Thời tiết











  Chương trình Phòng chống sốt xuất huyết
Đánh giá kết quả thực hiện Dự án giai đoạn 2001 - 2005

KẾT QUẢ CỦA DỰ ÁN

 

I. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN 2001 - 2005

1. Đánh giá chung

       Dự án phòng chống sốt xuất huyết khu vực miền Bắc - Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương được thành lập từ năm 1999. Trong 2 năm đầu tiên chỉ có 10/29 tỉnh, thành phố được triển khai dự án với mô hình “Huy động cộng đồng trong phòng chống sốt xuất huyết”. Đến năm 2004, dự án đã triển khai ra 18 tỉnh thành phía Bắc và đến năm 2005 toàn bộ 29 tỉnh thành phía Bắc gồm cả các tỉnh Tây Bắc Bắc Bộ đã được triển khai dự án.

Dự án phòng chống sốt xuất huyết khu vực miền Bắc đã đạt được 3 mục tiêu lớn là giảm tỷ lệ mắc, giảm tỷ lệ chết và khống chế không để xảy ra dịch lớn. Trong giai đoạn 2001 - 2005, tỷ lệ mắc/100.000 dân giảm 80,4% và tỷ lệ chết/mắc giảm 66,7% so với giai đoạn 1996 - 2000.

Hệ thống giám sát, quản lý và điều hành dự án các cấp được củng cố, hoạt động đồng bộ và có hiệu quả.

Trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực của cán bộ Y tế dự phòng, cán bộ điều trị tại các bệnh viện trọng điểm về giám sát, chẩn đoán, điều trị và phòng chống sốt xuất huyết được nâng cao rõ rệt.

Hiểu biết và nhận thức của người dân, đặc biệt tại các vùng nguy cơ cao được cải thiện. Đạt 100% người dân tại xã điểm đều nhận thức rõ về nguy cơ bệnh sốt xuất huyết, về tác nhân gây bệnh, vectơ trung gian truyền bệnh, đã thay đổi hành vi có hại liên quan đến lưu trữ nước, tạo ra các ổ bọ gậy, vectơ trung gian truyền bệnh; tích cực tham gia các hoạt động diệt bọ gậy tại địa phương, tự nguyện và cam kết không để có bọ gậy trong gia đình mình.

Dự án đã nhận được sự quan tâm ủng hộ, tham gia của nhiều Ban, Ngành, Đoàn thể xã hội, học sinh và giáo viên nhà trường, chính quyền địa phương. Tuy nhiên để đạt được mục tiêu xã hội hóa phòng chống sốt xuất huyết cần phải có thời gian để chuyển biến từ nhận thức đến hành vi của cộng đồng. Đây là quá trình lâu dài, đòi hỏi nhiều nỗ lực trong công tác tuyên truyền, giáo dục cộng đồng và sự quan tâm của các cấp chính quyền.

2. Kết quả thực hiện

3. Các công trình và công trình nghiên cứu

            Bên cạnh đầu tư xây dựng hệ thống giám sát, tuyên truyền, đào tạo... Dự án còn trú trọng đến công tác nghiên cứu khoa học. Ban điều hành Dự án khu vực miền Bắc kết hợp cùng các phòng thí nghiệm côn trùng, phòng thí nghiệm virút Dengue - Viện Vệ sinh Dịch tễ thực hiện các nghiên cứu: “Cộng đồng trong phòng chống sốt xuất huyết và sử dụng tác nhân sinh học Mesocyclops”, “Vai trò truyền bệnh sốt xuất huyết của muỗi Aedes albopicus”, “Mô hình cảnh báo sốt xuất huyết”.

-         Nghiên cứu các loài Mesocyclops địa phương và khả năng ăn bọ gậy muỗi Aedes aegypti tại Việt Nam

-         Hợp tác nghiên cứu với ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam thực hiện từ tháng 3/2002 đến tháng 3/2003 với nội dung: Nghiên cứu sử dụng bẫy phễu trong giám sát bọ gậy; nghiên cứu sử dụng hộp bắt muỗi đậu nghỉ, nghiên cứu vai trò truyền bệnh của muỗi Ae.albopictus; nghiên cứu mô hình cảnh báo sớm dịch SD/SXHD.

-         Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ:”Sử dụng Mesocyclops với sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống véctơ SD/SXHD trên thực địa 3 tỉnh miền Trung” từ năm 2000 đến 2003.

-         Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: ”Nghiên cứu vai trò truyền bệnh SD/SXHD của muỗi Aedes Albopictus trên một số thực địa miền Bắc Việt Nam” từ năm 2002 đến 2004.

           Các nghiên cứu này đã góp phần tạo ra những thành công của dự án.

4. Hợp tác quốc tế

Giai đoạn 1998 - 2000, Bộ Y tế đã phê duyệt hợp tác tài trợ của chính phủ Australia « Cộng đồng trong phòng chống Sốt xuất huyết và sử dụng tác nhân sinh học Mesocyclops »  tại 06 xã của 03 tỉnh miền Bắc (Nam Định, Hải Phòng, Hưng Yên) và đạt hiệu quả rõ rệt, giảm 99,7% quần thể muỗi vectơ truyền bệnh, không có bệnh nhân SD/SXHD tại các thực địa nghiên cứu, chứng minh tính hiệu quả và bền vững của các biện pháp phòng chống sốt xuất huyết dựa vào cộng đồng, làm cơ sở mở rộng mô hình cộng đồng tại các địa phương trong cả nước.

Một số nghiên cứu Hợp tác với Ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam bước đầu đánh giá được sự chuyển đổi xuất hiện và tồn tại của hai loài Aedes aegypti và Aedes albopictus tại thực địa; áp dụng phương pháp giám sát bọ gậy trong các DCCN lớn bằng bẫy phễu rất hiệu quả.

            Dự án sốt xuất huyết khu vực miền Bắc đã góp phần to lớn trong việc phòng chống sốt xuất huyết tại khu vực miền Bắc cũng như góp phần thành công trong dự án phòng chống sốt xuất huyết quốc gia.

II. KẾ HOẠCH 2006 - 2010

1. Đánh giá tình hình bệnh sốt xuất huyết trên thế giới

         Bệnh sốt xuất huyết là bệnh nhiễm virut cấp tính do muỗi vectơ truyền. Bệnh hiện lưu hành ở trên 100 nước thuộc các khu vực có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới vùng Đông Nam á và Tây Thái Bình Dương, Châu Mỹ, Châu Phi với khoảng 2,5 tỷ người sống trong vùng nguy cơ dịch. Hiện nay sốt xuất huyết là một trong những gánh nặng về sức khoẻ cộng đồng và là mối quan tâm chủ yếu của lĩnh vực y tế công cộng trên toàn thế giới. Số ca mắc sốt xuất huyết liên tục tăng cao trong những năm gần đây. Trong giai đoạn từ 1970 đến 1995 trên toàn cầu, số mắc sốt xuất huyết đã tăng 4 lần (hình1). Số ca nhiễm sốt xuất huyết hàng năm ước tính khoảng 50 triệu người 500.000 trường hợp SXHD phải nhập viện mỗi năm trong đó 90% trường hợp dưới 15 tuổi. Tỷ lệ chết trung bình khoảng 5%.

 

            Trong các khu vực chịu gánh nặng về bệnh sốt xuất huyết cho sức khoẻ cộng đồng, vùng có mức độ ảnh hưởng nặng nề nhất Đông Nam Châu á và Tây Thái Bình Dương trong đó phải kể đến các nước có tỷ lệ chết và mắc cao trong những năm gần đây như Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malayxia, Philippines, Singapore, Lào, Campuchia. Sau vụ dịch sốt xuất huyết và 669 ca tử vong và tại thời điểm này các vụ dịch sốt xuất huyết vẫn chưa được khống chế. Tại Singapore, năm 2004 là năm có số mắc sốt xuất huyết cao nhất kể từ năm 1998, số mắc ghi nhân lên tới 8.500 trường hợp mắc (promed mail – 170104), cao gấp 2 lần số mắc năm 2003 và là số mắc cao nhất trong 10 năm trở lại đây ở nước này. Malayxia cũng ghi nhận tới 33.203/58 trường hợp mắc/chết trong năm 2004, số mắc cao nhất kể từ năm 1999 tại nước này. Một số nước khác trong khu vực cũng ghi nhận có tỷ lệ chết/mắc do sốt xuất huyết cao là Philippines (0,7%), Srilanca (0,6%).

Bảng 1: Số liệu mắc chết do sốt xuất huyết trên thế giới 1999 2001

 

Khu vực của Who

1998

1999

2000

2001

Mắc

Chết

Mắc

Chết

Mắc

Chết

Mắc

Chết

Tây Thái Bình Dương

356,554

1,470

64,066

112

45,603

167

NA

NA

Đông Nam Á

218,859

2,075

55,405

471

57,997

542

119,707

452

Châu Mỹ (DF)

708,146

0

317,040

0

394,847

0

400,875

0

Châu Mỹ (DHF)

12,426

83

5,216

98

5,667

92

5,331

44

Châu Mỹ (tổng cộng)

720,572

83

322,256

98

400,514

9

406,206

44

Địa Trung Hải

Không có số liệu báo cáo (một số nước có ca bệnh như Pak istan, Somalia, Sudan)

Châu Phi

Không có trường hợp mắc dengue nào được báo cáo cho Who

Thế giới

1,295,985

3,628

441,727

681

504,114

801

525,913

496

2. Tình hình sốt xuất huyết tại Việt Nam

          Tại Việt Nam sốt xuất huyết là một trong mười bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất là trong 10 năm trở lại đây (1994 – 2003), tỷ lệ chết thư năm. Số dân sống trong vùng sốt xuất huyết lưu hành có nguy cơ mắc bệnh khoảng 70 triệu người.

          Cũng giống như các nước trong khu vực, số ca mắc và chết do sốt xuất huyết cũng có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây. Năm 2004 là năm có mắc tăng rõ rệt so với cùng kỳ các năm 2002 – 2003. Tính đến hết năm 2004, 78.680 ngàn trường hợp sốt xuất huyết và 114 trường hợp tử vong đã được ghi nhận trên toàn quốc. 90% số mắc và chết là ở trẻ em dưới 15 tuổi tập trung chủ yếu các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, khu vực phía Nam.

3. Sự cần thiết tiếp tục đầu tư dự án phòng chống sốt xuất huyết, 2006- 2010.

          Sốt xuất huyết đang là một trong 10 bệnh truyền nhiễm hàng đầu ở Việt Nam và vẫn tồn tại nhiều nguy cơ gây dịch lớn. Khi dịch xảy ra thường trên địa bàn rộng, gây nên quá tải cho bệnh viện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội, kinh tế quốc gia. Môi trường sinh thái hiện nay là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển do quá trình đô thị hoá, cơ sở hạ tầng thấp kém vì vậy sốt xuất huyết chưa thể khống chế được trong tương lai gần. Bệnh có thể gây ra ở mọi lứa tuổi, tập trung chủ yếu ở trẻ em dưới 15 tuổi, chiếm 90% tổng số mắc.

             Các yếu tố nguy cơ của bệnh ngày càng phức tạp và chưa thể kiểm soát được. Các yếu tố tự nhiên như khí hậu, thời tiết nắng nóng hiện tượng Elnino, Elnina trên thế giới tác động đến sự gia tăng của quần thể véctơ sốt xuất huyết. Tập quán trữ nước trong các dụng cụ chứa nước sinh hoạt để đối phó với thời tiết khô hạn đặc biệt tại các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long là yếu tố làm gia tăng quần thể muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết và gia tăng nguy cơ xảy ra dịch lớn tại các địa phương này. Việc sử dụng các hoá chất diệt côn trùng không kiểm soát làm tăng tính kháng của véctơ truyền bệnh. Sự gia tăng các hoạt động giao lưu, buôn bán và du lịch giữa các vùng miền trong nước, ngoài nước góp phần làm tăng nguy cơ lan truyền SXH trong cộng đồng. Dự báo có sự biến đổi chủng vi rút dengue và có khả năng gây dịch lớn.

Bệnh vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắcxin dự phòng đặc biệt. Điều trị bệnh sốt xuất huyết hiện nay là điều trị không có đặc hiệu, chủ yếu là điều trị chứng nằm tăng cường khả năng miễn dịch của bệnh nhân chống lại virút dengue. Vắc xin kháng virút dengue hiện đang được phát triển và nghiên cứu thử nghiệm trên người, nhưng vẫn chưa thể đưa vào sử dụng cho cộng đồng trong vòng 5-10 năm tới (YCYYTG, 2004).

Bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề kinh tế, xã hội: (1) gánh nặng kinh tế xã hội do bệnh sốt xuất huyết bao gồm các chi phí trực tiếp cho bệnh nhân nằm viện, thiệt hại kinh tế cho bệnh nhân và người nhà phải nghỉ việc để chăm sóc người ốm. (2) Thiệt hại do chi phí tốn kém diệt véc tơ truyền bệnh trong các vụ dịch, (3) Thiệt hại về du lịch. Ví dụ, kết quả một số nghiên cứu trên thế giới về tác động kinh tế của bệnh sốt xuất huyết cho thấy số liệu ước tính cho điều trị một ca bệnh SXHD là 299 USD tại Cuba, 44 USD tại Nicaragua, 28 USD tại Puerto Rico và 118 USD tại Thái Lan. Chi pí cho ngăn chặn một vụ dịch sốt xuất huyết đã lên tới con số hàng triệu đôla. Vụ dịch sốt xuất huyết tại Cuba 1981 đã tiêu tốn trên 103 triệu đôla Mỹ, trong đó 43 triệu đôla dành cho các hoạt động diệt véc tơ. Các chi phí trực tiếp dập dịch tại vụ dịch SXHD ở nước láng giềng Thái Lan năm 1994 bao gồm phí điều trị và diệt muỗi cũng lên tới 13 triệu đôla Mỹ. Tại Indonêsia 2004 là 30 triệu đôla Mỹ.

 

Mục tiêu và chỉ tiêu giai đoạn 2006 - 2010

 

1. Mục tiêu chung

- Giảm tỷ lệ mắc

- Giảm tỷ lệ chết

- Khống chế không để dịch xảy ra

- Xã hội hoá công tác phòng chống sốt xuất huyết

2. Mục tiêu cụ thể

-  Giảm 10% tỷ lệ chết/mắc do sốt xuất huyết giai đoạn 1999 - 2005

- Giảm 15% tỷ lệ mắc/100.000 dân do sốt xuất huyết giai đoạn 1999 - 2005

- Củng cố và tăng cường hệ thống chẩn đoán và điều trị bệnh nhân sốt xuất huyết tại tuyến cơ sở.

- Tăng cường hệ thống giám sát huyết thanh, vi rút và giám sát vectơ truyền bệnh tại tuyến tỉnh, huyện.

- Mở rộng và củng cố hoạt động của mạng lưới cộng tác viên sốt xuất huyết tại cộng đồng

- Tăng cường kiến thức thái độ và hành vi phòng chống sốt xuất huyết tại cộng đồng.

- Luật pháp hoá công tác phòng chống sốt xuất huyết. 
 
 
 
Tin tiếp theo




Hội Y học Dự phòng Việt Nam

Tạp chí Y học Dự phòng

Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP
Quảng cáo