Giám sát hỗ trợ sau huấn luyện và giám sát thường quy IMCI: Hiện nay 65% tỉnh đã có trên 5 GSV/tỉnh, và 53% huyện đã có GSV có khả năng giám sát hỗ trợ. Tuy nhiên mới chỉ có 70% các tỉnh thực hiện giám sát sau huấn luyện và 40% thực hiện giám sát thường quy do hàng năm có sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức, và sự luân chuyển cán bộ, dẫn đến thiếu đội ngũ giám sát viên để tự tiến hành đào tạo giám sát viên và giám sát hỗ trợ sau huấn luyện.
Giám sát lồng ghép: Với phương pháp và bộ công cụ giám sát của IMCI, một số tỉnh và huyện đã tiến hành lồng ghép công tác giám sát trong đó có sử dụng kinh phí của các chương trình khác. Nhóm kỹ thuật IMCI cũng đã nghiên cứu xây dựng mô hình giám sát lồng ghép cho tuyến huyện. Hiện nay, đã có 70% tỉnh thực hiện hoạt động giám sát lồng ghép.
Nhiều Sở Y tế các tỉnh đã ứng dụng kỹ thuật và các chỉ số đánh giá IMCI phục vụ cho công tác giám sát thường quy chất lượng khám chữa bệnh và xã đạt chuẩn y tế quốc gia.
1.2.2. Hoạt động tổ chức công tác xử trí trẻ bệnh tại cơ sở y tế
Tại các huyện đã triển khai IMCI, hầu hết các trưởng trạm y tế đều được huấn luyện IMCI và đã tổ chức xử trí trẻ bệnh theo IMCI tại cơ sở y tế như: bố trí lại khu vực khám bệnh cho hợp lý, phân công cán bộ y tế được huấn luyện IMCI xử trí trẻ bệnh, quản lý và sử dụng thuốc thích hợp cho trẻ em.
1.2.3. IMCI và hệ thống thông tin y tế
Nhóm kỹ thuật IMCI và Phòng Thống kê tin học, Vụ kế hoạch tài chính - Bộ Y tế đã triển khai nghiên cứu xây dựng bảng chuyển đổi các phân loại IMCI vào hệ thống thông tin y tế quốc gia, xây dựng tài liệu hướng dẫn cho CBYT cách thu thập thông tin về phân loại và xử trí trẻ bệnh để ghi vào sổ A1.
Đồng thời, Văn phòng kỹ thuật IMCI và Phòng Thống kê tin học cũng đã phối hợp đưa ra hướng dẫn đưa chỉ số tỷ lệ trẻ bệnh dưới 5 tuổi được xử trí và chăm sóc toàn diện vào hệ thống chỉ tiêu cơ bản của ngành y tế. Chỉ số này không những phản ánh việc thực hành IMCI của CBYT tuyến cơ sở mà còn giúp cho các cán bộ lãnh đạo đề ra các quyết định về công tác y tế liên quan đến trẻ em, giúp cho việc chăm sóc sức khoẻ trẻ em được quan tâm nhiều hơn.
1.2.4. Cơ sở nhà trạm, cung cấp thuốc và trang thiết bị
Xử trí lồng ghép thúc đẩy việc dụng thuốc hợp lý, số lượng thuốc được kê đơn và chi phí mua thuốc giảm mà hiệu quả điều trị vẫn được bảo đảm, hạn chế được tình trạng kháng kháng sinh. Qua các đợt giám sát hỗ trợ những vấn đề về quản lý thuốc như hạn dùng, chủng loại thuốc, dự trữ và bảo quản thuốc được các giám sát viên phát hiện và thảo luận với cán bộ y tế giải quyết ngay tại chỗ. Nhiều nguồn thuốc được khai thác để phục vụ cho công tác xử trí trẻ bệnh nói riêng và khám chữa bệnh nói chung như nguồn thuốc từ các chương trình y tế, nguồn thuốc từ quỹ quay vòng vốn, nguồn thuốc cung ứng từ trung tâm tế huyện, từ các tổ chức tài trợ…
Giám sát cũng cho thấy hầu hết khu vực khám bệnh của các cơ sở y tế triển khai IMCI được bố trí hợp lý. Các dụng cụ/trang thiết bị thiết yếu phục vụ cho khám chữa bệnh được cung ứng đầy đủ.
1.2.5. Tổ chức triển khai IMCI tại phòng khám bệnh viện
Với mục tiêu làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em nói chung và đặc biệt là tỷ lệ tử vong trước 24 giờ, Bệnh viện Nhi Đồng I TP HCM phối hợp với Bệnh viện Nhi TƯ đã chỉnh lý và xây dựng tài liệu kỹ năng Xử trí lồng ghép cấp cứu trẻ bệnh cho HDV và học viên (đối tượng bác sĩ và điều dưỡng). Các khoá huấn luyện HDV và học viên đã được tổ chức tại TP HCM, hà Nội, Lâm Đồng, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Thái Bình, Nghệ An, Thái Nguyên...
1.2.6. Công tác chuyển viện và xử trí cấp cứu tại bệnh viện
Trước khi triển khai IMCI, hầu hết các trạm y tế chuyển bệnh nhân lên tuyến chỉ kèm với giấy giới thiệu của trạm y tế hoặc của Ủy ban nhân dân xã. Sau khi được học IMCI, các cán bộ y tế cơ sở đã áp dụng cách ghi chép những thông tin tóm tắt chuyển viện theo hướng dẫn của IMCI, ngoài các thông tin chung còn có các thông tin về lý do chuyển viện, tình trạng bệnh nhi và những xử trí cấp cứu trước khi chuyển.
Việc nâng cấp công tác cấp cứu và chăm sóc trẻ bệnh ở các bệnh viện huyện (nơi nhận trẻ bệnh chuyển từ tuyến dưới) là rất quan trọng. Việc huấn luyện cách xử trí trong trường hợp không thể chuyển viện đã và đang được chú trọng trong quá trình huấn luyện IMCI.
1.3. Cải thiện thực hành tại gia đình và cộng đồng
Văn phòng kỹ thụât IMCI đã phối hợp với các viện/bệnh viện đầu ngành và các chương trình y tế có liên quan chỉnh lý phiếu hướng dẫn bà mẹ để in và cung cấp cho các huyện triển khai IMCI.
Văn phòng kỹ thuật IMCI đã cùng với Trung tâm TTGDSK, Bộ Y tế và các chương trình dự án có liên quan đã chuẩn hoá các chỉ số đánh giá và các thông điệp chính về thực hành cơ bản tại gia đình và cộng đồng, làm cơ sở để xây dựng tài liệu truyền thông giáo dục sức khoẻ cho các khoá huấn luyện kỹ năng truyền thông lồng ghép cho truyền thông viên tuyến cơ sở. 12 thực hành tại hộ gia đình và cộng đồng đã được triển khai tại nhiều tỉnh. Văn phòng kỹ thuật IMCI cũng đã biên dịch và biên soạn sang tiếng việt gói IMCI cộng đồng (C-IMCI) và các hướng dẫn chăm sóc sức khỏe trẻ em cho nhân viên y tế thôn bản. Đến nay đội ngũ y tế thôn bản tại hầu hết các tỉnh triển khai IMCI đã được huấn luyện các nội dung thực hành tại gia đình và cộng đồng.
2. Định hướng triển khai
- Triển khai mở rộng hoạt động IMCI qua việc lồng ghép vào kế hoạch hành động Quốc gia vì sự sống còn của trẻ em giai đoạn 2009 – 2015 (Ban hành theo Quyết định số 2565/QĐ-BYT ngày 17/7/2009 của Bộ Y tế) và triển khai lồng ghép các chương trình CSSKTE và các chương trình y tế liên quan
- Duy trì chất lượng tại những địa phương đã và đang triển khai hoạt động IMCI.
- Ứng dụng triển khai mở rộng tại các trường đại học, cao đẳng và trung học y tế.
- Cập nhật, phát triển các nội dung và đa dạng hóa các hình thức huấn luyện IMCI cho cán bộ y tế.
- Huấn luyện cán bộ y tế thôn bản về lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh và trẻ khỏe tại cộng đồng.
Một số tài trợ quốc tế đã hỗ trợ cho hoạt động IMCI
1. Tổ chức y tế thế giới (WHO)
2. Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)
3. Ngân hàng thế giới (Dự án hỗ trợ y tế quốc gia)
4. Plan in Viet Nam
5. DANIDA
6. Chương trình phát triển hệ thống y tế VN-EC
7. Dự án phòng chống sốt rét VN-EC
8. AusAid (Vietnam-Australia Primary Health Care Project for women and children)
9. NZAid
10. Tầm nhìn thế giới (World Vision)
11. SDA/SIDA
12. CSS
13. Allianz Mision
14. JASS (JICA)
15. Chương trình phát triển sức khoẻ trẻ em Phần Lan
16. Uỷ ban hợp tác Việt Nam-Hà Lan.
17. CIDSE
18. CORDAID/CIHP
19. Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)