Thời tiết











  Hoạt động Lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh
Kết quả hoạt động và định hướng triển khai IMCI
   KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG TRIỂN KHAI

  1.    Kết quả hoạt động

          Ba nội dung của hoạt động IMCI đã được triển khai ở nhiều tỉnh thành trong toàn quốc ở các mức độ khác nhau. Hiện nay, 45/63 tỉnh thành phố đã và đang triển khai IMCI ở những mức độ khác nhau. 78% các tỉnh triển khai đã thành lập Ban điều hành tuyến tỉnh. Tại hơn 224 huyện thuộc 45 tỉnh triển khai, đã thành lập Ban điều hành IMCI tuyến huyện nhằm duy trì hoạt động IMCI tại huyện, phối hợp cùng thực hiện các đợt hoạt động theo dõi giám sát và huấn luyện. 70% tỉnh có trên 8 HDV/tỉnh có khả năng duy trì và tổ chức hoạt động huấn luyện. Hoạt động cải thiện kỹ năng xử trí trẻ bệnh (XTTB) của cán bộ y tế (CBYT) tuyến cơ sở và giảng dạy IMCI cho học sinh, sinh viên trong các trường đại họcY (ĐHY) và Cao đẳng và Trung học Y tế (CĐ/THYT) đã được chú trọng. Bên cạnh đó, nhiều tỉnh cũng đã tiến hành nhiều hoạt động để đảm bảo có đầy đủ trang thiết bị và thuốc thiết yếu cho xử trí các bệnh thường gặp ở trẻ em cũng như tăng cường công tác giám sát hỗ trợ sau huấn luyện và giám sát thường xuyên. Hoạt động cải thiện thực hành tại gia đình và cộng đồng cũng đã được triển khai trên một phạm vi rộng.

  1.1.  Nâng cao kỹ năng cho cán bộ y tế

  1.1.1. Đào tạo cho CBYT cơ sở

          Cải thiện kỹ năng xử trí trẻ bệnh là một trong những thành phần quan trọng trong quá trình triển khai IMCI. Hiện nay, sáu đơn vị huấn luyện cấp quốc gia đã được thiết lập tại ba miền Bắc, Trung và Nam với vai trò đào tạo cán bộ kỹ thuật và hướng dẫn viên cho các tỉnh. Theo báo cáo của 33 tỉnh/thành phố, số lượng hướng dẫn viên hiện là 577 (Hướng dẫn viên nhóm: 505, hướng dẫn viên nội trú: 57). Mặc dù số lượng HDV trung bình/tỉnh cao (≥17HDV/tỉnh) tuy nhiên lại tập trung chủ yếu ở Hà Nội và TP. Hồ Chính Minh, do đó, vẫn còn nhiều tỉnh thiếu HDV, chỉ khoảng 70% các tỉnh có 8 HDV/tỉnh, 30% những tỉnh còn lại sẽ cần sự hỗ trợ của HDV trung ương và các tỉnh khác trong việc triển khai IMCI.  

          Tính đến nay đã có trên 4000 CBYT tuyến cơ sở của 45 tỉnh đã được huấn luyện IMCI. Tuy nhiên các tỉnh triển khai hoạt động huấn luyện ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào số kinh phí được huy động từ các nhà tài trợ hoặc từ nguồn ngân sách nhà nước. Đa số các tỉnh triển khai hoạt động huấn luyện ở một số huyện. Trong đó có những huyện triển khai 100% các trạm y tế (TYT) và còn có nhiều huyện mới triển khai được ở một số xã điểm.

          Với mục tiêu tăng độ bao phủ của hoạt động huấn luyện IMCI, nhiều mô hình huấn luyện đã được xây dựng dựa trên mô hình huấn luyện IMCI 11 ngày của TCYTTG. Mô hình huấn luyện IMCI 6 ngày đã được thử nghiệm và ứng dụng tại Hà Nội, Nghệ An và Quảng Trị. Với phương pháp và nội dung huấn luyện đã được cải tiến, mô hình này cũng đã cung cấp cho học viên các kỹ năng cơ bản trong lồng ghép xử trí các bệnh thường gặp ở trẻ em. Công cụ huấn luyện IMCI trên máy tính (ICATT) cũng đã được dịch, chỉnh lý và thử nghiệm trong đào tạo lại. Mô hình huấn luyện trên máy tính cũng có nhiều hứa hẹn và khuyến nghị áp dụng cho các đối tượng cán bộ y tế có khả năng và điều kiện sử dụng máy vi tính. Bên cạnh đó, các mô hình huấn luyện kỹ năng chăm sóc trẻ bệnh cho nhân viên y tế thôn bản, huấn luyện quản lý cung ứng thuốc đã được xây dựng và ứng dụng trên quy mô nhỏ.

  1.1.2. Đào tạo tại các trường Đại học, Cao đẳng/Trung học Y tế

          Từ năm 2002, việc ứng dụng kỹ thuật giảng dạy IMCI vào các trường Đại học và Cao đẳng/Trung học y tế đã bắt đầu được mở rộng thông qua các hoạt động biên soạn tài liệu cho giảng viên và sinh viên, hội thảo lập kế hoạch lồng ghép nội dung và phương pháp IMCI vào chương trình giảng dạy của các trường đại học và trung học y tế.

          Cho đến nay, bên cạnh mô hình giảng dạy truyền thống lồng ghép IMCI trong các bài giảng vẫn tồn tại những khó khăn nhất định (thiếu giảng viên được đào tạo phù hợp với phương pháp giảng dạy tích cực trong IMCI, nguồn kinh phí cho in ấn tài liệu và chương trình khung với lượng kiến thức lớn khó lồng ghép IMCI), mô hình IMCI trên máy tính đã được thiết kế với nhiều ưu điểm (giảm gánh nặng ở giờ giảng lý thuyết, giảm số lượng hướng dẫn viên, giảm chi phí in ấn tài liệu…) đã đem lại một sự lựa chọn mới cho các trường trong quá trình giảng dạy về IMCI, tăng cơ hội được học và thực hành theo IMCI của sinh viên y.

          Kết quả ứng dụng kỹ thuật giảng dạy IMCI đã giúp cho học sinh/sinh viên khi tốt nghiệp có khả năng tiếp cận được ngay các kỹ năng thiết yếu trong công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em tại tuyến y tế cơ sở.

Hình 1: Triển khai IMCI trong trường Cao đẳng/Trung học Y tế
Hình 2: Triển khai IMCI trong trường Đại học Y 
 
  1.2.  Cải thiện công tác quản lý hệ thống y tế
  1.2.1. Hoạt động giám sát
Giám sát hỗ trợ sau huấn luyện và giám sát thường quy IMCI: Hiện nay 65% tỉnh đã có trên 5 GSV/tỉnh, và 53% huyện đã có GSV có khả năng giám sát hỗ trợ. Tuy nhiên mới chỉ có 70% các tỉnh thực hiện giám sát sau huấn luyện và 40% thực hiện giám sát thường quy do hàng năm có sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức, và sự luân chuyển cán bộ, dẫn đến thiếu đội ngũ giám sát viên để tự tiến hành đào tạo giám sát viên và giám sát hỗ trợ sau huấn luyện.
Giám sát lồng ghép: Với phương pháp và bộ công cụ giám sát của IMCI, một số tỉnh và huyện đã tiến hành lồng ghép công tác giám sát trong đó có sử dụng kinh phí của các chương trình khác. Nhóm kỹ thuật IMCI cũng đã nghiên cứu xây dựng mô hình giám sát lồng ghép cho tuyến huyện. Hiện nay, đã có 70% tỉnh thực hiện hoạt động giám sát lồng ghép.

Nhiều Sở Y tế các tỉnh đã ứng dụng kỹ thuật và các chỉ số đánh giá IMCI phục vụ cho công tác giám sát thường quy chất lượng khám chữa bệnh và xã đạt chuẩn y tế quốc gia.

  1.2.2. Hoạt động tổ chức công tác xử trí trẻ bệnh tại cơ sở y tế

Tại các huyện đã triển khai IMCI, hầu hết các trưởng trạm y tế đều được huấn luyện IMCI và đã tổ chức xử trí trẻ bệnh theo IMCI tại cơ sở y tế như: bố trí lại khu vực khám bệnh cho hợp lý, phân công cán bộ y tế được huấn luyện IMCI xử trí trẻ bệnh, quản lý và sử dụng thuốc thích hợp cho trẻ em.

  1.2.3. IMCI và hệ thống thông tin y tế

Nhóm kỹ thuật IMCI và Phòng Thống kê tin học, Vụ kế hoạch tài chính - Bộ Y tế đã triển khai nghiên cứu xây dựng bảng chuyển đổi các phân loại IMCI vào hệ thống thông tin y tế quốc gia, xây dựng tài liệu hướng dẫn cho CBYT cách thu thập thông tin về phân loại và xử trí trẻ bệnh để ghi vào sổ A1.

Đồng thời, Văn phòng kỹ thuật IMCI và Phòng Thống kê tin học cũng đã phối hợp đưa ra hướng dẫn đưa chỉ số tỷ lệ trẻ bệnh dưới 5 tuổi được xử trí và chăm sóc toàn diện vào hệ thống chỉ tiêu cơ bản của ngành y tế. Chỉ số này không những phản ánh việc thực hành IMCI của CBYT tuyến cơ sở mà còn giúp cho các cán bộ lãnh đạo đề ra các quyết định về công tác y tế liên quan đến trẻ em, giúp cho việc chăm sóc sức khoẻ trẻ em được quan tâm nhiều hơn.

  1.2.4. Cơ sở nhà trạm, cung cấp thuốc và trang thiết bị

Xử trí lồng ghép thúc đẩy việc dụng thuốc hợp lý, số lượng thuốc được kê đơn và chi phí mua thuốc giảm mà hiệu quả điều trị vẫn được bảo đảm, hạn chế được tình trạng kháng kháng sinh. Qua các đợt giám sát hỗ trợ những vấn đề về quản lý thuốc như hạn dùng, chủng loại thuốc, dự trữ và bảo quản thuốc được các giám sát viên phát hiện và thảo luận với cán bộ y tế giải quyết ngay tại chỗ. Nhiều nguồn thuốc được khai thác để phục vụ cho công tác xử trí trẻ bệnh nói riêng và khám chữa bệnh nói chung như nguồn thuốc từ các chương trình y tế, nguồn thuốc từ quỹ quay vòng vốn, nguồn thuốc cung ứng từ trung tâm tế huyện, từ các tổ chức tài trợ…

Giám sát cũng cho thấy hầu hết khu vực khám bệnh của các cơ sở y tế triển khai IMCI được bố trí hợp lý. Các dụng cụ/trang thiết bị thiết yếu phục vụ cho khám chữa bệnh được cung ứng đầy đủ.  

  1.2.5. Tổ chức triển khai IMCI tại phòng khám bệnh viện

Với mục tiêu làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em nói chung và đặc biệt là tỷ lệ tử vong trước 24 giờ, Bệnh viện Nhi Đồng I TP HCM phối hợp với Bệnh viện Nhi TƯ đã chỉnh lý và xây dựng tài liệu kỹ năng Xử trí lồng ghép cấp cứu trẻ bệnh cho HDV và học viên (đối tượng bác sĩ và điều dưỡng). Các khoá huấn luyện HDV và học viên đã được tổ chức tại TP HCM, hà Nội, Lâm Đồng, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Thái Bình, Nghệ An, Thái Nguyên...

  1.2.6. Công tác chuyển viện và xử trí cấp cứu tại bệnh viện

Trước khi triển khai IMCI, hầu hết các trạm y tế chuyển bệnh nhân lên tuyến chỉ kèm với giấy giới thiệu của trạm y tế hoặc của Ủy ban nhân dân xã. Sau khi được học IMCI, các cán bộ y tế cơ sở đã áp dụng cách ghi chép những thông tin tóm tắt chuyển viện theo hướng dẫn của IMCI, ngoài các thông tin chung còn có các thông tin về lý do chuyển viện, tình trạng bệnh nhi và những xử trí cấp cứu trước khi chuyển.

Việc nâng cấp công tác cấp cứu và chăm sóc trẻ bệnh ở các bệnh viện huyện (nơi nhận trẻ bệnh chuyển từ tuyến dưới) là rất quan trọng. Việc huấn luyện cách xử trí trong trường hợp không thể chuyển viện đã và đang được chú trọng trong quá trình huấn luyện IMCI.
 

  1.3.  Cải thiện thực hành tại gia đình và cộng đồng

Văn phòng kỹ thụât IMCI đã phối hợp với các viện/bệnh viện đầu ngành và các chương trình y tế có liên quan chỉnh lý phiếu hướng dẫn bà mẹ để in và cung cấp cho các huyện triển khai IMCI.

Văn phòng kỹ thuật IMCI đã cùng với Trung tâm TTGDSK, Bộ Y tế và các chương trình dự án có liên quan đã chuẩn hoá các chỉ số đánh giá và các thông điệp chính về thực hành cơ bản tại gia đình và cộng đồng, làm cơ sở để xây dựng tài liệu truyền thông giáo dục sức khoẻ cho các khoá huấn luyện kỹ năng truyền thông lồng ghép cho truyền thông viên tuyến cơ sở. 12 thực hành tại hộ gia đình và cộng đồng đã được triển khai tại nhiều tỉnh. Văn phòng kỹ thuật IMCI cũng đã biên dịch và biên soạn sang tiếng việt gói IMCI cộng đồng (C-IMCI) và các hướng dẫn chăm sóc sức khỏe trẻ em cho nhân viên y tế thôn bản. Đến nay đội ngũ y tế thôn bản tại hầu hết các tỉnh triển khai IMCI đã được huấn luyện các nội dung thực hành tại gia đình và cộng đồng.  
 

  2.    Định hướng triển khai

-                Triển khai mở rộng hoạt động IMCI qua việc lồng ghép vào kế hoạch hành động Quốc gia vì sự sống còn của trẻ em giai đoạn 2009 – 2015 (Ban hành theo Quyết định số 2565/QĐ-BYT ngày 17/7/2009 của Bộ Y tế) và triển khai lồng ghép các chương trình CSSKTE và các chương trình y tế liên quan

-                Duy trì chất lượng tại những địa phương đã và đang triển khai hoạt động IMCI.

-                Ứng dụng triển khai mở rộng tại các trường đại học, cao đẳng và trung học y tế.

-                Cập nhật, phát triển các nội dung và đa dạng hóa các hình thức huấn luyện IMCI cho cán bộ y tế.

-                Huấn luyện cán bộ y tế thôn bản về lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh và trẻ khỏe tại cộng đồng.
 
        Một số tài trợ quốc tế đã hỗ trợ cho hoạt động IMCI

1.         Tổ chức y tế thế giới (WHO)

2.         Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)

3.         Ngân hàng thế giới (Dự án hỗ trợ y tế quốc gia)

4.         Plan in Viet Nam

5.         DANIDA

6.         Chương trình phát triển hệ thống y tế VN-EC

7.         Dự án phòng chống sốt rét VN-EC

8.         AusAid (Vietnam-Australia Primary Health Care Project for women and children)

9.         NZAid

10.       Tầm nhìn thế giới (World Vision)

11.       SDA/SIDA

12.       CSS

13.       Allianz Mision

14.       JASS (JICA)

15.       Chương trình phát triển sức khoẻ trẻ em Phần Lan

16.       Uỷ ban hợp tác Việt Nam-Hà Lan.

17.       CIDSE

18.       CORDAID/CIHP

19.       Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)

 
Tin tiếp theo



Hội Y học Dự phòng Việt Nam

Tạp chí Y học Dự phòng

Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP
Quảng cáo