Thời tiết











  Chương trình Tiêm chủng mở rộng Quốc gia
Các loại vắc xin dùng trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng Quốc gia
1. VẮC XIN BẠCH HẦU-HO GÀ-UỐN VÁN (DPT)
1.1 Vắc xin DPT là gì?
 
Vắc xin bạch hầu-ho gà-uốn ván được làm từ giải độc tố bạch hầu, giải độc tố uốn ván và vắc xin ho gà. Đây là vắc xin dạng dung dịch. Nếu để lọ vắc xin thẳng đứng trong 1 thời gian dài, những hạt nhỏ mịn có thể lắng xuống dưới đáy trông giống như dải cát mịn dưới đáy lọ. Chính vì vậy mà trước khi sử dụng phải lắc lọ để trộn đều vắc xin.
Không được để đông băng vắc xin DPT. Thử nghiệm “Lắc” (xem Bài 3) sẽ xác định xem vắc xin có bị hỏng bởi đông băng không. Nếu thử nghiệm lắc cho thấy vắc xin bị đông băng thì vắc xin đó nhất thiết phải bị hủy bỏ.
Những phản ứng sau khi tiêm DPT thường nhẹ. Thường gặp là:

Sốt. Có thể tới một nửa số trẻ em sau tiêm DPT bị sốt vào buổi tối. Sốt có thể hết sau 1 ngày. Cần lưu ý là sốt xuất hiện sau 24 giờ có thể không phải là do phản ứng đối với vắc xin DPT. Cho trẻ uống paracetamol hoặc một vài loại thuốc hạ sốt thích hợp ngay sau khi tiêm và sau 4 đến 8 tiếng sẽ có tác dụng giảm sốt cũng như những phản ứng tại chỗ.

Đau nhức. Có thể tới một nửa số trẻ có thể bị đau, nổi ban, sưng tại chỗ tiêm.

Quấy khóc hơn 3 tiếng đồng hồ thường do đau, có thể gặp trên 1% số trẻ.

Những phản ứng nghiêm trọng hơn như co giật (thường liên quan tới sốt, chiếm tỷ lệ 1/12.500 liều được tiêm) và giảm trương lực cơ (chiếm tỷ lệ 1/1.750 liều được tiêm). Phản ứng quá mẫn thường hiếm gặp.

Không có bằng chứng nào cho thấy vắc xin DPT là nguyên nhân gây nên những rối loạn thần kinh nghiêm trọng, ví dụ như viêm não.

a Có sự khác nhau đáng kể về lịch tiêm 3 liều đầu tiên trong lịch tiêm chủng của các nước.
b Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến nghị rằng những nơi có đủ nguồn lực có thể thực hiện 1 liều DPT nhắc lại sau khi đã hoàn thành 3 liều đầu. Sự cần thiết đối với liều tiêm nhắc DPT tùy chương trình tiêm chủng của mỗi quốc gia.
2. VẮC XIN SỞI
2.1 Vắc xin sởi là gì?
 
Vắc xin sởi được đóng gói dưới dạng đông khô kèm theo dung môi pha hồi chỉnh. Vắc xin cần pha hồi chỉnh trước khi sử dụng (xem Bài 6). Chỉ sử dụng dung môi được cấp cùng với vắc xin. Vắc xin sởi sau khi pha hồi chỉnh vẫn phải bảo quản ở nhiệt độ từ 2°C đến 8°C. Hủy bỏ vắc xin còn trong lọ sau 6 giờ hoặc sau mỗi buổi tiêm chủng.
Ở những nước có tình trạng thiếu hụt Vitamin A, việc bổ sung Vitamin A thường được thực hiện cùng thời gian với việc tiêm vắc xin (xem Bài 6). Ở một số nước, sử dụng vắc xin phối hợp như sởi - quai bị (MR), sởi - quai bị - rubella (MMR) (xem phần 3 của Bài này).
Những phản ứng nhẹ do vắc xin thường ít gặp, có thể là:

Đau nhức. Một vài trẻ có thể cảm thấy đau tại nơi tiêm trong 24 giờ sau tiêm. Phần lớn phản ứng này sẽ mất đi trong vòng 2 đến 3 ngày mà không cần phải điều trị gì.

Sốt. Khoảng 5% trẻ có biểu hiện sốt sau khi tiêm 5 đến 12 ngày và sốt kéo dài 1 đến 2 ngày.

Ban. Khoảng 1/20 trẻ có biểu hiện ban nhẹ trong khoảng 5 đến 12 ngày sau tiêm. Ban cũng thường kéo dài khoảng 2 ngày.

Những phản ứng nặng hiếm gặp; ước tính có khoảng 1 trường hợp bị quá mẫn với vắc xin trên 1.000.000 liều vắc xin; 1 trường hợp dị ứng trên 100.000 liều vắc xin và 1 trường hợp giảm tiểu cầu trên 30.000 liều vắc xin được tiêm. Viêm não cũng đã được ghi nhận là có khoảng 1 trên 1 triệu liều vắc xin được tiêm. Tuy nhiên trong những trường hợp đó, không có chứng cứ chứng tỏ nguyên nhân là do vắc xin.

2.3 “Cơ hội lần 2” đối với tiêm vắc xin sởi là gì?

Trẻ em phải có cơ hội được tiêm vắc xin sởi lần 2. Điều này sẽ làm tăng tỷ lệ trẻ được nhận ít nhất 1 liều vắc xin sởi để củng cố miễn dịch sởi ở những trẻ không đáp ứng miễn dịch ở lần tiêm trước. Tiêm vắc xin sởi lần 2 có thể được thực hiện trong tiêm chủng thường xuyên hoặc thông qua những chiến dịch tiêm chủng. Phần 2.7 của bài 1 đã trình bày những chiến lược để giảm tỷ lệ chết do sởi.

NHỮNG TÓM TẮT VỀ TIÊM VẮC XIN SỞI

Loại vắc xin

Vắc xin sống giảm độc lực

Số liều

Một liều. Nếu tiêm liều thứ 2 thì phải cách liều 1 tối thiểu 1 tháng.

Lịch tiêm

Từ 9 đến 11 tháng tuổi ở những nước mà sởi còn lưu hành cao, muộn hơn ở những nước kiểm soát sởi ở mức độ cao hoặc có tỷ lệ mắc sởi thấpa

Liều tiêm nhắc

Liều thứ 2 đang được khuyến nghị (trong tiêm chủng thường xuyên hoặc chiến dịch)

Chống chỉ định

Có phản ứng nặng trong lần tiêm trước; phụ nữ có thai; thiếu hụt miễn dịch bẩm sinh hoặc mắc phải (không kể nhiễm HIV)

Phản ứng sau tiêm

Khó chịu, sốt, ban sau khi tiêm 5 đến 12 ngày; xuất huyết giảm tiểu cầu tự phát; hiếm gặp viêm não, dị ứng.

Chú ý đặc biệt

Không

Liều lượng

0,5ml

Vị trí tiêm

Mặt ngoài giữa đùi/ mặt ngoài trên cánh tay tùy thuộc vào tuổi

Đường tiêm

Dưới da

Bảo quản

Từ 2°C đến 8°C (vắc xin không bị hỏng bởi đông băng, dung môi pha hồi chỉnh không được để đông băng)

a Những trẻ có nguy cơ cao (nhiễm HIV, sống trong những trại tị nạn, hoặc đang trong vùng có dịch) có thể được tiêm 1 liều vào lúc 6 tháng tuổi và tiêm tiếp 1 liều nữa khi được 9 tháng.

3. VẮC XIN BẠI LIỆT UỐNG (OPV)
3.1 Vắc xin OPV là gì?
Vắc xin bại liệt uống được đóng gói dưới dạng dung dịch dưới 2 hình thức:

Ống vắc xin nhỏ bằng nhựa

Lọ thủy tinh và ống nhỏ giọt được đựng trong 1 túi riêng.

Tháng 7 năm 2003, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) không khuyến nghị sử dụng vắc xin bại liệt tiêm (IPV) riêng lẻ hoặc phối hợp ở những nước đang phát triển vì một số lý do: những thông tin chưa rõ ràng liên quan đến đáp ứng miễn dịch với IPV khi tiêm vào lúc mới sinh, theo lịch tiêm chủng của chương trình tiêm chủng mở rộng, vi rút bại liệt hoang dại tiếp tục lưu hành trong 2 lục địa, chi phí cao và sự phức tạp trong quá trình thực hiện vì nó đòi hỏi bơm kim tiêm đi kèm trong khi đó vắc xin OPV đơn giản chỉ là uống.
OPV rất ít có phản ứng phụ. Chỉ có khoảng dưới 1% tổng số người uống vắc xin có biểu hiện đau đầu, tiêu chảy hoặc đau cơ.

Nguy cơ về liệt do vắc xin (VAPP) là rất nhỏ, với tỷ lệ khoảng 2 đến 4 trường hợp/1 triệu trẻ được uống vắc xin

TÓM TẮT VỀ TIÊM CHỦNG: OPV
 

Loại vắc xin

Vắc xin sống giảm độc lực

Số liều

3 liều

Lịch tiêm

2, 3, 4 tháng tuổi

Liều nhắc lại

Trong các hoạt động thanh toán bại liệt

Chống chỉ định

Không

Phản ứng phụ sau tiêm

Liệt do vắc xin (VAPP) xảy ra rất hiếm (khoảng 2 đến 4 trường hợp/1 triệu trẻ được uống vắc xin)

Chú ý đặc biệt

Trẻ em bị thiếu hụt miễn dịch nên được sử dụng vắc xin IPV hơn là OPV.

Liều lượng

2 giọt

Vị trí tiêm

Đường dùng

Uống

Bảo quản

Nhiệt độ từ 2°C đến 8°C (vắc xin không bị hỏng bởi đông băng)

3.3 Uống OPV bổ sung.
Chiến lược quan trọng để thanh toán bệnh bại liệt là tổ chức uống OPV bổ sung (xem bài 1, phần 5.7) và thường được tổ chức bằng những chiến dịch quy mô lớn. Những Ngày Tiêm Chủng Toàn Quốc – NIDs cho những trẻ dưới 5 tuổi uống 2 lần vắc xin bại liệt cách nhau 1 tháng mà không cần quan tâm đến tiền sử uống OPV trước đó. Có thể thực hiện nhiều chiến dịch NIDs mà không gây nguy hiểm do uống nhiều liều vắc xin OPV.
4. VẮC XIN UỐN VÁN (UV)
4.1 Vắc xin uốn ván là gì?
Vắc xin uốn ván bảo vệ cơ thể phòng bệnh uốn ván. Vắc xin uốn ván có dạng dung dịch đóng trong lọ thủy tinh. Ngoài ra nó còn được đóng sẵn trong bơm kim tiêm tự khóa (xem bài 4). Có một vài dạng chế phẩm chứa thành phần uốn ván:

·        Vắc xin uốn ván chỉ để phòng bệnh uốn ván và bệnh uốn ván sơ sinh.

·        Vắc xin DPT (bạch hầu - ho gà - uốn ván) phòng được các bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván (xem phần 1 của bài này).

·        Vắc xin DT (bạch hầu - uốn ván) phòng các bệnh bạch hầu, uốn ván. Do loại vắc xin này có chứa giải độc tố bạch hầu ở mức cao nên nó không được sử dụng để tiêm cho trẻ trên 6 tuổi hoặc người lớn.

·        Vắc xin Td (vắc xin uốn ván - bạch hầu cho người lớn) cũng giống như DT nhưng thành phần bạch hầu thấp hơn. Loại vắc xin này phù hợp với những trẻ trên 6 tuổi và người lớn kể cả phụ nữ có thai. Sự xuất hiện của Td càng tăng thêm khả năng phòng bệnh bạch hầu và uốn ván.

Vắc xin UV hoặc Td khi tiêm cho phụ nữ có thai không chỉ bảo vệ bệnh uốn ván cho mẹ mà còn phòng uốn ván sơ sinh cho con. Sau khi tiêm vắc xin UV hoặc Td, kháng thể hình thành sẽ truyền cho thai nhi để bảo vệ cho trẻ trong khi sinh và sau đó 1 vài tháng. Đồng thời chúng cũng phòng uốn ván cho bà mẹ.

3 liều vắc xin UV hoặc Td có khả năng phòng uốn ván cho bà mẹ và uốn ván sơ sinh ít nhất 5 năm. Nếu tiêm 5 liều có thể phòng uốn ván trong suốt thời kỳ sinh đẻ.

Nếu để lắng lọ vắc xin UV trong thời gian dài, lọ vắc xin sẽ chia thành 2 phần dung dịch và phần lắng cặn ở dưới đáy lọ. Do đó phải lắc kỹ trước khi sử dụng. Vắc xin UV/DT/Td/DPT không được để đông băng. Thử nghiệm “Lắc” (xem bài 3) sẽ xác định xem vắc xin có bị đông băng không? Nếu vắc xin đã bị đông băng phải hủy bỏ.
4.2 Tính an toàn của vắc xin UV, Td, DT và những phản ứng sau tiêm.

Những vắc xin có chứa thành phần uốn ván thường là phản ứng nhẹ, ít gây phản ứng nặng.

Những phản ứng nhẹ do vắc xin uốn ván, Td và DT gồm:

Có khoảng 1/10 trường hợp sau tiêm 1 – 3 ngày có biểu hiện đau nhẹ, nổi mẩn, nóng và sưng tấy nhẹ tại chỗ tiêm. Những phản ứng nhẹ này trở nên phổ biến hơn ở những lần tiêm sau và có thể gặp ở 50 đến 80% những người tiêm nhắc.

Khoảng 1/10 trường hợp được tiêm có biểu hiện sốt nhẹ sau tiêm.

LỊCH TIÊM PHÒNG UỐN VÁN TRONG TIÊM CHỦNG THƯỜNG XUYÊN
CHO PHỤ NỮ CÓ THAI

Liều

UV  hoặc Td

Thời gian tiêm

Thời gian bảo vệa

1

Tiêm càng sớm càng tốt khi có thai lần đầu hoặc nữ 15-35 tuổi ở vùng có nguy cơ mắc uốn ván sơ sinh cao.

Không

2

Ít nhất 4 tuần sau lần 1

1 đến 3 năm

3

Ít nhất 6 tháng sau lần 2 hoặc trong thời kỳ có thai  lần sau.

Tối thiểu 5 năm

4

Ít nhất 1 năm sau lần 3 hoặc trong thời kỳ có thai  lần sau.

Tối thiểu 10 năm

5

Ít nhất 1 năm sau lần 4 hoặc trong thời kỳ có thai lần sau.

Trong suốt thời kỳ sinh đẻ và có thể lâu hơn

Tăng tỷ lệ nữ được tiêm vắc xin có thành phần uốn ván khi còn nhỏ hoặc ở tuổi học đường. Khi đến tuổi sinh đẻ, tỷ lệ mắc uốn ván mẹ và uốn ván sơ sinh hy vọng sẽ giảm xuống: tiêm đúng, đủ 3 liều DPT ở trẻ nhỏ có giá trị bảo vệ tương đương 2 liều uốn ván/Td ở người lớn.

a Những nghiên cứu ngày nay cho thấy, thời gian bảo vệ của vắc xin uốn ván còn lâu hơn. Vấn đề này hiện tại đang được xem xét.

TÓM TẮT VỀ TIÊM CHỦNG VẮC XIN UỐN VÁN

Loại vắc xin

Giải độc tố

Số liều

Tối thiểu 2 liều cơ bản

Lịch tiêm

Xem bảng trang trước

Liều tiêm nhắcb

Đối với UV xem bảng trang trước

Đối với Td 10 năm một lần

Đối với DT thì 18 tháng đến 6 tuổi.

Chống chỉ định

Phản ứng quá mẫn với lần tiêm trước

Phản ứng sau tiêm

Thường gặp phản ứng tại chỗ hoặc toàn thân nhẹ và tăng hơn ở những lần tiêm tiếp theo thậm chí có thể trở thành chống chỉ định nếu phản ứng quá mạnh ở lần tiêm trước.

Liều lượng

0,5ml

Nơi tiêm

Mặt ngoài phần trên cánh tay

Đường tiêm

Bắp

Bảo quản

Ở nhiệt độ từ 2°C đến 8°C. Không được để đông băng vắc xin.

b Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến nghị rằng ở những nơi nguồn lực cho phép, có thể bổ sung liều DPT sau 3 mũi tiêm cơ bản 1 năm. Tuy vậy, sự cần thiết cũng như thời điểm tiêm liều DPT, DT hoặc Td tăng cường tùy thuộc từng quốc gia.

5. VẮC XIN PHÒNG LAO (BCG)
Vắc xin BCG để phòng bệnh lao ở trẻ.
Vắc xin BCG có dạng bột và có dung môi pha hồi chỉnh kèm theo. Trước khi sử dụng phải hòa tan vắc xin với dung môi đi kèm. Sau khi pha hồi chỉnh, nó phải được bảo quản ở nhiệt độ 2°C đến 8°C. Phần vắc xin còn lại trong lọ sau mỗi buổi tiêm chủng hoặc sau 6 giờ phải hủy bỏ.
5.2 Tính an toàn và những phản ứng sau tiêm?
Phần lớn trẻ em đều có phản ứng tại chỗ tiêm. Thông thường, ngay sau khi tiêm vắc xin BCG, thường xuất hiện nốt nhỏ tại chỗ tiêm và biến mất sau 30 phút. Sau khoảng 2 tuần, xuất hiện một vết loét đỏ có kích thước bằng đầu bút chì. Sau đó 2 tuần, vết loét tự lành để lại một sẹo nhỏ có đường kính 5mm. Điều đó chứng tỏ trẻ đã có miễn dịch.

Những phản ứng khác:

Sưng hoặc áp-xe. Có thể nổi hạch ở nách hoặc khuỷu tay, một số trường hợp dẫn đến áp-xe. Nổi hạch hoặc áp-xe thường xảy ra do sử dụng bơm kim tiêm không vô trùng hoặc tiêm quá nhiều vắc xin, phổ biến nhất là thay vì tiêm trong da thì lại tiêm dưới da.

Có rất ít phản ứng nặng sau tiêm BCG. Có khoảng 1/1.000.000 trường hợp bị nhiễm lao sau tiêm BCG, hay xảy ra ở những trường hợp nhiễm HIV hoặc những trường hợp thiếu hụt miễn dịch nặng.

TÓM TẮT TIÊM CHỦNG VẮC XIN BCG
 

Loại vắc xin

Sống giảm độc lực

Số liều

1 liều

Lịch tiêm

Ngay sau khi sinh càng sớm càng tốt

Liều nhắc lại

Không

Chống chỉ định

Có dấu hiệu và triệu chứng của AIDS

Phản ứng sau tiêm

Áp-xe tại chỗ, nổi hạch, hiếm gặp hơn là viêm tủy, nhiễm bệnh lao

Chú ý đặc biệt

Tiêm trong da chính xác. Sử dụng bơm kim tiêm riêng để tiêm vắc xin BCG

Liều lượng

0,1ml

Vị trí tiêm

Mặt ngoài phía trên cánh tay hoặc vai trái

Đường tiêm

Trong da

Bảo quản

Ở nhiệt độ từ 2°C đến 8°C (vắc xin không bị hỏng bởi đông băng nhưng dung môi không được để đông băng)

6. VẮC XIN VIÊM GAN B

Vắc xin viêm gan B có dạng dung dịch đóng lọ 1 liều hoặc 2 liều hoặc trong bơm kim tiêm tự khóa (xem bài 4).

Vì vắc xin viêm gan B chỉ chứa duy nhất 1 loại kháng nguyên nên người ta còn gọi nó là vắc xin đơn giá. Ngoài ra nó cũng có thể được kết hợp với các vắc xin khác để tạo thành vắc xin phối hợp như DPT-VGB (viêm gan B kết hợp với DPT), DPT-VG B+Hib (vắc xin viêm gan B kết hợp với DPT và vắc xin Hib) – xem phần 8 và 10 của bài này.

Tuy nhiên chỉ có loại vắc xin viêm gan B đơn giá mới được sử dụng tiêm cho trẻ ngay sau khi sinh. Những loại vắc xin phối hợp chỉ sử dụng cho những liều sau.

Nếu để lọ vắc xin viêm gan B trong thời gian dài sẽ thấy lọ vắc xin sẽ chia thành 2 phần dung dịch và phần lắng cặn ở dưới đáy lọ. Do đó phải lắc kỹ trước khi sử dụng. Vắc xin viêm gan B không được để đông băng. Thử nghiệm “Lắc” (xem bài 3) sẽ xác định xem vắc xin có bị đông băng không? Nếu vắc xin đã bị đông băng phải hủy bỏ.
Vắc xin viêm gan B là một trong những vắc xin an toàn nhất.

Những phản ứng nhẹ có thể gặp:

Có khoảng 15% người lớn và 5% trẻ nhỏ cảm thấy đau, đỏ hoặc sưng nhẹ tại chỗ tiêm.

Sốt. Khoảng 1% đến 6% có biểu hiện sốt nhẹ từ 1 đến 2 ngày sau tiêm.

Dị ứng cũng như những biến chứng do vắc xin này là rất hiếm phản ứng dị ứng như nổi ban, khó thở chiếm tỷ lệ khoảng 1/600.000 liều. Không có trường hợp tử vong nào được báo cáo.

              

LỊCH TIÊM VẮC XIN VIÊM GAN B

Lứa tuổi

Những vắc xin khác tiêm trong cùng thời gian

Vắc xin viêm gan B

Mới sinh
BCG
Viêm gan B sơ sinh
2 tháng
OPV1, DPT1
Viêm gan B mũi 2
3 tháng
OPV2, DPT2

 4 tháng
 OPV3, DPT3
Viêm gan B mũi 3

TÓM TẮT VỀ TIÊM VẮC XIN VIÊM GAN B
 

Loại vắc xin

Vắc xin tái tổ hợp hoặc huyết tương

Số liều

3 liều

Lịch tiêm

Xem ở bảng trên

Liều nhắc lại

Không

Chống chỉ định

Phản ứng quá mẫn với liều tiêm trước

Phản ứng sau tiêm

Đau, đỏ nhẹ tại chỗ tiêm. Hiếm gặp phản ứng quá mẫn

Chú ý đặc biệt

Phải tiêm liều sơ sinh ở những đối tượng nguy cơ cao

Liều lượng

0,5ml

Vị trí tiêm

Mặt ngoài giữa đùi (trẻ nhỏ) hoặc mặt ngoài trên cánh tay trẻ lớn

Đường tiêm

Bắp

Bảo quản

Ở nhiệt độ từ 2°C đến 8°C. Không được để đông băng

7. VẮC XIN VIÊM NÃO NHẬT BẢN (JE)
7.1 Vắc xin là gì?

Là vắc xin bất hoạt được sản xuất từ não chuột gây nhiễm với vi rút Viêm não Nhật Bản chủng Nakayama. Vắc xin dạng dung dịch đóng lọ 10 liều.
Vắc xin được bảo quản ở nhiệt độ từ 2ºC đến 8°C, không được để đông băng vắc xin.
7.2 Tính an toàn và những phản ứng sau tiêm?
Phản ứng nhẹ có thể gặp:

Đau nhức. Một số ít trường hợp có thể đau, sưng nhẹ tại chỗ tiêm

Sốt, đau đầu, buồn nôn, đau cơ thường ít gặp

8. VẮC XIN TẢ
8.1 Vắc xin tả uống là gì?
Vắc xin tả uống được điều chế từ các chủng vi khuẩn tả thuộc týp sinh học cổ điển và chủng mới O139. Đây là vắc xin toàn thân vi khuẩn đã được bất hoạt.
Vắc xin dạng dung dịch được sử dụng theo đường uống. Khi để lọ vắc xin  thẳng đứng trong thời gian dài, các vi khuẩn bị lắng xuống dưới đáy lọ, do vậy khi sử dụng phải lắc lọ để trộn đều vắc xin. Vắc xin được bảo quản  ở nhiệt độ từ 2ºC đến 8°C, không được để đông băng vắc xin.

Sau uống vắc xin tả thường không có phản ứng phụ.

Phản ứng hay gặp là cảm giác buồn nôn.

Không có bằng chứng nào cho thấy vắc xin tả uống có thể gây bệnh tả.

9. VẮC XIN THƯƠNG HÀN
9.1 Vắc xin thương hàn là gì?
Vắc xin thương hàn được làm từ polysaccharide của vỏ vi khuẩn thương hàn Salmonella typhi. 
Vắc xin dạng dung dịch đóng lọ 20 liều. Vắc xin được bảo quản ở nhiệt độ từ 2ºC đến 8°C, không được để đông băng vắc xin.
9..2 Tính an toàn và những phản ứng sau tiêm?
Những phản ứng nhẹ có thể gặp:

Tại nơi tiêm có sưng nề nhẹ và hết trong vòng 24 giờ đầu.

Một số trường hợp có sốt nhẹ, hiếm có trường hợp sốt cao trên 39ºC. Triệu chứng sốt nhẹ thường hết sau 24 giờ kể từ khi tiêm vắc xin.

 

 

 
Tin tiếp theo




Hội Y học Dự phòng Việt Nam

Tạp chí Y học Dự phòng

Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP

Tiêm chủng mở rộng QG
Quảng cáo