Bệnh Rubella được biết đến từ năm 1814, được mô tả và đặt tên là “bệnh sởi Đức”. Virut Rubella gây bệnh chủ yếu ở da và hạch bạch huyết, bệnh thường lây truyền qua dịch tiết mũi họng, cũng có thể lây truyền qua đường máu của người mẹ vào bào thai gây nên bệnh Rubella bẩm sinh ở trẻ sơ sinh. Diễn biến của bệnh Rubella mắc phải ở trẻ em thường là nhẹ nhưng Rubella bẩm sinh ở trẻ sơ sinh thường gây nên những hậu quả nặng nề.
Biểu hiện của bệnh Rubella
Thời gian ủ bệnh: Từ khi người bình thường bị nhiễm virut Rubella tới khi xuất hiện những biểu hiện ban đầu được gọi là thời gian ủ bệnh. Thông thường, thời gian ủ bệnh của Rubella là 16 – 18 ngày, thời gian này có thể dao động từ 14-23 ngày.
Biểu hiện khởi đầu của bệnh Rubella thường gặp là sốt nhẹ 37,2 – 38oC (chiếm khoảng 60-65% tổng số bệnh nhân Rubella), sốt vừa và sốt cao chỉ chiếm 20-25% tổng số bệnh nhân Rubella). Viêm mũi họng nhẹ chiếm 65-70%.
Biểu hiện nổi bật nhất là phát ban ở da. Phát ban chiếm 100% số bệnh nhân thường gặp sau sốt 1-2 ngày, hiếm khi sau 3 ngày (3,3%). Hầu hết các bệnh nhân có ban bắt đầu xuất hiện ở mặt, lan nhanh khắp người không theo thứ tự trong vòng 24 giờ, một số bệnh nhân sau 48 giờ. Ban thường đứng riêng rẽ (80,6%) thành những chấm hồng hoặc đỏ nhạt, nhưng có thể chụm thành đám phẳng đổi màu (19,4%). Ban Rubella thoạt trông giống ban sởi nhưng nhìn kỹ thấy các nốt dát nhỏ hơn, bề mặt không mịn như ban sởi và đôi khi có ngứa kéo dài 2-3 ngày. Ban thường tồn tại 3-4 ngày nhưng cũng có thể 6-7 ngày mới bay hết. Sau khi ban bay da có những phảy trắng, da không bị bong vảy, không thâm “vằn da hổ” như trong bệnh sởi.
Các biểu hiện kèm theo trong thời gian phát ban thường gặp là: Đau đầu, chán ăn, sưng khớp và sưng hạch. Khi phụ nữ có thai có thể gây ra hội chứng Rubella bẩm sinh với những hậu quả nặng nề cho trẻ sơ sinh. 90% phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ nhiễm bệnh Rubella sẽ sinh ra các em bé bị hội chứng Rubella bẩm sinh như: dị tật bẩm sinh (thường gặp dị tật ở tim và mặt), trẻ chậm tăng trưởng về thể lực, chậm phát triển về tinh thần, gây điếc, viêm não và các bệnh tật ở gan, lách, tủy xương...
Đối với trẻ em mắc Rubella, sưng hạch là biểu hiện thường gặp chiếm 60-90%. Bệnh nhân có thể sưng một hoặc nhiều nhóm hạch. Thường hay sưng hạch dọc cơ ức đòn chũm (91,7%), hạch sau tai (30,6%) và hạch chẩm (27,8%), hạch góc hàm (25%) và hạch dưới hàm ít nhất (16,7%).
Điều trị
Đối với một người đang hoạt động bình thường khi thấy xuất hiện các dấu hiệu sốt, hắt hơi sổ mũi, phát ban, nổi hạch, giống những đặc điểm đã tả như trên, nhất là trong khu vực có một số người cùng có biểu hiện bệnh giống nhau thì cần tới bác sĩ để sớm phát hiện bệnh Rubella.
Cho đến nay vẫn chưa có thuốc kháng sinh để điều trị đặc hiệu với virut Rubella. Các biện pháp chủ yếu vẫn là điều trị các triệu chứng như: Dùng thuốc hạ nhiệt giảm đau (thường dùng nhóm paracetamol, có thể dùng các thuốc trong nhóm acetaminophen hoặc ibuprofen, không nên dùng nhóm aspirin vì có thể gây hội chứng Reye, dẫn tới suy gan, xuất huyết...). Khi bệnh nhân phát ban, chán ăn, mệt mỏi cần sử dụng các vitamin nhóm B, vitamin C, vitamin AD, cho ăn lỏng, thức ăn dễ tiêu, tăng cường ăn rau quả, uống nhiều nước quả và có thể truyền bổ sung các dung dịch đẳng trương vào tĩnh mạch để tránh mất nước và rối loạn điện giải trong máu. Chú trọng tới vệ sinh cá nhân, nhất là vệ sinh da và vệ sinh răng miệng.
Khả năng lây truyền và các biện pháp phòng bệnh Rubella
Virut Rubella lây từ người bệnh, hoặc người nhiễm virut Rubella sang người khác qua các dịch tiết đường hô hấp (dịch mũi, họng, phế quản...), nhất là từ một tuần trước đến một tuần sau khi phát ban. Ở trẻ em mắc bệnh Rubella bẩm sinh, ngoài lây qua đường dịch tiết hô hấp còn có thể lây qua nước tiểu sang người chưa có miễn dịch với Rubella trong một năm.
Cũng như các bệnh lây truyền do virut, biện pháp cơ bản phòng bệnh Rubella là tiêm vaccin phòng bệnh Rubella cho tất cả trẻ em trước độ tuổi cắp sách đến trường, nên trước đây dịch Rubella rất phổ biến ở Mỹ nhưng hiện nay đã rất hiếm gặp, điều này chứng tỏ biện pháp tiêm vaccin là rất hiệu quả trong việc phòng ngừa căn bệnh Rubella này. Được biết, đầu năm 2005, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh của Hoa Kỳ đã tuyên bố loại trừ được bệnh Rubella ở Mỹ. Tổ chức này cũng khuyến cáo các bậc cha mẹ phải bảo đảm rằng con cái của họ đã được tiêm phòng đầy đủ.
Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ về lợi ích của việc tiêm vaccin phòng bệnh Rubella cho trẻ, nhất là các trẻ em gái. Thông thường, tiêm phòng mũi thứ nhất cho trẻ vào lúc 12 tháng tuổi và tiêm nhắc lại lúc 4-6 tuổi. Đối với các thanh thiếu niên nữ cũng như phụ nữ, chỉ cần tiêm 1 liều duy nhất. Khả năng tạo miễn dịch vaccin trong thời gian rất dài và tác dụng bảo vệ vẫn còn khi người phụ nữ mang thai nhiều năm sau đó. Tuy nhiên, khi đang có dịch sởi thì cần tiêm phòng vaccin lần đầu cho trẻ em sớm hơn (lúc 6 tháng tuổi).
Trên thị trường hiện nay chỉ có vaccin kết hợp phòng cả 3 bệnh Sởi - Quai bị - Rubella, ở dạng đơn liều (1 ống sử dụng cho 1 người) hay đa liều (1 ống sử dụng cho 10 người). Dạng đa liều không được khuyến khích sử dụng do có nguy cơ nhiễm khuẩn rất cao.
Khuyến cáo: Đối với phụ nữ có thai chưa có miễn dịch nên tránh tiếp xúc với người bệnh Rubella. Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ có thể sẽ có thai trong vòng 3 tháng không nên tiêm vaccin phòng bệnh Rubella, bởi tác hại của Rubella đối với sự phát triển của phôi thai cho đến nay vẫn chưa biết rõ.
Tác giả: PGS.TS. Tô Văn Hải
(PGĐ Bệnh viện Thanh Nhàn - Hà Nội)