Thời tiết











  Chương trình Giám sát, theo dõi và đánh giá nhiễm HIV/AIDS
Hướng dẫn giám sát trọng điểm HIV/STI lồng ghép hành vi trong các nhóm nguy cơ cao ở Việt Nam năm 2012

     TỔNG QUAN
 
          Từ tháng 10 năm 2005 đến tháng 6 năm 2006, Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương phối hợp với tổ chức FHI và CDC Hoa Kỳ đã tiến hành vòng đầu tiên của IBBS tại bảy tỉnh/thành phố bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ và An Giang. Những kết quả thu được đã cho thấy HIV đang lây truyền nhanh chóng ở những người nghiện chích ma túy mi và trẻ tuổi; người nghiện chích ma túy quan hệ tình dục với gái mại dâm nhưng ít sử dụng BCS; có sự liên quan chặt chẽ giữa lây nhiễm HIV và tiêm chích ma túy ở nhóm mại dâm; tỉ lệ quan hệ với nhiu bạn tình và nhiễm STI cao ở nhóm quan hệ tình dục đồng giới nam cũng như việc tất cả các quần thể đều ít tiếp cận các chương trình can thiệp. Trong vòng hai của IBBS, việc thu thập số liệu được tiến hành từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 12 năm 2009 với các phương pháp điều tra và bộ câu hỏi tương tự vòng đầu tiên nhằm theo dõi xu hướng của tỉ lệ hiện nhiễm HIV và các hành vi nguy cơ ở các quần thể đích. Nhằm đáp ứng các nhu cầu hoạch định chiến lược mà Bộ Y tế đề ra trong Khung Giám sát và Đánh giá quốc gia, 3 tỉnh đã được bổ sung nhằm tăng độ bao phủ của các vùng địa lý ở Việt Nam bao gồm Nghệ An, Yên Bái và Đồng Nai. Kinh phí điều tra IBBS do PEPFAR cấp thông qua USAID, CDC và FHI. 

          Tuy nhiên, hạn chế của điều tra IBBS là tốn kém về nguồn lực và mất nhiều thời gian để phê duyệt, triển khai thu thập số liệu, phân tích, viết báo cáo và phổ biến kết quả. Để khắc phục nhược điểm này đồng thời để trả lời những câu hỏi chủ chốt về hành vi nguy cơ và độ bao phủ của các chương trình can thiệp giúp cho việc cung cấp thông tin kịp thời cho việc hoạch định chính sách, Tổ chức y tế thế giới đưa ra sáng kiến thí điểm lồng ghép các câu hỏi hành vi ngắn vào giám sát trọng điểm HIV/STI (HSS+) ở các nhóm nguy cơ cao, bao gồm nghiện chích ma túy, phụ nữ mại dâm và nam quan hệ tình dục đồng giới. Chương trình thử nghiệm này lần đầu tiên được triển khai vào năm 2009 ở 2 tỉnh/thành phố do Viện Pasteur Nha Trang chịu trách nhiệm về mặt kỹ thuật. Từ năm 2010 Cục phòng, chống HIV/AIDS dao cho Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương chịu trách nhiệm triển khai mở rộng ra 7 tỉnh/thành phố và năm 2011 mở rộng ra 12 tỉnh/thành phố. Kinh phí cho thử nghiệm này do Tổ chức y tế thế giới, UNAIDS và FHI tài trợ. Năm 2012, chương trình này được dự kiến mở rộng ra 31 tỉnh/thành phố.

     MỤC TIÊU

    Mục tiêu của giám sát trọng điểm bao gồm:

1.)   Đánh giá tỷ lệ hiện nhiễm ở các nhóm quần thể.

2.)   Theo dõi chiều hướng nhiễm HIV qua thời gian.

3.)   Xác định ưu tiên và đánh giá hiệu quả các chương trình can thiệp.

4.)   Cung cấp thông tin cho việc phân bổ nguồn lực.

5.)   Cung cấp thông tin cho ước tính và dự báo HIV/AIDS.

    Mục tiêu của chương trình Giám sát trọng điểm HIV lồng ghép hành vi:

6.)   Theo dõi chiều hướng các chỉ số hành vi, độ bao phủ của các chương trình dự phòng, chăm sóc và điều trị ở các nhóm quần thể nguy cơ cao.

7.)   Theo dõi chiều hướng ước lượng tỷ lệ mới nhiễm HIV bằng cách đo lường những trường hợp nhiễm HIV ở những người mới có hành vi nguy cơ như tiêm chích ma túy và quan hệ tình dục không an toàn.

8.)    Đánh giá tính khả thi và thực tiễn của chương trình này.
 
     PHƯƠNG PHÁP

          1. Địa điểm nghiên cứu và quần thể nghiên cứu:

          1.1. Địa điểm nghiêncứu: Thử nghiệm này được triển khai tại 31 tỉnh/thành phố do Cục phòng, chống HIV/AIDS phê duyệt.

          1.2. Quần thể nghiên cứu và tiêu chuẩn tuyển chọn:

          Tiêu chuẩn chung: chọn các đối tượng đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự.

-          Nhóm nghiện chích ma túy (NCMT): Có ít nhất một lần tiêm chích ma túy trong 1 tháng trước thời điểm thu thập mẫu;

-          Nhóm phụ nữ mại dâm (PNMD): Đã từng bán dâm qua quan hệ tình dục bằng đường âm đạo hoặc hậu môn ít nhất một lần trong 1 tháng trước thời điểm thu thập mẫu tại địa bàn tỉnh.

-          Nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới nam (MSM): nam giới có quan hệ tình dục qua đường hậu môn với nam giới khác trong vòng 12 tháng qua.

          2. Cỡ mẫu:

Nhóm quần thể

Cỡ mẫu

Nghiện chích ma túy

150-300

Phụ nữ mại dâm

150-300

Nam quan hệ tình dục đồng giới

150-300

 
 
 
 
 
 
 
 
 

          3. Phương pháp chọn mẫu

-          Nhóm NCMT:

o    Trên cơ sở các huyện được lựa chọn tiến hành phân bổ cỡ mẫu quy định cho các huyện theo tỷ lệ thuận số người nghiện chích ma túy ước lượng tại mỗi huyện.

o    Tại mỗi huyện được lựa chọn, liệt kê các xã có người nghiện chích ma túy và ước lượng số người nghiện chích ma túy tại mỗi xã, phường.

o    Tính số xã, phường cần thực hiện giám sát trọng điểm bằng cách chia số cỡ mẫu phân bổ cho trung bình số người nghiện chích ma túy tại mỗi xã, phường.

o    Chọn ngẫu nhiên các xã thực hiện giám sát trọng điểm.

o    Tại xã đầu tiên được lựa chọn, dựa vào nhóm cộng tác viên hoặc nhóm tuyên truyền đồng đẳng hoặc thông qua những người nghiện chích ma túy tiến hành mời tất cả những người nghiện chích ma túy có mặt tại địa bàn xã tham gia vào giám sát trọng điểm.

o    Tiếp tục thực hiện lần lượt tại các xã còn lại trong danh sách cho đến khi đủ cỡ mẫu được phân bổ cho huyện đó

-          Nhóm PNMD:

o    Trên cơ sở các huyện được lựa chọn tiến hành phân bổ cỡ mẫu quy định cho các huyện theo tỷ lệ thuận số phụ nữ bán dâm ước lượng tại mỗi huyện.

o    Tại mỗi huyện được lựa chọn, liệt kê các tụ điểm có phụ nữ bán dâm và ước lượng số phụ nữ bán dâm tại mỗi tụ điểm.

o    Tính số tụ điểm cần thực hiện giám sát trọng điểm bằng cách chia số cỡ mẫu phân bổ cho trung bình số phụ nữ bán dâm tại mỗi tụ điểm.

o    Chọn ngẫu nhiên số tụ điểm cần thực hiện giám sát trọng điểm.

o    Tại tụ điểm đầu tiên được lựa chọn, dựa vào nhóm cộng tác viên hoặc nhóm tuyên truyền đồng đẳng hoặc thông qua chủ các tụ điểm tiến hành mời tất cả phụ nữ bán dâm có mặt tại tụ điểm tham gia vào giám sát trọng điểm.

o    Tiếp tục thực hiện lần lượt tại các tụ điểm còn lại cho đến khi đủ cỡ mẫu được phân bổ cho huyện đó.

-          Nhóm MSM:

o    Trên cơ sở các huyện được lựa chọn tiến hành phân bổ cỡ mẫu quy định cho các huyện theo tỷ lệ thuận số người quan hệ tình dục đồng giới nam ước lượng tại mỗi huyện.

o    Tại mỗi huyện được lựa chọn, liệt kê các tụ điểm có người quan hệ tình dục đồng giới nam và ước lượng số người quan hệ tình dục đồng giới nam tại mỗi tụ điểm.

o    Tính số tụ điểm cần thực hiện giám sát trọng điểm bằng cách chia số cỡ mẫu phân bổ cho trung bình số nam quan hệ tình dục đồng giới tại mỗi tụ điểm.

o    Chọn ngẫu nhiên số tụ điểm cần thực hiện giám sát trọng điểm.

o    Tại tụ điểm đầu tiên được lựa chọn, dựa vào nhóm cộng tác viên hoặc nhóm tuyên truyền đồng đẳng tiến hành mời tất cả người có quan hệ tình dục đồng giới nam có mặt tại tụ điểm tham gia vào giám sát trọng điểm.

o    Tiếp tục thực hiện lần lượt tại các tụ điểm còn lại cho đến khi đủ cỡ mẫu được phân bổ cho huyện đó.

          4. Thu thập số liệu

          4.1. Các chỉ số:

 

Chỉ số

Chỉ số UNGASS

Chỉ số quốc gia

1

Tỷ lệ phụ nữ mại dâm dùng bao cao su với khách hàng gần đây nhất

X

X

2

Tỷ lệ phụ nữ mại dâm thường xuyên dùng bao cao su với khách hàng trong tháng qua

X

3

Tỷ lệ phụ nữ mại dâm tiêm chích ma túy trong tháng qua

X

4

Tỷ lệ người nghiện chích ma túy dùng chung bơm kim tiêm trong tháng qua

X

X

5

Tỷ lệ người nghiện chích ma túy dùng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất

X

X

6

Tỷ lệ nam giới dùng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất với bạn tình nam

X

X

7

Tỷ lệ người nghiện chích ma túy dùng bơm kim tiêm sạch trong lần tiêm chích gần đây nhất

X

X

8

Tỷ lệ phụ nữ mại dâm, nghiện chích ma túy và nam quan hệ tình dục với nam được tiếp cận bởi các chương trình dự phòng giảm hại HIV trong 6 tháng qua

X

X

9

Tỷ lệ phụ nữ mại dâm, tiêm chích ma túy và nam quan hệ tình dục với nam được khám và điều trị STI

X

10

Tỷ lệ phụ nữ mại dâm, người tiêm chích ma túy và nam quan hệ tình dục với nam được xét nghiệm và biết kết quả trong 12 tháng qua

X

X

          
          4.2. Bộ câu hỏi:

          Bộ câu hỏi được soạn thảo để đo lường toàn bộ các chỉ số cơ bản như mô tả ở trên. Bộ câu hỏi dài khoảng 2 đến 3 trang và mất khoảng 5 – 10 phút để hoàn tất các câu trả lời. Mỗi bộ câu hỏi đều có số mã số nghiên cứu (ID) riêng biệt để mã hóa cho từng người tham gia nghiên cứu. Mã số nghiên cứu này cũng được dán trên các ống nghiệm đựng mẫu bệnh phẩm sinh học (máu, nước tiểu, v.v.).

          Cán bộ tại các trung tâm y tế quận, huyện, trung tâm y tế dự phòng, trung tâm phòng chống HIV/ AIDS, các cán bộ xã hội được lựa chọn để thực hiện các cuộc phỏng vấn cho nghiên cứu này (điều tra viên). Tiêu chuẩn tuyển chọn điều tra viên như sau:

•   Có kinh nghiệm làm việc với quần thể nguy cơ cao như người NCMT, PNMD, MSM.

•   Mong muốn và có thể thu xếp đủ thời gian dành cho nghiên cứu.

•   Có kinh nghiệm phỏng vấn sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc.

•   Cam kết tôn trọng người được phỏng vấn.

          Trước khi tiến hành điều tra, nhóm kỹ thuật của Viện VSDT TƯ và các Viện khu vực tổ chức tập huấn triển khai cho các điều tra này về phương pháp nghiên cứu tại các tỉnh phụ trách.

          5. Theo dõi và kiểm tra đảm bảo chất lượng

          Tại mỗi tỉnh, một cán bộ Viện VSDTTƯ và Viện khu vực được phân công kết hợp với cán bộ phụ trách công tác giám sát tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS của tỉnh/thành phố theo dõi toàn bộ quá trình nghiên cứu để đánh giá tính khả thi và thực tiễn trong quá trình triển khai thực tế tại địa phương chương trình này. Các báo cáo đánh giá về tính khả thi và thực tiễn được gửi về Viện VSDT TƯ để tổng hợp rút ra bài học kinh nghiệm triển khai thí điểm này.

          6. Quy trình xét nghiệm

          Xét nghiệm HIV được tiến hành theo thường quy của giám sát trọng điểm, áp dụng phương cách II để chẩn đoán một trường hợp HIV dương tính và theo khuyến cáo của Viện da liễu trung ương để chấn đoán một trường hợp nhiễm STI.

          7. Quản lý và phân tích số liệu

          Số liệu được nhập sử dụng phần mềm Epidata bản 3.1. Số liệu được nhập riêng theo từng địa phương và từng nhóm quần thể nghiên cứu. Các file số liệu sau đó được gửi về Viện VSDT TƯ để phân tích tổng hợp. Sau khi nhập xong, các bộ số liệu được chuyển sang chương trình phần mềm STATA bản 8.2 (StataCorp, 2004) để phân tích. Nhóm nghiên cứu thực hiện phân tích mô tả toàn bộ các biến số nhằm kiểm tra giá trị và tính hợp lý của bộ số liệu. Bộ số liệu cuối cùng được lưu giữ tại Viện VSDTTƯ. Chỉ có các cán bộ có trách nhiệm mới có thể truy cập được những bộ số liệu này. Các bộ câu hỏi hoàn chỉnh được lưu giữ tại Viện VSDTTƯ.

          Bộ số liệu được chuẩn bị và phân tích bằng phần mềm STATA 8.2. Quá trình này bao gồm tạo ra các biến số mới, mã hoá những giá trị trống (missing).

          ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU 

          Xét duyệt đạo đức

          Đối tượng tham gia điều tra là hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo sự tôn trọng, nhân phẩm và sự tự do. Các cán bộ điều tra được tập huấn về kỹ năng trao đổi và đạt được chấp thuận tham gia nghiên cứu. Không lưu tên và địa chỉ để đảm bảo tính vô danh cho người tham gia. Quá trình điều tra và các thông tin được cung cấp hoàn toàn được giữ bí mật cho người tham gia.

          Đồng ý tham gia điều tra

          Cán bộ điều tra đọc bản thoả thuận tham gia nghiên cứu và đạt được chấp thuận của từng người tham gia.

          Các rủi ro và lợi ích

          Người tham gia điều tra được thông báo và giải thích về những rủi ro và lợi ích khi tham gia nghiên cứu.

          Chăm sóc người tham gia được xác định nhiễm HIV

          Những người bị nhiễm HIV được giới thiệu đến các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm tại địa phương.

          Đảm bảo bí mật

          Tất cả quy trình điều tra sẽ được tiến hành một cách kín đáo. Thông tin liên quan đến đợt điều tra sẽ được bảo quản nghiêm ngặt tại địa điểm điều tra. Tất cả các thông tin về người tham gia sẽ được lưu trong tủ tài liệu có khóa chỉ có cán bộ điều tra mới được tiếp cận. 

          Việc thu thập số liệu, quy trình, các mẫu theo dõi, các bệnh phẩm và các báo cáo khác sẽ được quản lý theo mã số nhằm đảm bảo bí mật cho người tham gia. Tất cả cơ sở số liệu đều được bảo quản trong các hệ thống có bảo vệ bằng mật khẩu.

          Các thông tin điều tra của người tham gia sẽ không được tiết lộ. Kết quả xét nghiệm sẽ chỉ được trả trực tiếp theo mã số điều tra. Báo cáo cuối cùng sẽ trình bày các kết quả theo nhóm quần thể.

             PHỤ LỤC

Sơ đồ quy trình thực hiện nghiên cứu
 

Phương cách chẩn đoán một trường hợp HIV dương tính


 
 
          Mẫu PHIẾU PHỎNG VẤN NHÓM CÁC ANH TẠI CỘNG ĐỒNG download tại đây: 

                     /uploads/Phieu Phong van nhom cac anh tai cong dong.doc

          Mẫu PHIẾU PHỎNG VẤN NHÓM CÁC CHỊ TẠI CỘNG ĐỒNG download tại đây: 

                     /uploads/Phieu Phong van nhom cac chi tai cong dong.doc

          Mẫu PHIẾU PHỎNG VẤN NHÓM CÁC BẠN
 download tại đây:

                     /uploads/Phieu Phong van nhom cac ban.doc   

          Toàn văn Hướng dẫn giám sát trọng điểm HIV/STI lồng ghép hành vi trong các nhóm nguy cơ cao ở Việt Nam năm 2012 download tại đây: 

                     /uploads/HSS 2012-TV-Final.doc

                                                                                                                   ThS. BS. Dương Công Thành
                                                                                                                               Khoa HIV/AIDS 
  
 
Tin tiếp theo









Hội Y học Dự phòng Việt Nam

Tạp chí Y học Dự phòng

Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP

Tiêm chủng mở rộng QG
Quảng cáo














Thiết kế website