Thời tiết











  Hỏi đáp về dịch bệnh: Dịch bệnh khác
Bệnh lỵ trực khuẩn: Biện pháp phòng chống
          Trong 4 nhóm thì nhóm A gây bệnh nặng nhất (Shigella shiga) và thể hay gặp ở Việt Nam là Shigella flexneri. Bệnh nhân là nguồn bệnh duy nhất bao gồm cả bệnh nhân đang thời kỳ nung bệnh, toàn phát và thời kỳ hồi phục. Bên cạnh người bệnh là người lành mang mầm bệnh. Đây là đối tượng cực kỳ nguy hiểm làm gieo rắc mầm bệnh.

          Bệnh lây trực tiếp từ người bệnh sang người lành theo đường phân - miệng qua tay bẩn, dụng cụ nhiễm trực khuẩn lỵ hoặc gián tiếp qua thức ăn, nước uống không hợp vệ sinh như uống nước lã, ăn rau sống, quả xanh... nhất là những vùng dùng phân người tươi (chưa được xử lý trước khi đưa ra bón ruộng, trồng rau).

          Thông thường có 3 thể bệnh: thể cấp tính, mạn tính và người mang trực khuẩn không triệu chứng. Sau đây là biểu hiện của thể lỵ trực khuẩn cấp tính, điển hình, ở mức độ vừa:
          - Thời kỳ nung bệnh: từ 2-5 ngày (có khi nhanh hơn từ 12-24 giờ).
          - Thời kỳ khởi phát: Sốt cao, đột ngột từ 39-40oC, gai rét, kèm theo đau bụng (âm ỉ hoặc từng cơn). Đau bụng chủ yếu thấy ở hố chậu trái. Nhiều trường hợp có mệt mỏi, nhức đầu, mất ngủ, chán ăn khác với mắc bệnh lỵ amip. Thời kỳ này diễn biến rất nhanh và chuyển sang thời kỳ toàn phát.
          - Thời kỳ toàn phát: Thời kỳ này gồm nhiều triệu chứng tạo thành hội chứng lỵ: đau âm ỉ dọc theo khung đại tràng nhất là hố chậu trái và hạ vị (dưới rốn). Khi đi ngoài phải rặn nhiều nhưng không có dấu hiệu đi ngoài giả như lỵ amip (đi ngoài giả tức là rặn nhiều nhưng không có phân). Phân lúc đầu còn sền sệt, lỏng nhưng về sau toàn nước hoặc nhày, lẫn máu. Thông thường có màu loãng đục như mủ trông giống máu cá hay nước rửa thịt, nhất là phân trong bệnh lỵ do Shigella shiga. Số lần đi ngoài khoảng từ 1-30 lần, có khi lên tới 50-60 lần. Tình trạng mất nước, mất muối rõ rệt vào ngày thứ 3-4 của bệnh. Bệnh nhân khát nhiều, môi khô, tiểu ít, nhưng mạch và huyết áp hầu hết vẫn bình thường.
          - Thời kỳ lui bệnh: Nếu phát hiện sớm điều trị tích cực thì sau 7-14 ngày bệnh có thể khỏi. Bệnh nhân hạ sốt, đỡ đau bụng, đỡ mót rặn, phân dần dần trở lại bình thường rồi khỏi.

          Bên cạnh thể nặng vừa và điển hình vừa nêu trên chúng ta còn có thể gặp thể lỵ trực khuẩn nhiễm độc rất nặng do Shigella shiga gây ra. Bao gồm các triệu chứng:
          - Hội chứng lỵ rất nặng như đau bụng thường xuyên, tiêu chảy liên tục, không đếm được số lần vì phân chảy ra không thành bãi, không thành khuôn.
          - Hội chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc: sốt cao trên 40oC, nét mặt phờ phạc, xanh xám, li bì có thể dẫn đến hôn mê. Mắt trũng, môi khô, mạch nhanh nhỏ, huyết áp hạ.

          Muốn chẩn đoán xác định cần căn cứ vào:

          - Triệu chứng lâm sàng như mô tả ở trên: hội chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc và hội chứng lỵ. Nếu có điều kiện thì soi trực tràng thấy toàn bộ niêm mạc trực – đại tràng sung huyết, phù nề có nhiều ổ trợt loét nông và lan rộng (phương pháp này đòi hỏi phải vô khuẩn thật tốt, nếu không sẽ làm lây cho những người nội soi và cho những người khác).
         - Soi tươi phân và nuôi cấy xác định vi khuẩn. Những nơi chưa có điều kiện này thì dựa vào tính chất của phân để chẩn đoán.
         - Dựa vào tính chất dịch tễ học: trong gia đình, làng xóm, khu phố, tập thể có người mắc bệnh giống hoặc tương tự.

          Bệnh có bị biến chứng và để lại hậu quả gì không?

          - Bệnh có thể gây nên xuất huyết đường tiêu hóa, gây hoại tử ruột, thủng đại tràng (nhưng hiếm gặp).
          - Biến chứng toàn thân: co giật, nhiễm độc thần kinh, trụy tim mạch.
          - Bội nhiễm: gây viêm túi mật, viêm đường tiết niệu, viêm phổi.
          - Hậu quả: nếu không được điều trị hoặc điều trị không đúng phác đồ sẽ đưa đến viêm đại tràng mạn tính.

          Phòng bệnh lỵ trực khuẩn như thế nào?

           - Vệ sinh cá nhân: Vệ sinh tay trước khi ăn, ăn chín, uống chín, không ăn rau sống, quả xanh nhất là những vùng đồng chiêm trũng, vùng hay có lũ, lụt xảy ra.
           - Vệ sinh công cộng: Thực hiện vệ sinh môi trường thật tốt như giải quyết tốt khâu phân, nước, rác. Đối với các vùng hay bị lũ lụt, sau mỗi đợt phải khử khuẩn nước các giếng khơi bằng hóa chất cloramin theo chỉ dẫn của cán bộ y tế.
           - Vệ sinh an toàn thực phẩm: Đây là một khâu khá quan trọng luôn xảy ra trực tiếp hằng ngày.
           - Đối với những vùng đang có dịch bệnh cần quản lý, xử lý chất thải và phân bệnh nhân thật triệt để. Nếu nơi nào chưa có hố xí tự hoại hoặc bán tự hoại cần phổ biến rộng rãi cho nhân dân biện pháp cho vôi bột vào các hố xí hai ngăn, một ngăn tránh để phân vương vãi. Những nơi đã có hố xí tự hoại hay bán tự hoại cần có biện pháp quản lý và xử lý xô, bô, chậu, đồ dùng trong ăn uống, sinh hoạt nghi có dính chất thải của bệnh nhân thật cẩn thận.
          - Diệt ruồi: Đây là loại côn trùng mang mầm bệnh về đường ruột nhiều nhất và có thể gây phát tán rộng khắp một vùng hoặc nhiều vùng.
          - Tuyên truyền giáo dục nhân dân biết cách ăn uống hợp vệ sinh.

          Nguyên tắc điều trị bệnh lỵ trực khuẩn

          - Dùng kháng sinh thích hợp: Cần thiết phải dựa vào phác đồ. Nơi nào phân lập được vi khuẩn nên tiến hành làm kháng sinh đồ để chọn kháng sinh thích hợp cho điều trị.
         - Điều trị triệu chứng: Bù nước và điện giải. Cần bồi phụ nước và điện giải gấp nhằm đưa lại trạng thái bình thường cho bệnh nhân tránh để xảy ra tình trạng sốc do mất nước, mất chất điện giải. Giảm đau bụng, hạ nhiệt, trợ tim mạch và các triệu chứng liên quan khác là rất cần thiết và cần được tiến hành song song với nhau trong điều trị bệnh lỵ trực khuẩn.

                                                                                                     Tác giả: PGS.TS. Bùi Khắc Hậu
 
 
Tin tiếp theo









Hội Y học Dự phòng Việt Nam

Tạp chí Y học Dự phòng

Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP

Tiêm chủng mở rộng QG
Quảng cáo