Thời tiết











  Chương trình Tiêm chủng mở rộng Quốc gia
Nội dung của Chương trình TCMR
                                             TÌNH HÌNH TIÊM CHỦNG Ở VIỆT NAM

 

           Chương trình Tiêm chủng mở rộng (CTTCMR) bắt đầu được triển khai ở Việt Nam từ năm 1981 với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF). Sau một thời gian thí điểm và mở rộng dần diện triển khai, đến năm 1985 chương trình TCMR được đẩy mạnh và triển khai trên phạm vi cả nước. Từ năm 1986, CTTCMR được coi là một trong 6 chương trình y tế quốc gia ưu tiên. Năm 1990, mục tiêu Phổ cập tiêm chủng cho toàn thể trẻ em dưới 1 tuổi đã được hoàn thành, với 87% trẻ dưới 1 tuổi trong cả nước được tiêm chủng đầy đủ 6 loại kháng nguyên (Lao, Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Bại liệt và Sởi). Chương trình TCMR Việt Nam đã xây dựng được mạng lưới từ Trung ương tới xã phường.

 

     1. Dịch vụ Tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam được triển khai ở 100% xã phường trong cả nước.

     2. Việt Nam đạt được mục tiêu tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi trên 80% vào năm 1989 và đạt tỷ lệ trên 90% từ năm 1993.

     3. Việt Nam thanh toán bệnh Bại liệt, Loại trừ uốn ván sơ sinh và giảm tỷ lệ mắc các bệnh sởi, ho gà, bạch hầu một cách rõ rệt. So sánh năm 1984 và năm 2004, tỷ lệ mắc Ho gà giảm 183 lần, Bạch hầu giảm 82 lần; Sởi giảm 573 lần, Uốn ván sơ sinh giảm 47 lần.

     4. Chương trình Tiêm chủng mở rộng đã thiết lập được hệ thống dây chuyền lạnh bảo quản văc xin từ tuyến trung ương đến xã phường, đảm bảo tốt chất lượng văc xin tiêm chủng cho trẻ em.

     5. Trẻ em Việt Nam luôn được sử dụng những thế hệ bơm kim tiêm tiên tiến nhất để đảm bảo vô khuẩn mũi tiêm.

     6. Hệ thống giám sát bệnh trong tiêm chủng mở rộng hoạt động có hiệu quả và đáng tin cậy.

     7. Chương trình Tiêm chủng mở rộng đã làm giảm được khoảng cách biệt về tỷ lệ và chất lượng dịch vụ tiêm chủng mở rộng giữa các vùng miền trong cả nước.

     8. Công tác nghiên cứu khoa học phục vụ hoạt động tiêm chủng được chú trọng nhằm định hướng phát triển và xây dựng kế hoạch dài hạn về TCMR ở Việt Nam.

     9. Thực hiện ý kiến của Thủ tướng chính phủ và sự chỉ đạo của Bộ Y tế, chương trình TCMR đã từng bước mở rộng diện triển khai 4 văc xin mới: văc xin Viêm gan B, văc xin Viêm não Nhật Bản B, văc xin Tả, văc xin Thương hàn.

   10. Việt Nam thành công trong chiến lược tự lực sản xuất văc xin: đến nay Việt Nam đã sản xuất được 9/10 loại văc xin dùng trong TCMR. Đó là các văc xin Bại liệt, văc xin Bạch hầu – Ho gà - Uốn ván, văc xin Viêm gan B, văc xin Uốn ván, văc xin viêm não Nhật Bản, văc xin Tả, văc xin Thương hàn, Lao.
 
1. Thông tin chung

 Các loại vắc-xin triển khai trong chương trình TCMR cho trẻ em:

Từ năm 1985, chương trình TCMR của Việt Nam triển khai tiêm vắc-xin phòng 6 loại bệnh cho trẻ dưới 1 tuổi là lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt và sởi.

                                  Bảng 1. Lịch tiêm chủng vắc-xin cho trẻ em trong chương trình TCMR Việt Nam
 

Tháng tuổi

Vắc-xin cần tiêm

Mũi tiêm/uống

Sơ sinh (càng sớm càng tốt)

- BCG (phòng lao)
- Viêm gan B
-     1 mũi
-   Vắc-xin viêm gan B trong  24 giờ sau khi sinh

2 tháng tuổi

- Bại liệt
- Bạch hầu - Ho gà - Uốn ván -Viêm gan B - Hib
-     Bại liệt lần 1
-     Bạch hầu - Ho gà - Uốn ván -Viêm gan B – Hib mũi 1

3 tháng tuổi

- Bại liệt
- Bạch hầu - Ho gà - Uốn ván -Viêm gan B - Hib
-     Bại liệt lần 2
-     Bạch hầu - Ho gà - Uốn ván -Viêm gan B – Hib mũi 2

4 tháng tuổi

- Bại liệt
- Bạch hầu - Ho gà - Uốn ván -Viêm gan B – Hib mũi 1
-   Bại liệt lần 3                             
–   Bạch hầu - Ho gà - Uốn ván -Viêm gan B – Hib mũi 3

9 tháng tuổi

- Sởi

-     Mũi 1 khi trẻ đủ 9 tháng tuổi
-     Mũi 2 tiêm khi trẻ 18 tháng tuổi

18 tháng tuổi

- Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván mũi 4
- Sởi mũi 2

-      


            Từ năm 1997 đến nay chương trình Tiêm chủng mở rộng Việt Nam thực hiện triển khai thêm một số vắc-xin là vắc-xin viêm gan B, viêm não Nhật Bản B, Tả và Thương hàn. Do nguồn kinh phí nhà nước hạn hẹp nên các vắc-xin viêm não Nhật Bản B, Tả và Thương hàn chỉ triển khai ở các vùng nguy cơ của bệnh.

Bảng 2. Lịch tiêm chủng một số văc xin khác trong chương trình TCMR 

Tháng tuổi

Vắc-xin cần tiêm

Mũi tiêm/uống

Từ 1- 5 tuổi

- Viêm não Nhật Bản*

-     Vắc-xin viêm não mũi 1

 -     Vắc-xin viêm não mũi 2
(hai tuần sau mũi 1)
-     Vắc-xin viêm não mũi 3
(một năm sau mũi 2)

Từ 2- 5 tuổi

- Vắc-xin Tả*

-     2 lần uống
(Lần 2 sau lần 1 hai tuần)

Từ 3 - 5tuổi

- Vắc-xin Thương hàn*

-     Tiêm 1 mũi duy nhất

                    *Vắc-xin được triển khai ở vùng nguy cơ mắc bệnh cao

Trong năm 2009, phạm vi triển khai tiêm văc xin viêm não Nhật Bản được mở rộng với 532 huyện. Văc xin Tả được triển khai tại tỉnh Thừa Thiên Huế, văc xin Thương Hàn được triển khai tại 3 tỉnh An Giang, Kiên Giang và tỉnh Điện Biên.

            Khái niệm về tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi:

Một trẻ được tiêm chủng đầy đủ là được nhận đủ 7 loại vắc-xin và đủ liều như sau: Vắc-xin BCG (phòng bệnh lao), 3 mũi vắc-xin DPT (phòng bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván), 3 mũi vắc-xin viêm gan B, 3 lần uống vắc-xin OPV (phòng bệnh bại liệt) và tiêm vắc-xin sởi.
Vì tương lai trẻ thơ…

         Hãy đưa trẻ đi tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch

         Tất cả văc xin dùng trong chương trình Tiêm chủng mở rộng đều miễn phí.
 
Các hình thức tiêm chủng được áp dụng ở Việt Nam:

          Từ điều kiện thực tế về địa lý, giao thông đòi hỏi phải triển khai các hình thức tiêm chủng thích hợp ở Việt Nam như sau:

        * Tiêm chủng thường xuyên (TCTX): buổi tiêm chủng được tổ chức hàng tháng và mỗi tháng chỉ tổ chức tiêm chủng trong 1 - 3 ngày cố định. Tuyến xã là nơi tiêm hầu hết các mũi vắc-xin trong chương trình TCMR cho đối tượng trẻ em và phụ nữ có thai/ nữ ở tuổi sinh đẻ. Tại mỗi xã có thể có một hoặc nhiều điểm tiêm chủng: 

-         Ở hầu hết các xã, điểm tiêm chủng cố định tại trạm y tế xã là hình thức cơ bản nhất, tại các xã này buổi tiêm chủng được tổ chức vào một ngày hoặc một số ngày cố định trong tháng. Riêng vắc xin viêm gan B, do khuyến cáo của chương trình là tiêm trong vòng 24 giờ đầu sau khi sinh nên liều sơ sinh được các trạm y tế thực hiện bất cứ khi nào có trẻ được sinh ra. Ở những vùng đồng bằng, điều kiện giao thông thuận tiện, không quá xa, người dân dễ dàng tiếp cận với dịch vụ y tế, mỗi xã chỉ có một điểm tiêm chủng tại trạm y tế.
 
-          Ở một số xã có địa bàn rộng hoặc đi lại khó khăn điểm tiêm chủng ngoài trạm có thể được tổ chức hàng tháng, định kỳ hoặc trong các đợt chiến dịch. Mỗi điểm tiêm chủng ngoài trạm thực hiện tiêm chủng cho một cụm các thôn gần nhau. Điểm được chọn là thôn nằm ở trung tâm của cụm. Cách thức tổ chức này giúp người dân dễ tiếp cận với dịch vụ tiêm chủng hơn, làm tăng tỷ lệ tiêm chủng tại các vùng khó khăn, đặc biệt ở vùng miền núi, vùng sông nước. Điểm tiêm tại các trường học thường được nhắc tới trong các đợt triển khai tiêm chủng chiến dịch cho đối tượng trong độ tuổi đi học.

        * Tiêm chủng định kỳ (TCĐK): Tại một số vùng rất khó tiếp cận, do khó khăn về điều kiện địa lý, giao thông, dân cư thưa thớt (mùa mưa, đi lại khó khăn, có khi không có đường vào xã, thôn bản) nên mỗi năm chỉ có thể tổ chức tiêm vắc-xin cho trẻ từ 3 đến 6 lần. Với hình thức tiêm chủng này trẻ không thể được tiêm chủng đúng lịch mà chỉ cố gắng đảm bảo cho trẻ nhận đủ các liều vắc-xin quy định. Do hạn chế về chất lượng của việc tiêm chủng định kỳ nên các địa phương càng ngày càng cố gắng khắc phục khó khăn như cung cấp tủ lạnh tại xã để bảo quản vắc-xin trước mùa mưa, tăng cường phối hợp với bộ đội biên phòng, quân y... để chuyển dần sang hình thức tiêm chủng thường xuyên hàng tháng.

        * Tiêm chủng lưu động (TCLĐ): cán bộ y tế đến tiêm “vét” tại nhà các đối tượng xa trạm hoặc vì bất kỳ lý do gì không đi tiêm chủng. Trước đây, hình thức này khá phổ biến. Tuy nhiên từ năm 2007, Bộ Y tế đã có quy định không tiến hành tiêm chủng theo hình thức này nhằm tăng cường an toàn và chất lượng tiêm chủng.

    Khoa Sản của các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện chỉ tiêm vắc-xin viêm gan B liều sơ sinh cho những trẻ sinh tại các bệnh viện này. Một số bệnh viện thực hiện tiêm vắc-xin BCG cho trẻ sơ sinh cùng với vắc xin viêm gan B.

    Trong một số chiến dịch tiêm chủng như chiến dịch tiêm Sởi, chiến dịch uống vắc xin Bại liệt, với số lượng lớn đối tượng, tiêm chủng còn được tổ chức ở nhiều điểm khác nhau như trạm y tế, thôn bản, trường học, cơ quan...

2. Tỷ lệ tiêm chủng

    Để đảm bảo nâng cao tỷ lệ và chất lượng dịch vụ TCMR, đảm bảo gây miễn dịch cộng đồng cao, nâng cao tính công bằng trong việc thụ hưởng dịch vụ TCMR trên mọi miền đất nước, việc nỗ lực đạt tỷ lệ TCĐĐ trên 90% trên quy mô tỉnh, tiến tới trên quy mô huyện là rất cần thiết và cũng rất khó khăn.

    Năm 1989, Việt Nam đã đạt mục tiêu phổ cập tiêm chủng 6 loại vắc-xin phòng bệnh với tỷ lệ tiêm chủng toàn quốc là 87%.

    Từ năm 1993 đến nay, tỷ lệ tiêm chủng thường xuyên cho trẻ dưới 1 tuổi liên tục đạt trên 90%; tỷ lệ tiêm chủng vắc-xin uốn ván cho phụ nữ có thai và nữ tuổi sinh đẻ luôn đạt 80 –90%.

    Để đạt được thành quả duy trì tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ em dưới 1 tuổi trên 90% trên quy mô toàn quốc là một vấn đề khó khăn, thách thức đặc biệt ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Đến năm 1994 vẫn còn 8 xã biên giới tại huyện Mường Tè - tỉnh Lai Châu chưa triển khai được dịch vụ tiêm chủng mở rộng. Năm 1995 phải có sự nỗ lực của bộ đội biên phòng và ngành y tế tỉnh Lai Châu 8 xã trắng về tiêm chủng cuối cùng ở huyện Mường Tè đã triển khai được dịch vụ TCMR.

    Năm 2007, tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc-xin BCG, OPV3, DPT3 vẫn đạt tỷ lệ trên 90%, tuy nhiên do ảnh hưởng của các trường hợp phản ứng sau tiêm, việc tạm ngừng một số lô vắc-xin viêm gan B và việc cung ứng vắc-xin sởi muộn đã làm ảnh hưởng tới tỷ lệ tiêm chủng của trẻ em: tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 7 loại vắc-xin chỉ đạt 81,8% trên quy mô cả nước. 

Bảng 3. Tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ em trong chương trình TCMR (1985 –2009)
            (Nguồn: Dự án TCMR Quốc gia)
Năm

BCG

OPV3

DPT3

Sởi

TCĐĐ

Sabin cho
trẻ <5 tuổi (NNTCTQ)

UV cho PNCT

Vắc-xin UV cho PNTSĐ

1985

49,9

62,1

42,1

19,2

1990

89,9

86,5

86,7

86,6

84,8

1993

84,0

91,0

91,0

93,0

91,0

98,0

71,0

85,0

2000

97,6

96,0

96,6

96,6

96,6

99,1

89,8

95,7

2001

96,7

96,4

96,2

97,6

97,0

87,6

89,2

94,5

2002

96,7

91,6

74,8

95,7

89,7

83,7

89,3

91,2

2003

97,5

95,8

99,2

93,2

93,3

96,6

91,0

92,5

2004

95,6

96,3

96,2

97,1

96,5

89,5

90,3

2005

98.2

97.8

97.9

98.6

97.8

93,0

99,5

2006

94,5

93,9

93,6

93,5

92,8

91,3

93,7

2007

93,7

92,0

92,1

82,8

81,8

90,5

91,4

2008

95,7

95,6

95,5

95,6

93,9

93,5

90,0

2009

97,0

96,6

96,3

97,0

96,3

93,7

87,6

 
3. Tỷ lệ mắc bệnh trong TCMR (Nguồn: Dự án TCMR Quốc gia)
   Kết quả tiêm chủng đạt tỷ lệ cao liên tục từ 1993 đến nay đã góp phần quan trọng làm giảm số mắc và chết của các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở trẻ em Việt Nam rất rõ rệt.
Bảng 4. Tỷ lệ mắc của một số bệnh trong Chương trình TCMR qua các năm
                                                                                                                    (Số mắc/100.000 dân)
 
 

 

Năm

 

Ho gà

 

Bạch hầu

 

Uốn ván

 

Sởi

 

Bại liệt

 
 
Số ca bại liệt 
 

1984

84,4

4,1

2,35

149,5

1,9

1985

76,0

3,9

2,77

137,1

2,8

1993

3,7

0,2

0,48

17,2

0,8

152

1994

4,7

0,2

0,51

15,1

0,12

31

1997

2,0

2,0

0,33

8,6

0

1

1998

1,48

1,4

0,31

13,2

0

0

1999

1,1

0,1

0,27

17,7

0

0

2000*

1,83

0,14

0,18

21,17

0

0

2005

0,24

0,04

0,04

0,68

0

0

2006

0.17

0,03

0,027

2,35

0

0

2007

0.22

0.04

0,043

0.02

0

0

2008

0,32

0,02

0,04

0,4

0

0

2009

0,14

0,009

0,04

6,2

0

0

*Việt Nam đã đạt được mục tiêu thanh toán bệnh Bại liệt vào năm 2000 [26]
 
                                    Biểu đồ 1. Tỷ lệ uống vắc-xin OPV3 và tỉ lệ mắc bại liệt ở Việt Nam
                                   giai đoạn 1984-2009(Nguồn số liệu: Dự án tiêm chủng mở rộng QG)
    Mặc dù đã thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000, hiện nay Việt Nam đã và đang thực hiện chiến lược bảo vệ thành quả này, bao gồm: duy trì tỷ lệ trẻ dưới 1tuổi uống đủ 3 liều vắc-xin bại liệt đạt trên 90% trên quy mô huyện; hệ thống giám sát bại liệt (dịch tễ học và phòng thí nghiệm) hoạt động hiệu quả và đạt các tiêu chuẩn giám sát của Tổ chức Y tế Thế giới; sẵn sàng đối phó với các ca bại liệt hoang dại xâm nhập hoặc các trường hợp bại liệt do chủng vi rút vắc-xin trở lại độc lực gây ra; chiến dịch uống OPV bổ sung cho trẻ dưới 5 tuổi tại vùng nguy cơ ngay khi phát hiện ca bệnh.
   * Việt Nam đạt mục tiêu loại trừ uốn ván sơ sinh vào năm 2005.
   Việt Nam đạt tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván cho phụ nữ có thai trên 80% trên quy mô toàn quốc và trên 85% nữ tuổi sinh đẻ tại các huyện có nguy cơ UVSS cao trong nhiều năm, cùng với việc tăng cường đẻ sạch. Việt Nam đã đạt mục tiêu loại trừ uốn ván sơ sinh (số mắc uốn ván sơ sinh dưới 1/1000 trẻ đẻ sống theo đơn vị huyện) năm 2005.
                                             Biểu đồ 2. Tỷ lệ tiêm vắc- xin uốn ván cho phụ nữ có thai và
                                             tỉ lệ mắc uốn ván sơ sinh ở Việt Nam, giai đoạn 1991 - 2009
(Nguồn số liệu: Dự án TCMR QG)
    Việc bảo vệ thành quả này cũng đòi hỏi nỗ lực bền bỉ thực hiện các hoạt động: duy trì tỷ lệ tiêm chủng vắc-xin uốn ván cho phụ nữ có thai cao trên 80%, tăng cường công tác đẻ sạch, đẻ tại cơ sở y tế và đảm bảo tính thường xuyên của công tác giám sát chết sơ sinh, nghi ngờ uốn ván sơ sinh.

4. Bảo quản văc xin trong dây truyền lạnh:
             4.1. Bảo quản văc xin như thế nào?
 

Ảnh hưởng của nhiệt độ tới văc xin: Tất cả văc xin đều bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ. Có một số văc xin nhạy cảm với nhiệt độ cao hơn các văc xin khác như văc xin bại liệt, sởi. Một số văc xin khác lại bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ quá lạnh (đông băng) và có thể làm mất hiệu lực của văc xin như: văc xin Bạch hầu - Ho gà - Uốn ván (DPT), văc xin Viêm gan B. Tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị bảo quản văc xin trong quá trình vận chuyển và trong tủ lạnh ở nhiệt độ từ +2 đến +8oC.

 

Ảnh hưởng của ánh sáng tới văc xin: Một số văc xin rất dễ bị ảnh hưởng bởi ánh sáng mạnh như văc xin BCG, sởi, sởi - rubêla - quai bị. Đối với những văc xin này tiếp xúc với tia tử ngoại có thể làm giảm hiệu lực của văc xin, vì vậy  phải luôn tránh tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, ánh đèn huỳnh quang. Thông thường, các văc xin này được đựng trong lọ thuỷ tinh màu nâu sẫm để chống lại ánh sáng.
 

Chú ý: Nếu văc xin bị hỏng bởi nhiệt độ cao và giảm hiệu lực thì việc giảm hiệu lực không bao giờ hồi phục và hiệu lực của văc xin bị giảm vĩnh viễn. Mỗi lần tiếp xúc với nhiệt độ cao thì hiệu lực của văc xin bị giảm dần đi và cuối cùng nếu dây chuyền lạnh không được duy trì tốt thì hiệu lực của văc xin sẽ giảm hoàn toàn và văc xin không có giá trị nữa. 
 

Hạn sử dụng: Ngay cả khi văc xin được bảo quản ở nhiệt độ thích hợp thì hiệu lực của văc xin không phải được duy trì vĩnh viễn, tất cả các văc xin đều có thời hạn sử dụng nhất định, trong khoảng thời gian đó văc xin cần được sử dụng hết. Hạn sử dụng được ghi tất cả trên bao bì và các lọ văc xin. Tất cả các văc xin hết hạn sử dụng đều phải huỷ bỏ.

Chỉ bảo quản văc xin còn sử dụng được trong dây chuyền lạnh. Không được để lọ văc xin đã hết hạn sử dụng, văc xin bị hỏng do tiếp xúc với nhiệt độ cao,... trong kho lạnh, tủ lạnh hoặc tủ đá vì chúng có thể nhầm lẫn với các văc xin tốt.


      4.2. Bảo quản dung môi của các văc xin tiêm chủng mở rộng như thế nào?


Dung môi ít bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ bảo quản hơn so với văc xin, nếu có đủ chỗ có thể bảo quản dung môi ở nhiệt độ từ +2 đến +8oC. Khi pha hồi chỉnh văc xin, dung môi phải cùng nhiệt độ với văc xin vì vậy số lượng dung môi dùng trong ngày phải được bảo quản trong dây chuyền lạnh tại điểm tiêm chủng. ở các tuyến khác  (kho quốc gia, tỉnh, huyện) không nhất thiết phải để dung môi trong dây chuyền lạnh trừ khi dung môi dùng để pha hồi chỉnh văc xin trong vòng 24 giờ sau đó.

 

Tuy nhiên, không bao giờ được làm các lọ dung môi bị đông băng. Nếu bị đông băng lọ thuỷ tinh có thể bị nứt hoặc vỡ và như vậy dung môi có thể bị nhiễm khuẩn. Vì vậy lọ dung môi không bao giờ được để trên ngăn đá hoặc tiếp xúc với bề  mặt đông băng.

Phải luôn phân phối văc xin đông khô và dung môi cùng loại với số lượng tương ứng. Dung môi phải đúng loại và cùng nhà sản xuất với văc xin.


Dung môi có thể đơn giản là nước, nhưng thường là có thành phần muối và các khoáng chất khác để làm bền vững văc xin sau khi pha hồi chỉnh. Mỗi loại văc xin đòi hỏi một loại dung môi khác nhau vì vậy không thể dùng chung dung môi. Dung môi được sản xuất của nhà máy này chỉ được phép dùng để pha hồi chỉnh cho văc xin tương ứng của nhà sản xuất đó; không được sử dụng để pha văc xin cùng loại của nhà sản xuất khác.

 

Bảo quản văc xin và dung môi trong dây chuyền lạnh là một quá trình liên tục và cần phải thực hiện tốt. Việc đảm bảo chất lượng văc xin có vai trò quan trọng trong bảo vệ sức khoẻ trẻ em.

 

          Dự án Tiêm chủng mở rộng Quốc gia

   Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương



 

 
Tin tiếp theo

Hội Y học Dự phòng Việt Nam

Tạp chí Y học Dự phòng

Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP

Tiêm chủng mở rộng QG
Quảng cáo