Thời tiết











  Chương trình Phòng chống sốt xuất huyết
Kết quả hoạt động năm 2009 và kế hoạch hoạt động năm 2010 của Dự án
  
            I. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NĂM 2009

 

Năm 2009, tình hình bệnh sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue (SD/SXHD) diễn biến phức tạp và nguy hiểm tại các nước khu vực (Singapore, Indonesia, Thái Lan, Philippines, Srilanka) và Việt Nam. Tại Việt Nam, bệnh nhân chủ yếu tập trung tại các tỉnh/thành phố là Hà Nội, Nghệ An, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thanh Hóa. Các hoạt động giám sát dịch tễ và phòng chống SD/SXHD đã được triển khai chủ động và tích cực tại phần lớn các tỉnh/thành phố. Kết quả thực hiện cụ thể như sau:

 1. Ban điều hành dự án khu vực :

 1.1 Về công tác chỉ đạo :

·         Tổ chức tập huấn lại cho các cán bộ Trung tâm y tế dự phòng (TTYTDP) 28 tỉnh, thành phố về kỹ năng giám sát (bệnh nhân, huyết thanh, côn trùng, phun hóa chất) tháng 7/2009.

·         Tổ chức hội nghị triển khai dự án phòng chống SD/SXHD khu vực miền Bắc tháng 7/2009

·         Công văn chỉ đạo và phối hợp TTYTDP 08 tỉnh trọng điểm triển khai xây dựng kế hoạch phun hóa chất chủ động, chiến dịch diệt bọ gậy tháng 5/2009.

·         Tổ chức họp 8 tỉnh trọng điểm xây dựng lại kế hoạch, thông báo khó khăn tồn tại và triển khai kế hoạch phun hóa chất chủ động tháng 7/2009.

·         Hướng dẫn bằng văn bản cách pha, phun hóa chất cập nhật mới nhất cho các tỉnh trọng điểm tháng 9/2009

·         Công văn tăng cường phòng chống SD/SXHD cho các tỉnh miền Bắc tháng 9/2009

·         Công văn củng cố hệ thống báo cáo SD/SXHD tháng 11/2009

·         Công văn tăng cường công tác phòng chống SD/SXHD tháng 11/2009

·         Công văn yêu cầu 28 tỉnh/thành phố báo cáo hoạt động phòng chống SD/SXHD tháng 12/2009

 1.2 Công tác hỗ trợ phòng chống dịch :

  ·         Cấp 1.150 lít hóa chất Deltamethrin cho 8 tỉnh trọng điểm để thực hiện công tác chống dịch.

  ·         Giám sát thử độ nhạy cảm hóa chất tại 5 điểm ở Hà Nội là: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Triều Khúc và một số tỉnh trọng điểm khu vực Miền Bắc.

  ·         Tham gia, chỉ đạo (giám sát bệnh nhân, côn trùng và phun hóa chất) chống dịch SD/SXHD 2 đợt tại xã Tân Triều, Thanh Trì tháng 7/2009.

  ·         Tham gia chỉ đạo việc phun hóa chất tại 3 Quận Thanh Xuân, Hoàng Mai, Định Công, Hà Nội.

  ·         Tham gia giám sát chống dịch SD/SXHD tại Nam Định tháng 8/2009

  ·         Tham gia giám sát chống dịch SD/SXHD tại Sơn La tháng 11/2009

 2. Giám sát dịch tễ bệnh SD/SXHD:              

 

 2.1. Giám sát bệnh nhân:
 
            Theo báo cáo của các tỉnh/thành phố năm 2009 toàn bộ khu vực miền Bắc có 18.485 ca mắc SD/SXHD, 4 ca tử vong (đều ở Hà Nội). Số ca mắc bệnh tập trung tại 17/28 tỉnh/ thành phố phía Bắc trong đó Nghệ An (473); Bắc Giang (425); Quảng Ninh (268); Thanh Hóa (258); Hải Phòng (272); và đặc biệt Hà Nội (16.175 trường hợp), 4 ca tử vong chiếm 87% số ca mắc trong khu vực. Số mắc năm 2009 của miền Bắc tăng 4.5 lần so với cùng kỳ 2008 (4.070 trường hợp), các trường hợp SD/SXHD khu vực miền Bắc năm 2009 tập trung chủ yếu ở người lớn >15 tuổi (87,7%). Trong tổng số 18.485 ca mắc SD/SXHD phân độ lâm sàng có 3.537 ca SD (19,1%) và 14.948 ca SXHD (80,9%). Trong các ca mắc SXHD phân độ lâm sàng chủ yếu là độ I, II (99%), chỉ có 114 ca độ III, IV.

      Riêng tại Hà Nội số ca mắc năm nay tăng đột biến (16.175 trường hợp, 4 trường hợp tử vong)  tăng gấp 7.6 lần so với cùng thời kỳ 2008 (2131 trường hợp). Bệnh nhân phân bố tại 29/29 quận huyện (100%) với 521/577 xã phường (90,3%). Tuy nhiên bệnh nhân tập trung chủ yếu ở khu vực nội thành và các huyện ngoại thành nơi có tốc độ đô thị hóa cao (78%). 54% bệnh nhân là học sinh, sinh viên, người lao động tự do và người ngoại tỉnh. Số ca nghi mắc chủ yếu là SD (17,4%) và SXHD độ I, II (82,6%), không có mắc độ III và IV. Số ca mắc cũng tập trung chủ yếu ở người lớn (87,7%).

 2.2. Giám sát huyết thanh:

      Tổng số 2.818 mẫu/ 18.485 trường hợp nghi mắc (15,2%) được xét nghiệm huyết thanh trong đó 1.634 mẫu giám sát tại địa phương (bằng Mac-Elisa kháng thể và Test nhanh kháng nguyên NS1) và 1.184 mẫu xét nghiệm Mac-Elisa tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương. Tỷ lệ dương tính với virut Dengue là 23,9% (673+/2.818 mẫu). Hà Nội 22,1% dương tính với virut Dengue (415+/1878 mẫu xét nghiệm). Năm 2009 phân lập 169 mẫu, kết quả chủ yếu là Dengue typ 1 (80+/169) và chủ yếu ở Hà Nội, có 1 mẫu Dengue typ 2 tại tỉnh Hà Tĩnh.

      Các tỉnh, thành phố tích cực lấy mẫu bệnh phẩm để xét nghiệm là Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An, Thái Bình.

 2.3. Giám sát véctơ:

542 quận, huyện/28 tỉnh, thành phố vẫn tiếp tục thực hiện giám sát véc tơ từ đầu năm tuy nhiên số điểm giám sát giảm do dự án tạm dừng. Theo kết quả giám sát năm 2009, các điểm giám sát véc tơ khác nhau có chỉ số véc tơ ở mức độ khác nhau, có nhiều điểm chỉ số véc tơ tới ngưỡng hoặc vượt ngưỡng gây dịch, ví dụ: Hà Nội, Nghệ An đồng thời có ghi nhận bệnh nhân mắc SD/SXHD. Chỉ số véc tơ tăng cao vào các tháng đầu mùa dịch, đặc biệt vào đỉnh dịch là tháng 9 và tháng 10. Tỉnh/thành phố có giám sát véc tơ thường xuyên, tích cực là Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Bắc Giang.

Giám sát tính nhạy cảm của muỗi Ae.aegypti tại 13 tỉnh/thành phố phía Bắc với hóa chất diệt côn trùng thuộc nhóm Pyrethroid (theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới) cho thấy muỗi Ae aegypti tại một số điểm ở Hà Nội như: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Triều Khúc đã kháng với Deltamethrin. Đối với Permethrin muỗi Ae aegypti tại Hưng Yên kháng, tại Thanh Hóa tăng sức chịu đựng. Muỗi Ae aegypti tại Hà Nội, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Hưng Yên kháng Icon (chi tiết kết quả thử kháng đính kèm báo cáo)

 

 3. Tập huấn:

 

 3.1 Ban điều hành khu vực:

Ban điều hành dự án phòng chống sốt huyết miền Bắc tổ chức tập huấn cho các cán bộ TTYTDP 28 tỉnh, thành phố về kỹ năng giám sát (bệnh nhân, huyết thanh, côn trùng, phun hóa chất)

Phối hợp với TTYTDP Hà Nội tổ chức lớp tập huấn “Giám sát phát hiện, chẩn đoán, chăm sóc, điều tra dịch tễ học và xử lý ổ dịch sốt xuất huyết” cho các đối tượng là Trưởng khoa Kiểm soát dịch, bệnh và chuyên trách SD/SXHD 29 quận, huyện và thị xã của Hà Nội.

 3.2 Tại các địa phương:

TTYTDP tỉnh, thành phố đã tổ chức 315 lớp tập huấn cho các cán bộ chuyên trách tuyến tỉnh và huyện với tổng số 18.970 học viên; 542 lớp tập huấn tuyến xã với 836 cán bộ chính quyền địa phương, 1.430 giáo viên cấp I, II và 32.570 học sinh cấp Iⅈ 1.964 cộng tác viên.

 4. Tuyên truyền, giáo dục:


 4.2 Ban điều hành dự án khu vực:
 
            Tổ chức in 35.000 ấn phẩm truyền thông (15.000 tờ rơi và 20.000 thời khóa biểu) cấp phát cho 8 tỉnh trọng điểm miền Bắc sử dụng trong công tác phòng chống SD/SXHD tại địa phương.
 
 4.3 Tại các địa phương :
 

Hoạt động truyền thông, giáo dục đã được triển khai đồng bộ, dưới nhiều hình thức, đa dạng từ Trung ương đến cơ sở. Phát sóng 130 buổi truyền hình địa phương, 168.853 buổi phát thanh, truyền thanh. Cấp 12.073 tranh tuyên truyền, 1.153 khẩu hiệu, 722.919 tờ rơi đến các cơ sở y tế và cộng đồng.

Mạng lưới cộng tác viên (CTV) và Ban chỉ đạo tuyến xã/phường đã thể hiện vai trò quan trọng trong hoạt động giáo dục, tuyên truyền, cầu nối hữu hiệu đưa kiến thức phòng chống bệnh SD/SXHD đến với người dân và làm thay đổi hành vi, tập quán trữ nước không có lợi. 263 xã/phường có CTV tuyên truyền, 26 quận/huyện có CTV tuyên truyền, 216 xã/phường có học sinh tuyên truyền, 224 quận/huyện có học sinh tuyên truyền, 623 xã/phường có tổ chức quần chúng tham gia tuyên truyền, 20 quận/huyện có tổ chức quần chúng tham gia tuyên truyền. Hoạt động tích cực nhất ghi nhận tại Hà Nội, Hải Dương, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Nam Định và Thái Bình
 

 5. Hoạt động phun hóa chất và vệ sinh môi trường diệt bọ gậy tại cộng đồng:

 

 5.1 Hoạt động phun hóa chất:
 

Chiến dịch phun hóa chất được triển khai ở 64 quận/ huyện và 129 xã phường của 8 tỉnh trọng điểm khu vực miền Bắc với tổng số 4.796 lít hóa chất được sử dụng. Tuy nhiên khu vực miền Bắc duy nhất chỉ có Hà Nội triển khai phun hóa chất chủ động, các tỉnh khác chỉ triển khai chiến dịch phun hóa chất khi có bệnh nhân mắc SD/SXHD.

Kết quả chiến dịch phun hóa chất tại Hà Nội : Năm 2009 Hà Nội đã triển khai được 7 đợt phun hóa chất : Đợt 1 (6/5-24/5) ; Đợt 2 (27/6-24/7) ; Đợt 3 (28/7-16/8) ; Đợt 4 (18/8-4/9) ; Đợt 5 (14/9-25/9) ; Đợt 6 (6/11-25/11) ; Đợt 7 (25/11-6/12) với tổng số 112 chiến dịch ở 27 quận/ huyện, 51 xã/ phường, tổng số 433.776 hộ gia đình được phun hóa chất. Chiến dịch phun hóa chất được thực hiện bởi các đội phun chuyên nghiệp của TTYTDP Hà Nội và các quận. Kỹ thuật pha và phun hóa chất theo hướng dẫn của Bộ Y tế và Viện Vệ sinh Dich tễ Trung ương. Tổng số hóa chất đã được sử dụng là 3.415 lít (2577 lít Permethrine 50 EC; 838 lít Delta UK). Các chỉ số mật độ muỗi và BI đánh giá trước sau đều được thực hiện, kết quả sau phun thấy giảm rõ rệt.

 

 5.2 Hoạt động vệ sinh môi trường diệt bọ gậy :
 

Hoạt động diệt bọ gậy tại cơ sở được triển khai với 447 xã có CTV, 592 xã có học sinh và 796 xã có tổ chức quần chúng. 287 chiến dịch diệt bọ gậy được tổ chức thực hiện. Kết quả đã xử lý được 136.805 ổ bọ gậy, thu gom 546.694 kg dụng cụ phế thải. Phóng thả 141.395 con cá các loại vào dụng cụ chứa nước (các tỉnh,thành thực hiện thả cá tốt như: Hà Nội, Hải Dương, Nghệ An, Ninh Bình, Thái Bình)

             

 6. Tình hình tiếp nhận và sử dụng kinh phí bổ sung năm 2009:

 

 6.1 Ban điều hành dự án khu vực:
 

            Tính đến nay, kinh phí Ban điều hành dự án phòng chống Sốt xuất huyết Miền Bắc đã giải ngân được 70% kinh phí, còn lại 30% (351,680,200 VND) không thể giải ngân. Việc giải ngân và triển khai kế hoạch gặp khó khăn do kinh phí của Dự án phòng chống sốt xuất huyết khu vực miền Bắc được phân bổ quá muộn nên Ban điều hành gặp rất nhiều khó khăn trong việc triển khai các hoạt động của dự án.

                           

 6.2 Tại các địa phương:
 

            Tính đến 15/12/2009 chỉ có 6 tỉnh báo cáo về Ban điều hành dự án khu vực tình hình sử dụng kinh phí phòng chống SD/SXHD năm 2009 là Hà Nội, Bắc Ninh, Sơn La, Nghệ An, Hà Nam, Hải Phòng. Theo đó các tỉnh này đã giải ngân hết số kinh phí do Trung ương và địa phương  cấp cho hoạt động của Dự án phòng chống SD/SXHD năm 2009 tại địa phương.                          

 7. Những tồn tại/khó khăn trong công tác phòng chống dịch sốt xuất huyết năm 2009:

·         Tổ chức tập huấn lại cho các cán bộ Trung tâm y tế dự phòng (TTYTDP) 28 tỉnh, thành phố về kỹ năng giám sát (bệnh nhân, huyết thanh, côn trùng, phun hóa chất) tháng 7/2009.

·         Chương trình mục tiêu quốc gia gián đoạn 2 năm: 2007 – 2008 dẫn đến hệ thống giám sát thiếu, không có cộng tác viên.

·         Khi chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống sốt xuất huyết được khởi động lại thì kinh phí của chương trình cấp muộn, vì vậy hoạt động của màng lưới cộng tác viên, lực lượng nòng cốt trong hoạt động phòng chống SXH chủ động có sự tham gia của cộng đồng còn hạn chế.

·         Diễn biến của thời tiết phức tạp, sự lưu biến động của quần thể véc tơ làm tăng nguy cơ bùng phát dịch.

·         Riêng tại Hà Nội, những năm gần đây quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ,biến động dân cư lớn, dịch bệnh xảy ra sớm và trên diện rộng, cùng lúc với các loại bệnh dịch Sởi, Tả, Cúm AH1N1 gây khó khăn cho công tác phòng chống. Ngoài ra sự hợp tác của người dân trong công tác phòng chống SXH, đặc biệt ở khu vực nội thành còn hạn chế. Nhiều khu vực còn thiếu nước sạch, ý thức vệ sinh môi trường kém nhất là nơi học sinh, sinh viên và người lao động thuê trọ, các làng nghề buôn bán phế liệu phế thải, các khu công trường xây dựng.
 

 8. Đề nghị:

 

 8.1 Kiện toàn bộ máy tổ chức các tuyến Trung ương và địa phương nhất là cán bộ chuyên trách về Sốt xuất huyết và mạng lưới cộng tác viên.

 8.2  Tổ chức lập kế hoạch sớm để việc chuẩn bị công tác triển khai các hoạt động dự án năm tới được tốt hơn.

 8.3 Bổ sung, điều chỉnh thông tin sớm và chính xác như các thông báo cấp kinh phí, hướng dẫn chi tiêu, tài liệu hướng dẫn chuyên môn đến các đơn vị phụ trách.

 8.4 Các trang thiết bị, vật tư, hóa chất cần được cung cấp đúng thời điểm theo kê hoạch đề ra.
 

            II. KẾ HOẠCH NĂM 2010

 

 1. Mục tiêu chung:

 

Làm giảm tỷ lệ mắc, tử vong do SD/SXHD, khống chế không để dịch lớn xảy ra, xã hội hóa công tác phòng chống SD/SXHD.
 

 2. Mục tiêu cụ thể:

 

1.      Giảm 15% tỷ lệ mắc/100.000 dân do SD/SXHDso với trung bình giai đoạn 2003 - 2007

2.      Giảm 10% tỷ lệ chết/mắc do SD/SXHDso với trung bình giai đoạn 2003 -2007

3.      7% số bệnh nhân nghi SD/SXHDđược chẩn đoán bằng xét nghiệm huyết thanh. Ban điều hành dự án phòng chống SD/SXHDcác khu vực căn cứ số mắc tung bình 5 năm của địa phương để giao chỉ tiêu cụ thể.

4.       3 % số bệnh nhân nghi SD/SXHDđược chẩn đoán phân lập virut. 

5.      80% bệnh nhân SD/SXHDdengue độ I&II được theo dõi, điều trị tại cơ sở y tế và tại cộng đồng.

6.      Ít nhất 80% số huyện tại các tỉnh loại A, B, ít nhất 20% số huyện tại các tỉnh, thành phố loại C có điểm giám sát véc tơ thường xuyên

7.      Xây dựng và củng cố mạng lưới cộng tác viên và hoạt động diệt bọ gậy/lăng quăng tại hộ gia đình tại 10% số xã của tỉnh loại A, 5% số xã của tỉnh loại B.

8.      90% hộ gia đình tại xã có cộng tác viên được cung cấp kiến thức phòng chống dịch, cam kết không có bọ gậy/lăng quăng trong hộ gia đình.

9.      75% hộ gia đình tại xã có cộng tác viên kiểm tra định kỳ không có  bọ gậy/lăng quăng trong nhà.

 

 3. Tổ chức:

 

Củng cố và tăng cường các hoạt động chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá của ban điều hành khu vực. Duy trì và phát huy vai trò của ban chỉ đạo địa phương, tổ chức thực hiện các giám sát và phòng chống bệnh từ tuyến tỉnh đến tuyến huyện, xã.

Đưa các hoạt động phòng chống SD/SXHD thành chỉ tiêu trong kế hoạch hàng năm của từng địa phương. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác phòng chống SD/SXHD. Các cấp, ngành phải trực tiếp tham gia, chỉ đạo, giao nhiệm vụ cụ thể cho các Ban, Ngành, Đoàn thể liên quan phối hợp với ngành Y tế thực hiện mục tiêu đề ra. Ngoài số kinh phí hỗ trợ của Trung ương, có kế hoạch đầu tư trên nguyên tắc Địa phương và Trung ương cùng làm.

Củng cố và mở rộng mạng lưới CTV, đặc biệt chú trọng đến hiệu quả và khả năng thực hiện tại cộng đồng.

Đề cao trách nhiệm của người dân trong việc thực hiện bản cam kết Không có bộ gậy trong nhà của mỗi gia đình ký với UBND xã. Thực hiện đợt kiểm tra thực hiện cam kết tại cơ sở.
 
 4. Tập huấn
 

Củng cố kỹ năng giám sát dịch tễ, chẩn đoán và điều trị bệnh nhân SD/SXHD. Tăng cường tập huấn cho mạng lưới CTV, tập trung nâng cao kiến thức về bệnh SD/SXHD, kỹ năng tuyên truyền cho hộ gia đình phát hiện, xử lý ổ bọ gậy.

 

 5. Tuyên truyền, giáo dục:

 

Tăng cường hoạt động giáo dục truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng như tivi, loa phát thanh, đài, báo, tờ rơi, áp phích và pano nhằm thu hút sự quan tâm, cải thiện mức độ hiểu biết của cộng đồng về bệnh SD/SXHD và hướng dẫn thực hiện các biện pháp diệt vectơ tại hộ gia đình.
 

 6. Giám sát dịch tễ:

 

Thực hiện đúng thường quy “Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh SD/SXHD”  và các văn bản sửa đổi, bổ sung do Bộ Y tế ban hành. Tăng cường chất lượng giám sát dịch tễ (bệnh nhân, huyết thanh và virut, muỗi vectơ truyền bệnh) tại tuyến cơ sở, giám sát tích cực và chủ động nhằm phát hiện sớm, dập dịch kịp thời, khoanh vùng ổ dịch, hạn chế lây truyền bệnh tại các tuyến, đặc biệt là tuyến xã, phường ở các điểm trọng điểm, giảm gánh nặng về sức khoẻ và kinh tế cho nhân dân.

Nâng cao chất lượng chẩn đoán huyết thanh, kết quả chẩn đoán phải kịp thời để định hướng cho các biện pháp phòng chống. Tích cực lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm theo đúng tiêu chuẩn và gửi phòng thí nghiệm vi rút Dengue, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương để xét nghiệm MAC-ELISA và phân lập virút các trường hợp nghi mắc SD/SXHD, kịp thời phát hiện sự chuyển hướng của các typ virut gây dịch. Phối hợp chặt chẽ với các cơ sở Y tế đóng trên địa bàn theo dõi và tổng hợp các ca bệnh theo mẫu điều tra bệnh nhân SD/SXHD.

Tăng cường giám sát theo dõi biến động của quần thể véc tơ, thực hiện giám sát thường xuyên theo thường quy. Giám sát véc tơ tập trung tại vùng trọng điểm, phát hiện và xử lý triệt để ổ bọ gậy của véctơ truyền bệnh.

Thu thập muỗi và bọ gậy gửi phòng thí nghiệm côn trùng, phòng thí nghiệm hoá diệt Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương để định loại véc tơ truyền bệnh và đánh giá độ nhạy cảm của véc tơ với hoá chất diệt côn trùng.

 

 7. Hoạt động cộng đồng:

 

Tổ chức định kỳ hoạt động diệt bọ gậy tại cộng đồng thông qua mạng lưới CTV, học sinh, tổ chức quần chúng theo đúng tài liệu “Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh SD/SXHD”ban hành kèm theo quyết định số 794/QĐ-BYT ngày 09/03/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Khi có dịch, báo cáo khẩn cấp về Ban điều hành dự án bằng điện thoại và fax.

Triển khai các chiến dịch vệ sinh môi trường, thu gom phế thải nhằm làm giảm nơi sinh sản của véc tơ truyền bệnh.

Củng cố và mở rộng mạng lưới CTV, đây là lực lượng nòng cốt để triển khai các biện pháp phòng chống, diệt bọ gậy, muỗi truyền bệnh tại cộng đồng, là lực lượng quyết định sự thành công của dự án.

Huy động các thành phần xã hội, ban ngành đoàn thể, nhà trường tham gia vào các hoạt động diệt bọ gậy tại cộng đồng nhằm mục tiêu xã hội hoá công tác phòng chống SD/SXHD.

 

 8. Thống kê, báo cáo

 

Thực hiện đúng và đủ chế độ báo cáo theo quy định của dự án. Báo cáo phân biệt bệnh nhân chẩn đoán lâm sàng và chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm huyết thanh.

Sử dụng mẫu báo cáo do dự án cấp, hoặc được quy định trong tài liệu Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh SD/SXHD” ban hành kèm theo quyết định số 794/QĐ-BYT ngày 09/3/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Số liệu bệnh nhân thống nhất với số liệu báo cáo 24 bệnh truyền nhiễm.

 

 9. Kiểm tra, đánh giá, khen thưởng:
 

Duy trì hoạt động kiểm tra tuyến, tuyến tỉnh sẽ tăng cường kiểm tra, đôn đốc tiến độ đạt mục tiêu tại địa phương, tập trung vào việc triển khai, giám sát, nhất là vào các tháng trước mùa dịch. Ban điều hành dự án khu vực thực hiện giám sát tích cực, kiểm tra, chỉ đạo và thường xuyên báo cáo về ban điều hành quốc gia.

Hàng tháng, tại các xã dự án cần phải bố trí cán bộ chuyên trách giao ban với CTV các xã/phường, giám sát hoạt động tại hộ gia đình, kiểm tra sổ sách và bổ sung kỹ năng hoạt động của CTV tại cộng đồng, động viên, khuyến khích sự hăng say và sự tình nguyện của CTV.

Khen thưởng kịp thời các đơn vị có thành tích xuất sắc dựa vào kết quả kiểm tra chéo, kết quả phòng chống bệnh SD/SXHD tại địa phương, kết quả đánh giá các hoạt động so với chỉ tiêu kế hoạch năm và hoạt động giám sát của ban điều hành dự án.

 
 
 
 
 
Tin tiếp theo





Hội Y học Dự phòng Việt Nam

Tạp chí Y học Dự phòng

Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP
Quảng cáo