MỘT SỐ NÉT VỀ CÔNG TÁC TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG
(1985-2004)
Thực hiện đường lối dự
phòng tích cực của Đảng, nhà nước và cam kết quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam
là nước thứ 2 trên thế giới ký vào công ước trên, từ năm 1985 Việt Nam đã triển
khai chương trình tiêm chủng mở rộng trong toàn quốc và tiêm miễn phí cho trẻ em
văc xin phòng 6 bệnh phổ biến và nguy hiểm là lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại
liệt, sởi. Được sự quan tâm và đầu tư to lớn của nhà nước và Bộ Y tế, sự phối
hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, đoàn thể xã hội, sự hỗ trợ tích cực hiệu quả của
chính phủ và các tổ chức quốc tế, hưởng ứng cao của các bậc cha mẹ và cộng đồng
thông qua hoạt động hiệu quả của các cơ quan thông tin đại chúng trong suốt 20
năm qua (1985 –2004), chương trình Tiêm
chủng mở rộng đã đạt được các mục tiêu quan trọng sau:
- Diện bao phủ của chương
trình:
Từ 1985: 100% các tỉnh triển khai công tác
TCMR
Từ 1990: 100% các huyện triển khai dịch vụ
TCMR
Từ 1995: 100% xã phường trong cả nước thực
hiện TCMR, dịch vụ tiêm chủng mở rộng đã tới được trẻ em ở mọi miền đất nước,
tới được các cộng đồng dân tộc Việt Nam kể cả những vùng sâu, vùng xa, biên
giới, hải đảo…
- Mở rộng chủng loại văc xin phục vụ cho trẻ em và phụ
nữ:
Từ năm 1993 tất cả phụ nữ có thai, nữ trong
độ tuổi 15– 35 ở vùng có nguy cơ uốn ván sơ sinh (UVSS) cao được tiêm
văc xin phòng uốn ván miễn phí để phòng bệnh UVSS cho con và uốn ván cho
mẹ.
Từ năm 1997, chính phủ quyết định đưa thêm
vào CTTCMR 4 loại văc xin miễn phí cho trẻ em (ngoài 6 văc xin kể trên) là: viêm
gan vi rut B, viêm não Nhật bản B, tả, thương hàn.
- Tỷ lệ tiêm chủng đầy
đủ:
Từ năm 1993 đến nay tỷ lệ TCĐĐ 6 loại văc xin truyền thống cho trẻ < 1
tuổi luôn đạt trên 90%.
Từ năm 2003 văc xin viêm gan B được triển khai miễn phí cho trẻ em < 1
tuổi ở 100% xã phường trong cả nước và đạt tỷ lệ
>80%
Trong 2 năm 2002- 2003 đã triển khai chiến dịch quốc gia tiêm nhắc văc
xin sởi cho trên 15 triệu trẻ em trong cả nước, đạt tỷ lệ trên
99%.
Tỷ lệ tiêm văc xin uốn ván cho phụ nữ có thai luôn đạt trên 80% từ năm
1995 và cho nữ tuổi 15 –35 ở vùng nguy cơ cao luôn đạt >90% từ năm
1994.
- Tỷ
lệ mắc các bệnh trong CT TCMR giảm một cách rõ rệt. Tỷ lệ mắc trên 100.000
dân của năm 1985 và 2004 như sau:
Tên
bệnh
|
1985
|
2004
|
Số lần
giảm
|
|
Bạch hầu
|
3,9
|
0,07
|
56
|
|
Ho gà
|
76
|
0,3
|
253
|
|
UVSS
|
2,77
|
0,05
|
55,4
|
|
Sởi
|
149,5
|
0,27
|
552
|
|
Bại liệt
|
2,8
|
0
|
|
- Việt
Nam thực hiện các cam kết với cộng đồng quốc
tế:
Việt Nam công bố Thanh toán
bệnh Bại liệt vào năm 2000.
Năm 2004,
100% số huyện trong cả nước đạt mục tiêu Loại trừ UVSS theo tiêu chuẩn của Tổ
chức Y tế Thế giới (dưới 1 ca UVSS/1000 trẻ đẻ sống trên địa bàn
huyện)
Việt Nam
đang vững chắc tiến đến mục tiêu Loại trừ bệnh sởi vào năm 2010 với tiêu chuẩn
dưới 1 ca sởi/ 1.000.000 dân.
- Việt Nam đã tự lực sản xuất 9/10 loại văc xin sử
dụng trong chương trình TCMR.
TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG CÓ MẶT TRÊN
KHẮP NẺO ĐƯỜNG ĐẤT NƯỚC
Dịch vụ TCMR ở
Việt Nam được triển khai ở 100% xã phường trong cả nước, kể cả vùng sâu, vùng
xa, biên giới, hải đảo.
Mặc
dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng Việt Nam đã có những định hướng và kế
hoạch đúng đắn, ngành y tế có những nỗ lực vượt bậc, đặc biệt có sự đảm bảo về
chính sách mạnh mẽ của chính phủ nên dịch vụ TCMR từng bước được mở rộng một
cách vững chắc trong cả nước. Có thể tóm tắt quá trình mở rộng dịch vụ TCMR như
sau:
1. Giai đoạn
thử nghiệm: 1981 - 1984
Trong giai đoạn này chủ yếu sử dụng hình thức tiêm
chủng chiến dịch (tiêm chủng hàng loạt) là chính, tiêm chủng thường xuyên (tiêm
chủng hàng tháng) từng bước được mở rộng.
Địa bàn triển khai chương
trình tiêm chủng mở rộng
|
Năm
|
1981-1982
|
1983
|
1984
|
|
Số
xã/huyện/tỉnh triển khai TCMR
|
191/52/12
|
567/103/18
|
1313/166/20
|
Hết
giai đoạn thử nghiệm có 50% số tỉnh triển khai dịch vụ tiêm chủng mở rộng, tỷ lệ
huyện, xã triển khai TCMR còn rất
thấp.
2.Giai
đoạn mở rộng dịch vụ tiêm chủng trong cả nước 1985 -
1990
Năm
1985: 1995 xã của 297 huyện thuộc 20 tỉnh triển khai dịch vụ tiêm chủng mở
rộng.
Ngày 5/12/1985, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm
Văn Đồng ký chỉ thị số 373 - CT về việc đẩy mạnh chương trình TCMR cho trẻ em
trong cả nước. Thực hiện chỉ thị trên, năm 1986 đã có 60% huyện và 100% số tỉnh
trong cả nước triển khai tiêm chủng mở rộng.
Đến
năm 1989, đã có 100% số huyện, 100% số tỉnh triển khai tiêm chủng mở rộng, bao
phủ trên 90% số xã.
Hết
giai đoạn thử nghiệm có 50% số tỉnh triển khai dịch vụ tiêm chủng mở rộng, tỷ lệ
huyện, xã triển khai TCMR còn rất
thấp.
Tiêm
chủng mở rộng đến với đồng bào dân tộc
Kết
thúc giai đoạn 1986 - 1990, 44/44 tỉnh, 530/530 huyện đã triển khai dịch vụ tiêm
chủng mở rộng; tuy nhiên còn tới 3,6% số xã với gần 400 xã vùng núi, vùng sâu,
vùng xa chưa triển khai được dịch vụ tiêm chủng mở rộng.
3.Giai
đoạn xoá xã trắng về tiêm chủng mở rộng: 1991 - 1995
Mặc dù số xã chưa triển khai dịch vụ TCMR trong
năm 1990 chỉ chiếm khoảng 3,6% tổng số xã trong cả nước song đây lại là những
xã rất khó khăn, khó tiếp cận do thiếu điều kiện giao thông, điện, cơ sở y tế
v.v. Mặt khác đây lại là vùng sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc ít người,
của những người nghèo, thiếu sự tiếp cận dịch vụ y tế do vậy việc xoá các xã
trắng về tiêm chủng là hết sức cần thiết.
Dưới
sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Y tế, thực hiện chương trình kết hợp quân dân y, đặc
biệt là sự kết hợp của bộ đội biên phòng, ngành y tế từng bước xoá các xã trắng
về tiêm chủng mở rộng.
Tỷ lệ triển khai dịch vụ tiêm
chủng mở rộng tại các xã trắng
|
Năm
|
1991
|
1992
|
1993
|
1994
|
1995
|
|
Tỷ
lệ % xã trắng triển khai dịch vụ tiêm chủng mở rộng
|
96,4
|
97,4
|
98
|
99,93
|
100
|
Năm
1994 chỉ còn 8 xã biên giới tại huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu chưa triển khai
được dịch vụ tiêm chủng mở rộng.
Từ
năm 1995 -2004 cả nước không còn xã trắng về tiêm chủng.
Tiêm chủng mở rộng có mặt khắp mọi nơi trên đất nước
Việc
xoá được 8 xã trắng cuối cùng về tiêm chủng đã thể hiện việc triển khai nghiêm
túc chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ta, chủ trương đảm bảo công bằng
trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân của ngành y tế và thực hiện nghiêm túc cam kết
về quyền trẻ em của Việt Nam. Đây là thắng lợi của sự kết hợp chặt chẽ giữa quân
dân y trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân nhằm đảm bảo đưa dịch vụ TCMR
đến được với từng bản làng trên khắp mọi miền đất nước, đến được với mọi dân
tộc, mọi gia đình.