Tiêm chủng mở rộng Việt nam
“Việt nam là điểm sáng về tiêm chủng mở rộng"
Quá trình phát triển của chương trình tiêm chủng mở rộng là quá trình mở rộng và tăng cường hỗ trợ cho các địa phương có nhiều khó khăn, đẩy mạnh công tác tiêm chủng cuối cùng tiến tới xoá xã trắng và bản trắng về tiêm chủng. Ngành Y tế, chương trình tiêm chủng mở rộng đã tích cực thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam với quốc tế: “Đến năm 2000 Việt nam sẽ thanh toán bệnh bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh và khống chế bệnh sởi”, thiết thực bảo vệ chăm sóc trẻ em, đảm bảo quyền của trẻ em Việt nam, tất cả vì một thế hệ trẻ em Việt Nam trong tương lai khỏe mạnh và sáng tạo.
Bắt đầu cho việc thực hiện cam kết đó phải tính từ năm 1985, khi đó Việt nam đã triển khai chương trình tiêm chủng mở rộng. Sau thí điểm thành công, ngành y tế đã có kế hoạch phát triển nhanh tiêm chủng phòng 6 bệnh nguy hiểm ra toàn quốc. Đến năm 1990 Việt nam đã đạt mức tiêm chủng thường xuyên, đầy đủ phòng 6 bệnh cho trẻ dưới 1 tuổi hàng năm đã đạt trên 80% làm nền tảng để tiến vào giai đoạn thanh toán bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh.
Từ năm 1995, chương trình tiêm chủng mở rộng phòng 6 bệnh: Lao, bại liệt, bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc. Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự tham gia của các bộ ngành, đoàn thể nhân dân, sự giúp đỡ của chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, sự hưởng ứng của các bậc cha mẹ và sự nỗ lực của ngành y, công tác tiêm chủng mở rộng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, làm thay đổi cơ cấu bệnh tật của trẻ em Việt nam. Tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ em luôn đạt trên 90%. Việt nam đã thanh toán bệnh Bại liệt vào năm 2000 và đạt mục tiêu loại trừ uốn ván sơ sinh trên quy mô tỉnh. Chương trình tiêm chủng mở rộng ở Việt nam đã đến 100% các xã, bản làng trong cả nước, đặc biệt còn tạo được nhận thức sâu sắc trong cộng đồng, làm cho người dân, các bậc cha mẹ nhận thấy tầm quan trọng của việc tiêm chủng đối với sức khoẻ của con em họ cũng như đó chính là trách nhiệm đối với đất nuớc.
Không chỉ dừng lại ở đó, trên cơ sở những thành quả đạt được từ năm 1997, chính phủ Việt Nam đã đồng ý với đề nghị của bộ y tế đưa thêm vào chương trình tiêm chủng mở rộng để tiêm miễn phí cho trẻ 4 loại vác xin mới là viêm gan vi rút B, viêm não nhật bản, tả và thương hàn. Đây là một bước tiến mới quyết định sự thành công của chương trình tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam.
Để có được sự thành công như ngày hôm nay, trong suốt quá trình phát triển của chương trình tiêm chủng mở rộng, Việt Nam luôn gắn nó với việc mở rộng và tăng cường hỗ trợ cho các địa phương có nhiều khó khăn, đẩy mạnh công tác xoá xã trắng, bản trắng về tiêm chủng. Năm 1995 xã trắng về tiêm chủng cuối cùng đã được xoá. Trong năm 1999 và năm 2000, chương trình tiêm chủng mở rộng với Quân y – Bộ đội biên phòng đã xoá được 100% xã trắng tại 7 huyện miền núi, biên giới khó khăn của 7 tỉnh; Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Bắc Kạn, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam.
Để đạt được những thành quả như vậy, công tác tiêm chủng phải đảm bảo yêu cầu chất lượng cao: Vác xin là một sinh phẩm đặc biệt, cần thiết được bảo quản lạnh, đòi hỏi phải có hệ thống dây chuyền lạnh bảo quản vác xin, phương tiện vận chuyển vác xin…Bên cạnh đó trong quá trình thực hiện chương trình Việt nam còn được sự giúp đỡ rất nhiều từ phía chính phủ và nhân dân Nhật bản về vác xin và vật tư tiêm phòng. Cùng với những thành quả trong triển khai công tác tiêm chủng, điểm nổi bật là nước ta đã nỗ lực sản xuất vác xin trong nước và đáp ứng được 60% nhu cầu vác xin dùng trong chương trình tiêm chủng mở rộng.
Hiện nay Việt nam đã và đang thực hiện chiến lược phòng chống sởi mới, tiến tới loại trừ sởi vào năm 2010. Đồng thời, Việt nam cũng đang triển khai các biện pháp bảo vệ thành quả của công tác tiêm chủng mở rộng, từng bước giảm đến mức thấp nhất các bệnh truyền nhiễm có thể phòng chống bằng vác xin ở trẻ em.
Chương trình tiêm chủng mở rộng của Việt Nam không muốn tự nói về mình nhiều, không tự hào bởi thành tích nhưng chúng ta có quyền tự hào 1 khi một tổ chức thế giới rất có uy tín là UNICEF đã đánh giá: “Việt nam là điểm sáng về tiêm chủng mở rộng.”./.
Tiêm chủng mở rộng Việt nam
Vượt qua thách thức - vươn tới thành công
Việt nam là nước đứng thứ 2 trên thế giới ký công ước về quyền trẻ em và sau đó sớm hoà nhập vào chiến lược chung của cộng đồng quốc tế đưa công tác tiêm chủng mở rộng trở thành chương trình quốc gia ưu tiên. Chính sách đúng đắn của nhà nước Việt nam đã tập trung được nguồn lực từ cộng đồng chăm sóc sức khoẻ trẻ em thông qua công tác tiêm chủng mở rộng, đồng thời tranh thủ được nguồn viện trợ của cộng đồng quốc tế.
Từ năm 1985 đến nay, chương trình tiêm chủng mở rộng của Việt nam đã thu hút được sự ủng hộ hàng chục triệu USD bằng vác xin, vật tư tiêm chủng, dây chuyền lạnh của nhiều nước và tổ chức quốc tế. Chính sự ủng hộ này của bạn bè quốc tế đã giúp rất nhiều cho Việt Nam trong những lúc khó khăn, thiếu thốn, nhưng cần phải hiểu rằng đây cũng là thành quả của chính chúng ta làm cho bạn bè quốc tế tin tưởng vào sự thành công của chương trình.
Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trong công việc triển khai công tác tiêm chủng mở rộng như trình độ dân trí thấp, địa hình đi lại khó khăn, trang thiết bị còn thiếu và yếu nhưng Việt Nam đã biết cách vượt qua nó. Kết quả là Chương trình tiêm chủng mở rộng của Việt nam được triển khai có kết quả và được cộng đồng quốc tế thừa nhận là nước triển khai công tác tiêm chủng mở rộng tốt nhất, có kết quả nhất.
Việt nam đã đạt được những mục tiêu cam kết quốc tế là thanh toán bệnh bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh. Tỷ lệ các bệnh trong chương trình tiêm chủng mở rộng như ho gà, bạch hầu, sởi giảm rõ rệt. So với năm 1985, khi bắt đầu triển khai tiêm chủng mở rộng đến nay, tỷ lệ mắc ho gà giảm 94 lần, bạch hầu giảm 31,5 lần, sởi giảm 47 lần và uốn ván sơ sinh giảm 26,1 lần. Từ năm 2003, vác xin viêm gan B được triển khai trong toàn quốc. Mặc dù gặp nhiều khó khăn do phải tập huấn trước khi triển khai và đặc biệt là tiêm vác xin viêm gan B mũi 1 trong vòng 3 ngày đầu sau sinh. Tỷ lệ trẻ được tiêm đủ 3 mũi trong toàn quốc là 78%. Đặc biệt có 54,6% trẻ em được tiêm mũi 1 trong vòng 72 giờ đầu sau khi sinh.
Từ năm 1993 tỷ lệ uống 3 liều vác xin bại liệt của trẻ em dưới 1 tuổi liên tục đạt trên 90%. Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi uống vác xin trong chiến dịch những ngày tiêm chủng trong toàn quốc đạt trên 99%. Trường hợp phát hiện vi rút dại cuối cùng ở Việt nam là năm 1997. Việt nam đã được công nhận thanh toán bại liệt vào năm 2000. Tuy nhiên việc bảo vệ thành quả thanh toán bại liệt là rất khó khăn và rất cần thiết vì các nước xung quanh còn lưu hành bệnh bại liệt. Vì vậy vi rút bại liệt luôn có điều kiện xâm nhập vào Việt nam và phá hỏng thành quả của Việt nam nếu chúng ta không nỗ lực bảo vệ nó.
Số mắc uốn ván sơ sinh đã giảm mạnh, từ 388 trường hợp năm 1992 đến nay trong toàn quốc chỉ còn dưới 76 trường hợp, tuy nhiên con số này so với nhiều nước là còn cao. Việt nam đang nỗ lực duy trì thành quả loại trừ uốn ván sơ sinh trên quy mô huyện theo tiêu chuẩn của tổ chức Y tế thế giới và phấn đấu được công nhận là nước loại trừ uốn ván sơ sinh vào năm 2005.
Mặc dù tiêm chủng mở rộng Việt nam đã duy trì được tỷ lệ tiêm vác xin cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt trên 90% vào năm 1993 song số mắc sởi ở trẻ em chỉ giảm rõ rệt trong những năm đầu, từ năm 1997, số mắc sởi lại có chiều hướng gia tăng. Điều đó cho thấy chiến lược phòng chống sởi với việc tiêm vác xin 1 liều là không đủ. Với sự giúp đỡ về vác xin và vật tư tiêm chủng của chính phủ Nhật Bản, Việt nam đã và đang thực hiện chiến lược phòng chống sởi tích cực của tổ chức Y tế thế giới. Trong năm 2002 – 2003 với sự hỗ trợ to lớn về vác xin sởi và vật tư tiêm chủng của chính phủ Nhật bản, Việt nam đã tổ chức thành công chiến dịch quốc gia tiêm vác xin sởi cho 15.112.779 trẻ em từ 9 tháng đến mười tuổi trong toàn quốc., đạt tỷ lệ trên 99% trẻ em đối tượng được tiêm vác xin mũi 2 sởi. Việt nam đang nỗ lực để loại trừ sởi vào năm 2010, song vác xin sởi chưa sản xuất được ở Việt nam, việc nhập vác xin từ nước ngoài đòi hỏi kinh phí lớn.
Đối với những loại vác xin mới, trong năm 2003 đã có 193/645 huyện trong cả nước được triển khai viêm não Nhật bản, 11 tỉnh triển khai trên quy mô toàn tỉnh. Vác xin thương hàn được triển khai ở 81 huyện thuộc 29 tỉnh, tổng số trẻ được tiêm là 540.000 trẻ, so với mục tiêu đề ra là thấp hơn do kinh phí hạn chế, số lượng vác xin cung cấp chưa đủ. Vác xin tả được ưu tiên sử dụng trong vùng dịch tại các tỉnh như: Đồng Tháp, An giang, Cà Mau, Thừa thiên Huế, Hải phòng và Kiên giang. Chương trình đang cố gắng để trong những năm tới đây vác xin này được triển khai rộng rãi hơn.
Việt nam đã nỗ lực sản xuất vác xin trong nước, đáp ứng được trên 60% nhu cầu dùng vác xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng. Nhưng cũng chính vì chưa chủ động được hoàn toàn nên Việt nam vẫn phải nhập từ nước ngoài về trong khi nguồn kinh phí nhà nước còn hạn chế.
Đã có nhiều dấu hiệu khả quan mặc dù vẫn còn khó khăn, nhưng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của chính quyền các cấp, sự giúp đỡ của các chính phủ và các tổ chức quốc tế, sự ủng hộ của các bậc cha mẹ, Việt nam khẳng định có đủ điều kiện, khả năng để nâng cao sức khoẻ trẻ em bằng tiêm chủng vác xin phòng bệnh./.
Tiêm chủng mở rộng Việt nam
Việt Nam thực hiện thắng lợi các mục tiêu cam kết Quốc tế
1. Việt Nam thanh toán được bệnh bại liệt vào năm 2000 và tiếp tục bảo vệ vững chắc thành quả
1.1. Áp lực bệnh tật
Việt Nam là nước có bệnh bại liệt lưu hành trong phạm vi cả nước. Trong những năm 1959 -1960 bại liệt đã bùng phát thành dịch lớn tại các tỉnh phía Bắc với khoảng 17.000 cháu mắc bệnh và hơn 500 cháu bị tử vong. Tỷ lệ mắc lên tới 126,44/100.000 dân.
Tình hình bệnh bại liệt tại Việt Nam 1980 -1990

1.2. Việt Nam cam kết thanh toán bệnh Bại liệt
Trước tác hại to lớn của bệnh bại liệt đối với sức khoẻ trẻ em trên toàn thế giới và trước hiệu quả của công tác TCMR, năm 1988 Tổ chức Y tế Thế giới toàn cầu đã ra nghị quyết WHA41.28 kêu gọi các nước hưởng ứng và cam kết đẩy mạnh công tác TCMR, thanh toán bại liệt vào năm 2000.
Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương cũng ra nghị quyết WPR/RC39R15 ngày 16/9/1988 kêu gọi các nước trong khu vực Thanh toán Bại liệt.
Tại Việt Nam, mặc dù công tác TCMR đã làm giảm tỷ lệ mắc bại liệt/ 100.000 dân từ 2,7 năm 1980 xuống còn 0,7 năm 1990 song cả nước vẫn còn hàng trăm ca mắc mỗi năm. Xuất phát từ quyền lợi trẻ em Việt Nam và hưởng ứng lời kêu gọi của Tổ chức Y tế Thế giới toàn cầu và khu vực Tây Thái Bình Dương ngày 20/4/1991, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười đã ký chỉ thị số 132/CT chỉ thị cho các Bộ ngành, các tỉnh/Thành phố trong cả nước phấn đấu nâng cao tỷ lệ tiêm chủng mở rộng và hoàn thành mục tiêu thanh toán Bại liệt. Như vậy Việt Nam đã chính thức cam kết cùng cộng đồng Quốc tế về thanh toán bệnh Bại liệt.
1.3. Chiến lược Thanh toán Bại liệt của Tổ chức Y tế thế giới
Để thanh toán bệnh bại liệt, Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo các nước thực hiện chiến lược sau:
- Đạt và duy trì tỷ lệ trẻ < 1tuổi được uống đủ 3 liều văc xin bại liệt trên 90%.
- Hàng năm tổ chức các chiến dịch Những ngày tiêm chủng toàn quốc (NIDs) cho trẻ em dưới 5 tuổi uống 2 liều văc xin bại liệt trong 2 vòng chiến dịch cách nhau 1 tháng.
- Xây dựng hệ thống giám sát bại liệt hoạt động có hiệu quả và đạt các tiêu chuẩn giám sát của Tổ chức Y tế thế giới.
- Xây dựng các phòng thí nghiệm chuẩn thức quốc gia để phát hiện vi rút bại liệt hoang dại.
- Thành lập uỷ ban xác nhận Thanh toán bại liệt quốc gia.
Chỉ sau 3 năm liên tục không có 1 trường hợp vi rút bại liệt hoang dại nào được phát hiện ở người các nước mới đạt tiêu chuẩn để xét công nhận Thanh toán bại liệt.
1.4. Mục tiêu Thanh toán bại liệt đã được thực hiện thắng lợi ở Việt Nam
1.4.1.Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được uống đủ 3 liều văc xin bại liệt trong tiêm chủng thường xuyên ở Việt Nam liên tục đạt trên 90%. Cụ thể:
Tỷ lệ uống đủ 3 liều văcxin ở trẻ em dưới 1 tuổi từ 1991 - 2000
Năm 1993 và năm 1998, chương trình TCMR của Việt Nam đã phối hợp với các tổ chức Quốc tế tổ chức đánh giá toàn diện công tác TCMR ở Việt Nam theo phương pháp điều tra 30 cụm ngẫu nhiên cho thấy tỷ lệ uống đủ 3 liều văc xin bại liệt ở trẻ em dưới 1 tuổi đạt 91% (1993) và 93,4% (1998).
Việc duy trì tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi uống đủ 3 liều văc xin bại liệt trên 90% trong suốt thời kỳ 1993 -2000 là cơ sở vững chắc để Việt Nam đạt được mục tiêu Thanh toán Bại liệt và duy trì thành quả một cách bền vững.
1.4.2. Chiến dịch Những ngày tiêm chủng toàn quốc (NIDs) ở Việt Nam thực sự trở thành những ngày hội tiêm chủng của cả nước
Sau 2 năm làm thí điểm những ngày tiêm chủng bổ sung cho trẻ < 3 tuổi uống 2 liều văc xin bại liệt trong 2 vòng chiến dịch tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (1991) và tại 8 tỉnh/thành phố (năm 1992). Năm 1993 Việt Nam chính thức tổ chức Chiến dịch Những ngày tiêm chủng toàn quốc (NIDs) cho trẻ em < 5 tuổi trong cả nước uống 2 liều văc xin bại liệt; vòng 1 vào tháng 11/1993 và vòng 2 vào tháng 12/1003. Tiếp đó từ năm 1994 – 1997, mỗi năm Việt Nam tổ chức 2 vòng chiến dịch Những ngày tiêm chủng toàn quốc rộng khắp trong cả nước.
Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi uống đủ 2 liều vắc xin bại liệt trong các chiến dịch Những ngày tiêm chủng toàn quốc (1993 -1997):

Sau năm 1997, Việt Nam đã cơ bản đạt được mục tiêu thanh toán bại liệt nên từ năm 1998 Việt Nam chỉ tổ chức các chiến dịch uống vắc xin bại liệt bổ sung cho trẻ em dưới 5 tuổi tại các vùng nguy cơ cao.
1.4.3. Việt Nam có hệ thống giám sát bại liệt mạnh, hoạt động hiệu quả và đạt các tiêu chuẩn giám sát bại liệt của tổ chức y tế thế giới
Từ năm 1991, hệ thống giám sát liệt mềm cấp/bại liệt trên toàn quốc ở Việt Nam đã được hình thành bao gồm các cán bộ dịch tễ, lâm sàng và các phòng thí nghiệm.
Ngay từ năm 1992, hệ thống giám sát nêu trên đã đi vào hoạt động, Bộ Y tế đã chỉ định Viện VSDT trung ương là đơn vị giám sát quốc gia từ năm 1994.
Với sự nỗ lực của các tuyến và sự phối hợp của các bệnh viện, Việt Nam đã trở thành nước có hệ thống giám sát bại liệt mạnh và hiệu quả của khu vực Tây Thái bình dương và từ năm 1996 đến 2006 công tác giám sát bại liệt của Việt Nam đạt và vượt các chỉ tiêu trên giám sát bại liệt mà tổ chức Y tế Thế giới yêu cầu. Cụ thể:
Kết quả giám sát liệt mềm cấp/bại liệt
Cùng với công tác giám sát dịch tễ, hai phòng thí nghiệm vi rút đường ruột của Việt Nam ở Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương và Viện Pasteur Tp. Hồ Chí Minh cũng được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận là hai phòng thí nghiệm chuẩn thức quốc gia.
1.4.4. Tình hình bệnh bại liệt ở Việt Nam 1991-2004
|
Năm
|
|
91
|
92
|
93
|
94
|
95
|
96
|
97
|
98
|
99
|
2000
|
|
Số trường hợp vi rút hoang dại
|
|
578*
|
450*
|
452*
|
31
|
12
|
2
|
1
|
0
|
0
|
0
|
* Kể cả chẩn đoán lâm sàng
Tỷ lệ uống vắc xin bại liệt và số mắc bại liệt 1991-2004
Tình hình bại liệt Việt Nam giai đoạn 1991-2004 cho thấy ca bại liệt cuối cùng của Việt Nam được xác định là năm 1997
Từ năm 1998-2000, ba năm liên tục Việt Nam không có 1 trường hợp vi rút bại liệt hoang dại nào, như vậy Việt Nam đủ điều kiện để xét và công nhận là 1 quốc gia đã thanh toán được bại liệt.
1.4.5. Việt Nam công bố thanh toán bại liệt
Tháng 10/2000, UBXNTTBL khu vực Tây Thái Bình Dương đã họp ở Kyoto, Nhật Bản để xem xét kết quả thanh toán bại liệt của các nước trong khu vực và nhất trí xác nhận Việt Nam cùng 36 quốc gia và quốc đảo trong khu vực đã thanh toán được bệnh bại liệt.
Lễ công bố Việt Nam đã thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000
Ngày 15/12/2000, tại nhà hát lớn Hà Nội, Việt Nam đã tổ chức trọng thể lễ công bố thanh toán bệnh bại liệt. Tại buổi lễ trọng thể này, Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình thay mặt nhà nước Việt Nam trân trọng tuyên bố ”Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thanh toán được bệnh bại liệt kể từ năm 2000”
Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình tại buổi lễ công bố Việt Nam đã thanh toán bệnh bại liệt
1.4.6. Việt Nam bảo vệ vững chắc thành quả TTBL (2001-2006)
Trong quá khứ, bệnh Bại liệt đã để lại những hậu quả nghiêm trọng cho trẻ em Việt Nam. Chính vì vậy hơn ai hết, chúng ta thấu hiểu giá trị của thành quả TTBL mà chúng ta giành được bằng công sức của hàng triệu người trong nhiều năm, bằng sự đầu tư tiền của to lớn của nhà nước ta, ngành y tế chúng ta và bằng cả sự hỗ trợ to lớn, quý giá của bạn bè quốc tế. Do vậy, trong suốt 6 năm qua từ 2001-2006, chương trình TCMR đã triển khai các hoạt động hiệu quả để bảo vệ vững chắc thành quả TTBL:
- Liên tục từ 2000-2006, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được uống đủ 3 liều vắc xin bại liệt đạt > 90%.
- Hàng năm tổ chức 2 vòng chiến dịch uống vắc xin bại liệt bổ sung cho trẻ dưới 5 tuổi vùng nguy cơ cao.
- Luôn dự trữ 3-5 triệu liều vắc xin bại liệt để đối phó nhanh khi có ca vi rút bại liệt hoang dại xâm nhập.
- Công tác giám sát bại liệt luôn đạt các chỉ tiêu giám sát của TCYTTG
- Hai phòng thí nghiệm hàng năm được TCYTTG công nhận là phòng thí nghiệm chuẩn thức quốc gia.
- UBXNTTBL của Việt Nam duy trì hoạt động đều đặn và hiệu quả.
- Duy trì công tác tập huấn, tập huấn lại cho cán bộ TCMR và cán bộ khoa lây bệnh viện có liên quan về kỹ năng và yêu cầu giám sát bại liệt.
- Thông qua các cơ quan thông tin đại chúng để tuyên truyền cho cộng đồng cảnh giác với khả năng xâm nhập của vi rút bại liệt hoang dại từ các nước khác.
- Việt Nam đã xây dựng kế hoạch bảo vệ thành quả TTBL giai đoạn 2006-2010.
Với các hoạt động kể trên, Việt Nam đã bảo vệ vững chắc thành quả Thanh toán bệnh Bại liệt.
2. Việt Nam nỗ lực loại trừ uốn ván sơ sinh một cách bền bỉ và hiệu quả
Năm 1991, Việt Nam cam kết cùng cộng đồng quốc tế loại trừ uốn ván sơ sinh (UVSS) bởi Việt Nam là một trong 7 nước có tỷ lệ mắc UVSS cao nhất khu vực. UVSS là bệnh của nước nghèo, nơi mà các bà mẹ ít có điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế khi mang thai hoặc dịch vụ y tế kém chất lượng. Uốn ván sơ sinh thường gặp ở những nơi mà người dân có thói quen đẻ tại nhà cao, không có sự giúp đỡ của nữ hộ sinh. Việc đỡ đẻ do các bà mụ vườn thiếu kiến thức thực hành vô khuẩn sản khoa, họ dùng đủ các phương tiện để cắt rốn và sau đó trẻ em không được chăm sóc rốn sạch.
Để có thể phòng ngừa các trường hợp uốn ván ở trẻ sơ sinh cần:
- Phụ nữ được đẻ tại các cơ sở y tế với các dụng cụ và thao tác đỡ đẻ vô khuẩn.
- Trẻ sơ sinh phải được chăm sóc rốn sạch.
Tuy nhiên, 2 yêu cầu tối thiểu này lại trở lên hết sức khó khăn ở các nước nghèo vì tỷ lệ đẻ tại nhà quá cao, đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có tỷ lệ đói nghèo cao, vùng đồng bào dân tộc ít người.
Tại các nước này:
- Cơ sở y tế chưa phát triển và kém chất lượng,
- Người dân không có điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế hoặc được đẻ tại cơ sở y tế song trong điều kiện vô khuẩn sản khoa kém,
- Hiểu biết về vô khuẩn sản khoa của người dân và các bà mụ vườn thấp.
Cả 3 khó khăn trên lại liên quan tới sự phát triển của nền kinh tế đất nước và chuyển biến của một nền y tế quốc gia do vậy đòi hỏi thời gian hàng chục năm hoặc lâu hơn. Trước thách thức đó, chiến lược loại trừ UVSS của TCYTTG là:
- Trên 80% phụ nữ có thai phải được tiêm đủ 2 liều vắc xin uốn ván trước khi sinh 1 tháng
- 90% nữ tuổi sinh đẻ ở vùng có nguy cơ UVSS cao được tiêm ít nhất 3 liều vắc xin uốn ván
- Thiết lập hệ thống giám sát UVSS lồng ghép trong giám sát bại liệt
- Cải thiện các dịch vụ y tế, nâng cao hiểu biết của các bà mụ vườn và người mẹ
Tiêu chuẩn của 1 quốc gia loại trừ được UVSS là số mắc UVSS hàng năm dưới 1 ca/1000 trẻ đẻ sống trên quy mô huyện.
2.1. Áp lực bệnh tật và khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu loại trừ UVSS ở Việt Nam
Giai đoạn (1985-1989) trước khi cam kết loại trừ UVSS tỷ lệ mắc UVSS/100.000 dân ở Việt Nam còn rất cao, mặc dù chương trình TCMR đã được triển khai toàn quốc từ 1985. Tỷ lệ mắc/100.000 dân trong giai đoạn này thấp nhất là 2,54 (1987) và cao nhất là 3,4 (1988), như vậy trung bình mỗi năm có khoảng 1500 - 2000 trường hợp UVSS được báo cáo và trung bình có 1-2 trẻ sơ sinh bị mắc uốn ván/1000 trẻ đẻ sống. Có thể nói UVSS thật sự là gánh nặng bệnh tật và là một trong những bệnh gây tử vong cao ở trẻ em Việt Nam
Công tác loại trừ UVSS ở Việt Nam có nhiều khó khăn và thách thức như:
- Tỷ lệ đẻ tại nhà cao, đặc biệt tại các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng sông nước sông Cửu Long, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có nơi tỷ lệ đẻ tại nhà lên đến 70-90%
- Các cơ sở y tế miền núi, vùng sâu, vùng xa còn kém về trang thiết bị, yếu về cơ sở vật chất và thiếu đội ngũ cán bộ và năng lực cán bộ y tế để đảm bảo các ca đỡ đẻ vô khuẩn
- Sự hiểu biết của các bà mẹ về vệ sinh sinh sản bị hạn chế, đặc biệt trong các cộng đồng dân tộc thiểu số và tại vùng sâu, vùng khó tiếp cận
- Các bà mụ vườn không được huấn luyện về nghiệp vụ và không có phương tiện thích hợp trong dịch vụ đỡ đẻ và chăm sóc rốn trẻ sơ sinh
- Cơ sở hạ tầng xã hội chưa phát triển nên việc triển khai các dịch vụ TCMR tại các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa khó khăn
- Vệ sinh môi trường sống ở nhiều nơi, nhiều vùng còn thấp tạo điều kiện nhiễm khuẩn sinh sản cao.
- Các đơn vị hành chính của Việt Nam nhỏ, huyện chỉ có số dân bình quân khoảng 200.000 người nên việc phấn đấu đạt mục tiêu loại trừ UVSS trên quy mô huyện gập khó khăn hơn rất nhiều so với các nước có quy mô dân số huyện từ 1-2 triệu trở lên
2.2. Việt Nam đạt đầy đủ các tiêu chuẩn của 1 quốc gia loại trừ được UVSS
2.2.1. Tỷ lệ tiêm chủng vắc xin uốn ván cho phụ nữ có thai liên tục đạt trên 80%
Tổ chức YTTG đề ra mục tiêu trên 80% phụ nữ có thai phải được tiêm đủ 2 liều vắc xin uốn ván. Sau 4 năm nỗ lực phấn đấu, tỷ lệ phụ nữ có thai được tiêm đủ 2 liều vắc xin uốn ván trước khi sinh ở Việt Nam đạt 82% vào năm 1995. Từ 1996-2004 tỷ lệ này được duy trì ở mức 82-91%.
Tỷ lệ phụ nữ có thai tiêm đủ 2 liều vắc xin uốn ván 1991-2004

2.2.2. Tỷ lệ tiêm đủ liều vắc xin uốn ván cho nữ tuổi sinh đẻ (15-35 tuổi) tại các vùng nguy cơ cao liên tục đạt trên 90% từ 1994
Để hỗ trợ cho việc nâng cao tỷ lệ phụ nữ có thai được bảo vệ phòng uốn ván cho mẹ và con khi sinh đẻ, biện pháp tiêm vắc xin uốn ván cho nữ tuổi sinh đẻ (15-35 tuổi) là hết sức cần thiết ở các vùng nguy cơ cao UVSS
Huyện có nguy cơ UVSS cao được lựa chọn:
- Huyện có ca UVSS của năm trước
- Tỷ lệ tiêm chủng cho PNCT, trẻ em dưới 1 tuổi thấp
- Tỷ lệ phụ nữ đẻ tại nhà cao
- Vùng khó khăn có cơ sở y tế yếu
- Vùng có công tác giám sát UVSS yếu
Tuy nhiên do các tỉnh miền núi, vùng biên giới, vùng sông rạch ở đồng bằng sông Cửu long có nhiều khó khăn nên số huyện nguy cơ cao được lựa chọn ngày càng tăng:
|
Năm
|
1994
|
1995
|
1996
|
1997
|
1998
|
|
Số huyện nguy cơ cao
|
140
|
210
|
270
|
285
|
384
|
Sau năm 2000, chương trình TCMR quốc gia phối hợp với các chuyên gia của TCYTTG và UNICEF tiến hành lựa chọn các huyện trọng điểm để hỗ trợ công tác loại trừ UVSS. Trong giai đoạn 2002 -2004, số huyện nguy cơ cao được tập trung hỗ trợ và chỉ đạo là 71 huyện.
Mặc dù số huyện điểm và số đối tượng nữ tuổi sinh đẻ ngày càng cao song nhờ sự nỗ lực của toàn hệ y tế dự phòng đặc biệt có sự hỗ trợ to lớn và hiệu quả của UNICEF về vắc xin và vật tư tiêm chủng nên tỷ lệ phụ nữ tuổi sinh đẻ được tiêm đủ liều vắc xin uốn ván được duy trì ở mức trên 90%.
Tiêm vắc xin uốn ván cho nữ 15 -35 tại các huyện nguy cơ cao
Tiêm văc xin uốn ván cho phụ nữ
2.2.3. Tăng cường công tác giám sát UVSS
Công tác giám sát UVSS ở Việt Nam được lồng ghép với công tác giám sát bại liệt và ngày càng được củng cố và hoạt động có hiệu quả. Kết quả giám sát UVSS phụ thuộc vào việc phát hiện trẻ chết sơ sinh (CSS) để điều tra, xác minh nguyên nhân. Do vậy, 2 chỉ số được quan tâm :
- Số trẻ chết sơ sinh được phát hiện
- Số trẻ chết sơ sinh phát hiện được điều tra
Số trẻ chết sơ sinh và số chết sơ sinh được điều tra

Có thể thấy công tác giám sát Uốn ván sơ sinh ở Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng mừng và cho phép tin cậy các số liệu UVSS báo cáo hàng năm.
2.2.4. Tỷ lệ mắc uốn ván sơ sinh trên 100.000 dân ở Việt Nam giảm 47 lần trong 20 năm triển khai TCMR
Nhờ những thành công trong triển khai TCMR ở Việt Nam và các hoạt động Loại trừ uốn ván sơ sinh, tỷ lệ mắc uốn ván sơ sinh ở Việt Nam giảm một cách rõ rệt và vững chắc trong 20 năm qua (1985 -2005)
2.2.5. Việt Nam đạt tiêu chuẩn Loại trừ uốn ván sơ sinh trên quy mô huyện của Tổ chức y tế thế giới
Mặc dù tỷ lệ mắc uốn ván sơ sinh trên 100.000 dân và số mắc uốn ván sơ sinh giảm vững chắc và rõ rệt qua từng năm triển khai song việc phấn đấu cả nước không có huyện nào có số mắc uốn ván sơ sinh dưới 1 ca/1000 trẻ đẻ sống là hết sức khó khăn bởi nó đòi hỏi thành quả của các hoạt động Loại trừ Uốn ván sơ sinh trong từng huyện phải mang tính bền vững.
Từ năm 2004, 100% số huyện trong cả nước đạt tiêu chuẩn Loại trừ uốn ván sơ sinh.
Như vậy phải sau 15 năm nỗ lực bền bỉ Việt Nam đã đạt mục tiêu Loại trừ Uốn ván sơ sinh trên quy mô huyện trong toàn quốc. Năm 2005 Việt nam đã được quốc tế công nhận là nước đạt tiêu chuẩn loại trừ uốn ván sơ sinh.
3. Việt Nam đạt mục tiêu tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi trên 80% vào năm 1989 và trên 90% vào năm 1993
3.1. Các khó khăn cần giải quyết để nâng cao tỷ lệ tiêm chủng
Hệ thống dây chuyền lạnh bảo quản vắc xin chỉ đủ trang bị tới tuyến tỉnh, huyện. Tuyến xã chỉ có phích vắc xin bảo quản vắc xin dưới 24 giờ.
Phương tiện giao thông từ huyện đến xã đặc biệt từ xã đến các thôn bản ở nhiều vùng rất khó khăn do vậy ảnh hưởng đến việc trẻ em và phụ nữ tiếp cận các dịch vụ tiêm chủng
Cơ sở y tế xã thường bị quá tải vì công việc do phải đảm nhận nhiều chương trình trong khi biên chế chỉ có từ 3-5 người
Các loại vắc xin thường đóng số liều/lọ rất lớn như BCG, DPT, sởi v...v là 20 liều/lọ, ảnh hưởng tới tỷ lệ hao phí vắc xin
Kinh phí hoạt động y tế nói chung và TCMR nói riêng bị hạn chế, cần phải giảm được chi phí hoạt động.
3.2. Việt Nam đạt được tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi trên 80% vào năm 1980
Thực hiện chỉ thị số 373-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng ký ngày 5/12/1985 về đẩy mạnh chương trình TCMR trong cả nước và hưởng ứng lời kêu gọi của Tổ chức Y tế Thế giới về nâng cao tỷ lệ TCĐĐ cho trẻ em dưới 1 tuổi, Việt Nam đặt mục tiêu tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi trên 80% vào năm 1990.
Với sự cam kết mạnh mẽ của chính phủ Việt Nam về chính sách, sự chỉ đạo kiên quyết của của Bộ Y tế, sự quan tâm của chính quyền các cấp, các bộ ngành đoàn thể xã hội, sự hỗ trợ to lớn của UNICEF, WHO và các nhà tài trợ cùng sự nỗ lực vượt bậc của cán bộ toàn nghành y tế, tỷ lệ tiêm chủng trong 2 năm 1989 và 1990 như sau:
Như vậy, trong 2 năm liền Việt Nam đạt và duy trì tỷ lệ TCĐĐ cho trẻ em dưới 1 tuổi trên 80% và thực hiện trước thời hạn sự cam kết của chính phủ Việt Nam với cộng đồng quốc tế.
3.3. Việt Nam phấn đấu đạt và duy trì tỷ lệ TCĐĐ cho trẻ dưới 1 tuổi trên 90%
Tháng 9/1990 tại hội nghị của nguyên thủ các nước trên thế giới với chủ đề “Vì trẻ em”, đại diện của 151 quốc gia trong đó có Việt Nam đã cam kết đạt mục tiêu thanh toán bại liệt vào năm 2000, giảm 95% số trẻ tử vong do bệnh sởi và loại trừ uốn ván sơ sinh.
Sau hai năm duy trì tỷ lệ TCĐĐ cho trẻ dưới 1 tuổi ở mức cao 87,4% (năm 1991) và 88% (năm 1992), Việt Nam lần đầu tiên đạt tỷ lệ TCĐĐ cho trẻ dưới 1 tuổi trên 90% vào năm 1993. Thành quả này chẳng những được duy trì trong 2 năm cuối của kế hoạch 1991-1995 mà liên tục trong 12 năm 1993-2004, Việt Nam duy trì tỷ lệ TCĐĐ cho trẻ dưới 1 tuổi trên 90%. Việt Nam được cộng đồng quốc tế thừa nhận là điểm sáng về chương trình TCMR trong các nước đang phát triển.
* Năm 2002 thiếu văc xin DPT
3.4. Việt Nam duy trì tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi với tỷ lệ cao trên quy mô tỉnh, huyện
Để đảm bảo nâng cao tỷ lệ và chất lượng dịch vụ tiêm chủng mở rộng, nâng cao tính công bằng trong việc thụ hưởng dịch vụ tiêm chủng của trẻ em ở mọi miền đất nước, việc nỗ lực để đạt tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ trên 90% theo quy mô tỉnh và huyện là hết sức cần thiết và cũng rất khó khăn.
Năm 2005 cả nước có 100% số tỉnh đạt tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi trên 90%.
Cùng với việc tăng tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ trên địa bàn tỉnh, từ năm 1996, chương trình TCMR của Việt Nam đã quan tâm quản lý tỷ lệ tiêm chủng trên quy mô huyện. Các khu vực, các tỉnh có nhiều biện pháp quản lý, giám sát và hỗ trợ các huyện khó khăn để nâng cao tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em.
Năm 2003: 83% số huyện (526/645 huyện) đạt tỷ lệ TCĐĐ trên 90%. Năm 2004: 93% số huyện (624/667 huyện) đạt tỷ lệ TCĐĐ trên 90%, năm 2005: 93,5% số huyện (626/669) đạt tỷ lệ TCĐĐ trên 90%. Việc có trên 93% số huyện đạt tỷ lệ TCĐĐ trên 90% là một thành công và là sự nỗ lực rất lớn của cán bộ y tế cơ sở.