Thời tiết











  Đào tạo Ngắn hạn - Tập huấn
Những bệnh thường gặp trên động vật phòng thí nghiệm do vi khuẩn
NHỮNG BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN ĐỘNG VẬT PHÒNG THÍ NGHIỆM
DO VI KHUẨN
 
  1) Bệnh Tyzzer’s Disease:

  - Tác nhân gây bệnh là Bacillus piliformis.

  - Hình thể: Hình dài, mỏng bắt màu Gram âm.

  - Triệu chứng lâm sàng: Dấu hiệu đầu tiên là ỉa chảy và lây lan nhanh thành dịch và thường gây chết với tỉ lệ cao. Bệnh Tyzzer’s disease được tìm thấy trên rất nhiều loại động vật phòng thí nghiệm, trên các loại gậm nhấm và những loài sống tự do. Thức ăn bị nhiễm phân và các rác thải có thể là những mầm mống của sự lây nhiễm. Nhiễm trùng tử cung có thể gây ra bởi sự gây nhiễm tĩnh mạch của các con cái có chửa, nhưng sự phổ biến của đường lây truyền trong tự nhiên là không được xác định. Nhìn vi thể ruột hồi, ruột kết có thể bình thường hoặc đỏ và giãn rộng toàn nước, mùi hôi hám. Gan thường một hoặc nhiều ổ hoại tử màu trắng xám. Trong ruột những nốt hoại tử, viêm và xuất huyết của tế bào biểu mô. Trong gan những ổ hoại tử đông lại thường phân bố theo chiều tĩnh mạch cửa. Những tổn thương của chứng viêm tự do lan rộng nhưng các nơtron và tế bào bạch huyết có thể ít những tổn thương thâm nhiễm. Những tổn thương ở tim xảy ra trong một số loài như thỏ và chuột cống nhưng nói chung không xảy ra đối với chuột nhắt.
          Những bó dài mảnh màu đỏ có thể tìm thấy trong tế bào chất của các ổ hoại tử tế bào gan. Những tổ chức được tìm thấy trong thời kỳ đầu của sự nhiễm trùng.

  - Chẩn đoán bệnh Tyzzer’s diease: tìm thấy Bacillus trong một bộ phận tổ chức mô của gan và ruột.

  - Kiểm tra và phòng bệnh Tyzzer’s diease: Phải phát hiện sớm, cách ly con bị bệnh và thực hiện các biện pháp tẩy trùng nhà chăn nuôi.

  2) Bệnh Salmonella:

          Bệnh Salmonella được nghiên cứu kỹ lưỡng trên chuột nuôi tự nhiên cũng như chuột thí nghiệm được gây nhiễm. Chuột cũng được sử dụng vào thử nghiệm hiệu lực của vắc xin bảo vệ cho người chống lại bệnh sốt thương hàn. Quy trình sản xuất hiện đại và phương pháp quản lý chặt chẽ đã giảm khả năng gây bệnh tự nhiên của chuột thí nghiệm. Tuy nhiên vi khuẩn Salmonella tồn tại trong tự nhiên gây bệnh qua lại từ các loài khác hoặc từ các loài chuột hoang dã là vẫn có thể. Có gần 1600 serotypes của Salmonella được ghi nhận. Salmonella được phân lập từ chuột hầu hết là S. enteriditis và S. typhimurium là vi khuẩn bắt màu gram âm, lên men chậm đường lactose.

          Vi khuẩn Salmonella có mặt trên đường tiêu hóa và có thể lây nhiễm bởi phân và nước uống. Nhiễm trùng đầu tiên xảy ra trên đường tiêu hóa. Các loài bao gồm sâu bọ, chim, động vật hoang dã, người mang bệnh cũng có thể là nguồn lây nhiễm. Chuột mới cai sữa nhậy cảm với bệnh hơn chuột già.

          Nếu bệnh xảy ra trên đàn chuột tỷ lệ chết cao với các triệu chứng đi ỉa, bỏ ăn, giảm cân, lông xù và giảm khả năng sinh sản.

          Độc tố của S. enteriditis, S. typhimurium phụ thuộc vào khả năng thâm nhập vào thành ruột, sự nhân lên và phổ biến giữa các tế bào lympho. Trong nhiễm khuẩn mãn vi khuẩn vẫn còn trong lách và tế bào lympho điển hình ở gan và túi mật và từ từ được thải ra ngoài theo phân.

          Những con vật bị chết cấp có thể không có tổn thương nhưng phủ tạng xung huyết, gan nhợt nhạt, viêm ruột. Nếu con vật sống sót trong vài tuần ruột có thể sưng phồng và trở nên đỏ, trắng, gan và lách to chứa các nốt hoại tử màu vàng xám. Các tế bào lympho bị nhiễm cũng to ra, đỏ và có các ổ hoại tử. Các ổ viêm có thể phát triển trong nhiều tổ chức bao gồm cả cơ tim. Tổn thương u hạt là tính chất đặc biệt của bệnh Salmonella mãn.

          Chẩn đoán dựa trên cơ sở phân lập được vi khuẩn Salmonella cùng với bằng chứng của các dấu hiệu lâm sàng và các tổn thương. Trong cơ thể chuột bệnh, vi khuẩn có thể tồn tại trong gan và lách trong một vài tuần. Trong giai đoạn cấp vi khuẩn cũng được phân lập được từ máu. Những con vật bị nhiễm bệnh có thể xác định bởi cấy phân trong môi trường giầu dinh dưỡng. Xác định nhiễm bệnh bằng làm phản ứng huyết thanh.

          Bệnh Salmonella có thể phòng bằng cách chăm sóc tốt, đảm bảo vệ sinh sạch sẽ khu chăn nuôi, cần phát hiện sớm và cách ly kịp thời những con mắc bệnh, vệ sinh tiệt trùng nhà chăn nuôi.

  3) Bệnh cầu khuẩn (Staphylococcois):

          Vi khuẩn Staphylococois được tìm thấy trong ống mũi của chuột khỏe mạnh, đôi khi xâm lấn gần kề xương và tạo ra ổ hoại tử. Staphylococcois có thể tạo ra nhiễm trùng da tiên phát nhưng tổn thương da thường xuất hiện sau sự lây nhiễm của vết thương da. Staph. aureus là loại gây bệnh nói chung trên hệ da và màng nhầy của chuột, còn Staph. epidermidis là loại không gây bệnh. Viêm da xuất hiện trên mặt, cổ và có thể trở thành ổ áp xe ở tế bào da và loét da. Các tổn thương gây ngứa, sây sát gây tăng thêm vết thương và sự tự nhiễm. Nhiễm trùng Staph. trên đường sinh dục con đực có thể tạo ra ổ áp xe ở bao qui đầu. Xuất hiện các nốt rắn chắc nổi lên ở vùng bẹn hoặc đáy dương vật và có thể vỡ ra nhiễm trùng trải ra các mô xung quanh. Nghiên cứu mô học nhiễm trùng Staph. bề mặt xảy ra như tổn thương tơ huyết fibrin với các nơtron, các bạch cầu đa nhân và các nguyên bào sợi. Nhiễm trùng sâu xuất hiện các u hạt kết lại với hoại tử ở giữa chứa đựng nhiều vi khuẩn.

          Sự lây lan của viêm da Staph. xuất hiện ảnh hưởng bởi kiểu di truyền của vật chủ, sức khỏe toàn bộ của đàn chuột, số lượng lây nhiễm của Staph. trong môi trường. Các giống chuột như C57BL/6, C3H, DBA, BALB/C rất nhy cảm với mầm bệnh. Tuổi cũng ảnh hưởng tới tính nhy cảm của bệnh, chuột mới cai sữa nhy cảm hơn chuột lớn. Hệ thống miễn dịch của chuột với lây nhiễm Staph. thường phát triển nhiều ổ áp xe. Lây nhiễm Staph. trong môi trường là cực kỳ độc hại. Sự xâm chiếm đường dạ dày ruột có thể xảy ra và tạo thành trạng thái mang bệnh. Type Staph. ở người có thể nhiễm sang chuột.

          Chẩn đoán được bệnh bởi sự phân lập của vi khuẩn gram âm, coagulase dương tính, tạo ra tan máu (hemolyis) trên thạch máu. Sự tìm thấy các tính chất nói trên có thể xác định được nguồn lây nhiễm. Nhuộm gram các tổn thương trên da sẽ phát hiện thấy cocci gram dương.

          Khử trùng thức ăn và chuồng trại, thay đổi thường xuyên lót ổ, cách ly những con bị bệnh có thể hạn chế và giảm sự lây nhiễm. 
 
                                                                                                       Trịnh Thanh Phương
                                                                                         Trung tâm Cimade, Viện VSDT Trung ương
 
Tin tiếp theo









Hội Y học Dự phòng Việt Nam

Tạp chí Y học Dự phòng

Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP

Tiêm chủng mở rộng QG
Quảng cáo














Thiết kế website