NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG IMCI
1. Các hoạt động của IMCI
Cải thiện kỹ năng
xử trí trẻ bệnh
|
Giám sát cải thiện
hệ thống y tế
|
Cải thiện thực hành
chăm sóc sức khỏe
tại gia đình và cộng đồng
|
|
Ø Các hướng dẫn và tài liệu huấn luyện về xử trí lồng ghép trẻ bệnh tại tuyến y tế cơ sở
Ø Các khóa huấn luyện IMCI cho cán bộ y tế tuyến cơ sở
Ø Giám sát hỗ trợ sau huấn luyện để củng cố và duy trì năng lực của cán bộ y tế
Ø Các hướng dẫn tài liệu huấn luyện kỹ năng xử trí trẻ bệnh lồng ghép cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung học y tế
|
Ø Các hướng dẫn và tài liệu lập kế hoạch và quản lý y tế cho cán bộ quản lý các tuyến
Ø Bảo đảm sự sẵn có các thuốc cần thiết cho IMCI thông qua cải thiện việc cung cấp và quản lý thuốc
Ø Cải thiện việc chuyển viện và chăm sóc chuyển viện
Ø Cải thiện cách tổ chức công việc tại cơ sở y tế
Ø Cải thiện việc giám sát các dịch vụ y tế
|
Ø Giáo dục sức khỏe và tham vấn cho các bà mẹ về cách nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ bệnh thông qua nâng cao kỹ năng tham vấn của cán bộ y tế
Ø Cải thiện thực hành tại gia đình và cộng đồng thông qua gói can thiệp IMCI cộng đồng
Ø Các hướng dẫn và tài liệu huấn luyện về chăm sóc sức khỏe trẻ em tại cộng đồng dành cho nhân viên y tế thôn bản
|
2. Triển khai các thành phần của IMCI
2.1. Cải thiện kỹ năng xử trí trẻ bệnh cho cán bộ y tế
Can thiệp chủ yếu được thực hiện là xử trí lồng ghép tất cả các bệnh gây tử vong cao ở trẻ em và các bệnh phối hợp thường gặp ở trẻ bệnh.
Đối tượng
Cán bộ y tế từ các cơ sở y tế tuyến đầu, bao gồm các trạm y tế xã, phòng khám đa khoa khu vực, phòng khám của các trung tâm y tế, phòng khám ngoại trú của các bệnh viện. Cán bộ y tế là các bác sỹ, y sỹ, y tá, và các cán bộ y tế khác có nhiệm vụ tham gia xử trí trẻ bệnh từ 1 tuần đến 5 tuổi tại các cơ sở y tế.
Đào tạo kỹ năng xử trí lồng ghép trẻ bệnh
Khoá huấn luyện IMCI bao gồm cả học lý thuyết và thực hành lâm sàng, trong đó thực hành lâm sàng chiếm 40% thời lượng khoá học. Khoá huấn luyện IMCI cũng nhấn mạnh đến công tác phòng bệnh và kỹ năng giao tiếp với người chăm sóc trẻ. học viên còn được học về tiêm chủng, bổ sung vi chất cho trẻ, khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ và tham vấn để khắc phục những khó khăn trong nuôi dưỡng trẻ.
Các cán bộ y tế sẽ được cải thiện kỹ năng thông qua khoá huấn luyện các kỹ năng xử trí lồng ghép trẻ bệnh (IMCI). Khoá huấn luyện sẽ sử dụng những hướng dẫn của IMCI để chỉ dẫn cho cán bộ y tế về cách đánh giá trẻ bệnh từ 1 tuần đến 5 tuổi về các dấu hiệu nguy hiểm toàn thân, ho hoặc khó thở, tiêu chảy, sốt, các vấn đề về tai, suy dinh dưỡng, thiếu máu và tìm kiếm dấu hiệu các bệnh khác.
Tiến trình xử trí lồng ghép trẻ bệnh hoàn chỉnh gồm các bước sau:
a. Cán bộ y tế đánh giá trẻ bệnh bằng việc trước hết kiểm tra các dấu hiệu nguy hiểm toàn thân, hỏi về tình hình bệnh tật, khám cho trẻ, kiểm tra tình trạng dinh dưỡng và tiêm chủng. Người cán bộ y tế cũng phải đánh giá các vấn đề khác.
b. Cán bộ y tế phân loại các bệnh của trẻ qua việc sử dụng bảng phân loại 3 màu. Nhiều cán bộ y tế đã quen với bảng này vì đã sử dụng các hướng dẫn của WHO dùng cho các chương trình CDD và ARI. Vì có những trẻ mắc nhiều bệnh cùng một lúc nên cán bộ y tế sẽ phân loại từng bệnh tuỳ xem bệnh đó có yêu cầu:
- thực hiện ngay những điều trị cấp cứu trước khi chuyển viện và chuyển trẻ lên tuyến trên, hoặc
- điều trị bằng thuốc thích hợp, hoặc
- tham vấn một cách dễ hiểu về điều trị trẻ bệnh tại nhà.
c. Sau khi phân loại bệnh, cán bộ y tế sẽ xác định cách điều trị cụ thể và đưa ra một kế hoạch điều trị lồng ghép cho mỗi trẻ. Nếu trẻ bệnh cần chuyển viện gấp, cán bộ y tế sẽ thực hiện ngay những điều trị cần thiết trước khi chuyển viện. Nếu trẻ bệnh chỉ cần được điều trị tại nhà, cán bộ y tế sẽ cho trẻ uống liều đầu tiên tại cơ sở y tế và hướng dẫn bà mẹ cách cho trẻ uống thuốc tại nhà.
d. Cán bộ y tế hướng dẫn thực hành chăm sóc trẻ bệnh, bao gồm hướng dẫn người chăm sóc trẻ cách cho trẻ uống thuốc, cho ăn, uống khi trẻ bị bệnh và cách điều trị tại nhà các bệnh nhiễm trùng thường gặp ở địa phương. Cán bộ y tế hẹn khám lại và hướng dẫn người chăm sóc trẻ khi nào phải đưa trẻ quay lại cơ sở y tế ngay.
e. Nếu một trẻ bị nhẹ cân so với tuổi, cán bộ y tế sẽ xác định điều trị, tham vấn về vấn đề nuôi dưỡng hoặc cho chuyển viện nếu cần thiết.
f. Khi trẻ được đưa đến khám lại theo yêu cầu, cán bộ y tế sẽ khám lại cho trẻ và nếu cần thiết sẽ đánh giá các vấn đề mới phát sinh.
Giám sát hỗ trợ sau huấn luyện
Huấn luyện IMCI bao gồm hai phần: cung cấp các kỹ năng và củng cố các kỹ năng. Hoạt động giám sát hỗ trợ sau huấn luyện là thành phần cơ bản thứ hai trong quá trình huấn luyện IMCI. Việc huấn luyện IMCI cho cán bộ y tế tuyến cơ sở chỉ được coi là hoàn thành khi họ được tham dự 1 khóa huấn luyện IMCI và được giám sát hỗ trợ ít nhất 1 lần trong vòng 1 tháng sau đó tại cơ sở y tế của họ. Dựa theo tiến trình đã được lập ra cho giám sát hỗ trợ sau huấn luyện, các giám sát viên sẽ giúp các cán bộ y tế củng cố các kỹ năng và khắc phục khó khăn trong việc áp dụng những kiến thức đã học vào công việc hàng ngày tại cơ sở y tế của họ.
Kết quả từ các đợt giám sát hỗ trợ còn giúp cho các nhà quản lý và các chương trình y tế biết được chất lượng hoạt động của các cơ sở y tế và có kế hoạch hỗ trợ kịp thời cho tuyến y tế cơ sở.
2.2. Cải thiện hệ thống y tế
Cải cách hệ thống y tế đang được tiến hành ở nhiều nước đang phát triển. Những cải cách này thường là phân cấp công tác quản lý, trong đó có các trách nhiệm về tổ chức huấn luyện, giám sát và cung cấp thuốc. Hoạt động IMCI tập trung xây dựng khả năng quản lý của y tế tuyến cơ sở là phù hợp và có thể góp phần đổi mới hệ thống y tế.
Lập kế hoạch và quản lý hoạt động IMCI tại tỉnh/huyện
Đối tượng của hoạt động này là các cán bộ quản lý y tế, những người đóng vai trò chính trong việc đưa ra các quyết định đối với công tác triển khai, duy trì và phát triển IMCI tại địa phương. Cán bộ quản lý sẽ được cung cấp những hiểu biết cơ bản về IMCI; hiểu rõ mục tiêu của IMCI trong việc cải thiện kỹ năng của cán bộ y tế về chăm sóc trẻ bệnh, đảm bảo sự sẵn có của các loại thuốc, thiết bị thiết yếu cho chăm sóc sức khoẻ trẻ em tại tuyến cơ sở, đảm bảo việc ghi chép các thông tin y tế có liên quan và các hoạt động nhằm cải thiện thực hành tại gia đình và cộng đồng về chăm sóc sức khoẻ trẻ em; và những kỹ năng cần thiết để lên kế hoạch triển khai duy trì hoạt động IMCI tại địa phương.
Đây là một trong những nội dung quan trọng và đầu tiên đối với những tỉnh sẽ thực hiện IMCI nhằm đảm bảo hoạt động IMCI được lên kế hoạch phù hợp với địa phương, duy trì và phát triển hiệu quả, đem đến những thay đổi lớn trong chăm sóc sức khỏe trẻ em tại gia đình, cộng đồng và tại các cơ sở y tế.
Quản lý cung ứng thuốc
Sự sẵn có các thuốc thiết yếu là cơ sở cho thành công của IMCI và là một trong những nội dung cải thiện hệ thống y tế cần đạt được thông qua việc triển khai thành phần thứ hai của Hoạt động IMCI. Một khoá học về quản lý cung cấp thuốc cho các cán bộ y tế đang làm công tác quản lý thuốc tại các cơ sở y tế tuyến đầu được coi như một bước quan trọng giúp giúp cán bộ y tế có thể tự lên kế hoạch cung ứng thuốc phù hợp tại cơ sở y tế, đảm bảo việc cung ứng, quản lý thuốc theo một quy trình chuẩn qua đó cơ sở luôn có đủ nguồn thuốc thiết yếu phục vụ hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Huấn luyện giám sát viên
Đối với bất kỳ một hoạt động nào muốn triển khai hiệu quả cần có một đội ngũ giám sát đủ năng lực, có kỹ năng giám sát và hoạt động giám sát phải duy trì thường xuyên để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Tham gia hoạt động huấn luyện giám sát viên, các cán bộ quản lý, các giám sát viên các chương trình y tế sẽ có cơ hội được nâng cao kỹ năng giám sát, nắm rõ tiến trình giám sát để từ đó áp dụng không chỉ riêng cho hoạt động IMCI mà còn có thể cho các dịch vụ y tế khác, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả giám sát tại tuyến cơ sở.
Những lợi ích IMCI có thể mang lại cho việc cải cách lĩnh vực y tế
- Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản có hiệu quả hơn về mặt kinh tế.
- Cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe trẻ em.
- Cải thiện cung cấp và quản lý thuốc.
- Tiết kiệm kinh phí, thời gian, nhân lực.
- Phân cấp quản lý cho tuyến huyện.
- Hệ thống y tế hoạt động hiệu quả hơn.
- Cải thiện hiệu quả chăm sóc y tế (giảm tỷ lệ tử vong trẻ em)
2.3. Cải thiện thực hành chăm sóc sức khỏe tại gia đình và cộng đồng
Thành phần này nhằm mục đích phát động, củng cố và duy trì các thực hành chăm sóc trẻ tại gia đình, một yếu tố quan trọng cho sự sống còn, lớn lên và phát triển của trẻ em. Thành phần này đang được thực hiện thông qua nâng cao kỹ năng tham vấn cho cán bộ y tế cơ sở, thực hiện gói can thiệp IMCI cộng đồng và huấn luyện kỹ năng chăm sóc sức khỏe trẻ em tại cộng đồng cho nhân viên y tế thôn bản.
Những thực hành chủ yếu tại gia đình và cộng đồng
Vì sự phát triển về thể lực và tinh thần của trẻ
§ Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn đến 6 tháng tuổi.
§ Bắt đầu cho trẻ ăn sam từ tháng thứ 6 với thức ăn đủ năng lượng và dinh dưỡng trong khi tiếp tục cho trẻ bú đến 2 tuổi.
§ Đảm bảo cho trẻ được nhận đủ các chất vi lượng (Đặc biệt là Vitamin A và Sắt) trong chế độ ăn hàng ngày hoặc bổ sung thêm.
§ Khuyến khích sự phát triển về mặt tinh thần và xã hội của trẻ bằng việc chăm sóc, nói chuyện, chơi đùa và tạo cho trẻ một môi trường kích thích sự phát triển thể chất và tinh thần.
Để phòng bệnh
§ Cho trẻ đi tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch (lao, BH-HG-UV, sởi, bại liệt, viêm gan B) trước 1 tuổi.
§ Sử dụng nguồn nước sạch, vệ sinh môi trường và nhà ở, xử lý chất thải hợp vệ sinh, rửa tay sau mỗi lần đi vệ sinh, trước khi chuẩn bị thức ăn và trước khi cho trẻ ăn.
§ Ở những vùng có nguy cơ sốt rét và sốt xuất huyết, cho trẻ ngủ màn có tẩm thuốc, diệt muỗi, bọ gậy.
§ Tiếp thu và duy trì những hành vi thích hợp để phòng chống và chăm sóc những người bị nhiễm HIV/AIDS, bao gồm cả trẻ mồ côi.
Chăm sóc thích hợp tại nhà
§ Tiếp tục cho trẻ ăn, uống hoặc bú mẹ nhiều hơn, khi trẻ bị bệnh.
§ Chăm sóc thích hợp tại nhà đối với các bệnh nhiễm khuẩn.
§ Có những hành động thích hợp để phòng ngừa và hạn chế tai nạn thương tích của trẻ em.
§ Ngăn ngừa việc trẻ em bị ngược đãi, lạm dụng hoặc bỏ mặc và có những hành động thích hợp khi những việc đó xảy ra.
§ Bảo đảm rằng nam giới tham gia một cách tích cực vào việc chăm sóc trẻ em và thực hiện sức khỏe sinh sản tại gia đình.
Tìm kiếm dịch vụ y tế
§ Nhận biết rõ khi nào trẻ bệnh cần sự chăm sóc của cán bộ y tế và đưa trẻ đến nơi cung cấp dịch vụ y tế thích hợp.
§ Thực hiện những hướng dẫn của cán bộ y tế về điều trị, theo dõi trẻ bệnh, khám lại và chuyển viện...
§ Đảm bảo tất cả phụ nữ có thai đều được chăm sóc đầy đủ, bao gồm khám thai ít nhất 3 lần tại cơ sở y tế và được tiêm chủng đầy đủ văcxin phòng uốn ván. Người mẹ cũng cần được sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng khi sinh nở, trong thời kỳ sau đẻ và cho con bú.