      Chỉ được thực hiện hoạt động thăm khám y tế, thủ tục y tế, tiêm chủng hoặc áp dụng các biện pháp dự phòng khác có liên quan đến nguy cơ lây lan bệnh đối với hành khách theo hướng dẫn an toàn của quốc tế hoặc Quốc gia để hạn chế nguy cơ đó.

Điều 24

Chủ phương tiện vận tải

1.      Quốc gia sẽ thực hiện mọi biện pháp khả thi phù hợp với Điều lệ để bảo đảm chủ phương tiện vận tải:

(a)   tuân thủ biện pháp y tế được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo và được Quốc gia chấp thuận;

(b)  thông báo cho hành khách biện pháp y tế được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo và được Quốc gia chấp thuận áp dụng trên phương tiện;

(c)  luôn giữ cho phương tiện vận tải không có tác nhân gây bệnh hoặc ô nhiễm, véc tơ và nguồn truyền nhiễm. Nếu phát hiện bằng chứng có tác nhân gây bệnh hoặc ô nhiễm trên phương tiện vận tải, cần áp dụng các biện pháp kiểm soát cần thiết.

2.      Quy định đối với phương tiện vận tải và chủ phương tiện vận tải trong Điều lệ này được nêu tại Phụ lục 4. Biện pháp có thể áp dụng đối với phương tiện vận tải và chủ phương tiện vận tải liên quan đến bệnh do véc tơ truyền được quy định tại Phụ lục 5.

 

 


 
Hội Y học Dự phòng Việt Nam

Tạp chí Y học Dự phòng

Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP
Quảng cáo