Thời tiết











  Các số báo đã phát hành năm 2011
Danh sách các bài báo đăng tại Tập XXI, số 8 (126) 2011

          1.  Chế tạo bộ sinh phẩm MAC - ELISA phát hiện IgM kháng virus Dengue
 
Phan Thị Ngà, Đỗ Phương Loan, Nguyễn Viết Hoàng, Bùi Minh Trang, Nguyễn Trần Hiển

Tóm tắt: Một nghiên cứu hồi cứu các trường hợp bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nghi ngờ trong thời gian có dịch cúm A (H1N1) đến khám, điều trị và được lấy mẫu xét nghiệm tại các cơ sở y tế trong toàn tỉnh Quảng Trị. Kết quả cho thấy trong số 191 trường hợp nghi ngờ cúm A(H1N1) được lấy mẫu xét nghiệm có 75 trường hợp dương tính. Lứa tuổi từ 10-19 tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất (46,6%). Có một trường hợp tử vong. Tỷ lệ xét nghiệm dương tính trong số trường hợp nghi ngờ là 39,2%. Tỷ lệ mắc toàn tỉnh là 0,012%, tỷ lệ chết/mắc là 1,33%. Các triệu chứng lâm sàng chính bao gồm: sốt (98,7%), ho khan, có đờm (93,3%), đau họng (81,3%), đau đầu (89,3%), đau cơ xương khớp (73,3%). Triệu chứng của bệnh thường nhẹ, các dấu hiệu lâm sàng tương đương ở hai nhóm bệnh nhân xét nghiệm dương tính và nhóm bệnh nhân nghi ngờ trong vụ dịch. Kết quả xét nghiệm dương tính có mối tương quan với vùng có dịch và không có dịch, với các triệu chứng sốt, đau đầu, đau họng, ho, đau cơ đau khớp.


         
2.  Khả năng chấp nhận và sử dụng thiết bị khí dung vắc xin sởi tại Việt Nam
 
Lê Thị Phương Mai, Nguyễn Thị Thi Thơ, Phan Đăng Thân, Nguyễn Tự Quyết, Nguyễn Diệu Chi Mai, Lưu Phương Dung

Tóm tắt: Một nghiên cứu định tính đã được tiến hành nhằm đánh giá khả năng chấp nhận và sử dụng thiết bị khí dung vắc xin sởi đã được triển khai tại tỉnh Hà Nam. Kết quả cho thấy khả năng có thể sử dụng và đã có sự chấp nhận thiết bị khí dung vắc xin sởi tại Việt Nam. Tuy nhiên cần có những đánh giá cụ thể hơn để có kế hoạch ứng dụng hiệu quả phương pháp này trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng.


          3.  Hoàn thiện phương pháp PCR đơn mồi phát hiện vi khuẩn Streptococcus suis trong dịch não tủy
 
Phan Lê Thanh Hương, Tăng Thị Nga, Đặng Đức Anh

Tóm tắt: Đáp ứng nhu cầu chẩn đoán nhanh và chính xác vi khuẩn Streptococcus suis (liên cầu lợn) gây bệnh viêm màng não mủ (VMNM) ở người lớn, đặc biệt ở độ tuổi lao động, và có thể áp dụng thực hiện tại các phòng xét nghiệm vi sinh lâm sàng cấp Thành phố/Tỉnh nhằm nâng cao hiệu quả điều trị, giảm thiểu di chứng và tử vong, chúng tôi nghiên cứu xây dựng phương pháp xử lý dịch não tủy đơn giản để bộc lộ DNA của vi khuẩn S. suis thay vì phải sử dụng các loại kit và enzym đắt tiền như hiện nay, và cải thiện (tối ưu hóa) các điều kiện, thành phần của phản ứng PCR đơn mồi phát hiện trực tiếp vi khuẩn S. suis. Kết quả nghiên cứu đã xác định được một bộ gen mồi đạt yêu cầu về độ nhạy và đặc hiệu, một quy trình PCR đơn mồi thích hợp và một quy trình xử lý dịch não tủy đơn giản dễ thực hiện nhưng hiệu quả. Với phương pháp chẩn đoán này: giới hạn phát hiện đạt 10 vi khuẩn trong 1 ống phản ứng. Mồi và quy trình có tính đặc hiệu cao, kết quả phát hiện luôn ổn định (độ lặp lại 100%).


          4.  Phân tích mô hình hồi quy về thực hành phòng chống cúm A/H1N1 tại hai xã của huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình năm 2010
 
Vũ Phong Túc         
 
Tóm tắt: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả về thực hành phòng chống cúm A/H1N1 và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến phòng chống cúm A/H1N1 được tiến hành từ 3/2010-6/2010 với 540 người dân tại 2 xã, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thực hành và tìm hiểu mối liên quan giữa thực hành của người dân và phòng chống dịch cúm A/H1N1. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Về thực hành của người dân về phòng chống cúm A/H1N1 đạt mức độ 2 (50 – 80 % ý trả lời đúng) chiếm 68.9%. Mức độ thực hành về phòng chống cúm A/H1N1 tại Thiên Tôn cao hơn Ninh Xuân rõ rệt có ý nghĩa thống kê (p<0.05). Phân tích mô hình hồi quy đơn biến cho thấy có sự liên quan về thực hành phòng chống cúm A/H1N1 với nhận thức đúng (OR thô là 3,06 ; 95% CI từ 1,07 đến 9,57) và với thái độ đúng (OR thô là 7,80; 95% CI từ 2,58 đến 23,53). Tuy nhiên khi loại bỏ các yếu tố gây nhiễu bằng mô hình hồi quy logistic đa biến cho thấy người dân có thái độ đúng trong phòng chống dịch cúm A/H1N1 thì hành vi thực hành đúng cũng tăng đáng kể với các giá trị OR hiệu chỉnh là 6,33 và 95% CI từ 2,02 đến 19,82 với p< 0,05.

          5.  Đánh giá phương pháp tiêu bạch cầu đặc hiệu trong chẩn đoán xác định hen phế quản do bụi nhà
 
Trịnh Mạnh Hùng

Tóm tắt: Tiến hành phản ứng tiêu bạch cầu đặc hiệu cho nhóm người bệnh hen phế quản do bụi nhà và người khỏe mạnh. Kết quả cho thấy: phản ứng tiêu bạch cầu đặc hiệu là phương pháp có độ đặc hiệu (Sp) là 82%, độ nhậy (Se) là 78,38% , kết quả còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan. Phản ứng tiêu bạch cầu đặc hiệu vẫn là phương pháp chẩn đoán có giá trị, nhưng nếu kết hợp với một số phương pháp chẩn đoán đặc hiệu khác như: tét lẩy da, tét kích thích, phân hủy mastocyte… thì độ chính xác sẽ hơn nhiều trong việc xác định nguyên nhân gây nên các bệnh dị ứng và hen phế quản.


          6.  Nhu cầu sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và tiếp cận thông tin về nhiễm khuẩn đường sinh sản của phụ nữ di cư phường Thạch Bàn, Quận Long Biên, Hà Nội năm 2011
 
Lê Thị Kim Ánh, Phạm Thị Lan Liên, Vũ Hoàng Lan, Esther Schelling

Tóm tắt:
Nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng, nhu cầu sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh, và việc tiếp cận thông tin về nhiễm khuẩn đường sinh sản (NKĐSS) của phụ nữ di cư tuổi 18 - 49 lao động trong các KCN. Địa bàn nghiên cứu là phường Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội. Với cỡ mẫu 291 đối tượng, nghiên cứu cho thấy khoảng 25% đối tượng có triệu chứng NKĐSS, nhưng tỷ lệ sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh rất thấp (21.6%). Lý do chủ yếu do quan niệm chưa đúng của đối tượng về bệnh, sự thiếu cung cấp thông tin của cơ sở sử dụng lao động và sự phối hợp với y tế địa phương. Nhu cầu được tiếp cận thông tin là rất lớn, chủ yếu là tại cơ sở sử dụng lao động và y tế địa phương. Nghiên cứu đã chỉ rõ các khó khăn, hạn chế, nhu cầu sử dụng dịch vụ và tiếp cận thông tin, làm cơ sở cho các can thiệp nâng cao sức khỏe sinh sản cho nữ lao động di cư trong thời gian tới.

          7.  Áp dụng tét lẩy da trong chẩn đoán đặc hiệu ngư­ời bệnh hen phế quản do bụi, bọ nhà
 
Trịnh Mạnh Hùng

Tóm tắt: Tiến hành tét lẩy da cho 505 người bệnh hen phế quản (HPQ) với 8 loại dị nguyên hay gặp, nhằm xác định nguyên nhân gây bệnh, chúng tôi nhận thấy: có 75,14% số người bệnh có kết quả dương tính với bụi nhà, với bọ nhà D.pteronyssinus là 63,87%, với bọ nhà D.farinae là 45,95%, ngoài ra với một số dị nguyên khác cho tỷ lệ thấp hơn. Trong các phương pháp chẩn đoán đặc hiệu, tét lẩy da là một phương pháp đơn giản, an toàn, dễ áp dụng, nhưng có độ chính xác khá cao, độ đặc hiệu là 92% và độ nhậy là 75,14%. Vì vậy, ngày nay tét lẩy da vẫn đang được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước, để chẩn đoán xác định nguyên nhân gây nên các bệnh dị ứng và hen phế quản.


          8.  Kiến thức về bệnh lao và tuân thủ điều trị lao của bệnh nhân lao phổi được quản lý và điều trị tại phòng khám lao quận Hai Bà Trưng, Hà nội
 
Uông Thị Mai Loan, Hồ Thị Hiền

Tóm tắt:
Tuân thủ điều trị lao đóng vai trò tiên quyết đối với hiệu quả điều trị cũng như phòng kháng thuốc. Quận Hai Bà Trưng có tỷ lệ nhiễm lao cao nhất trong các quận nội thành, số lượng bệnh nhân đông, tuy nhiên, tuân thủ điều trị (TTĐT) của bệnh nhân còn chưa cao, hiệu quả điều trị còn thấp. Mục tiêu: Mô tả kiến thức của bệnh nhân lao phổi về bệnh lao và TTĐT của bệnh lao. Kết quả: Kiến thức về lao phổi và TTĐT lao của bệnh nhân còn chưa cao. Tỷ lệ bệnh nhân lao phổi cho rằng nguyên nhân gây bệnh lao là do vi khuẩn lao chỉ chiếm 75,9%; vẫn còn 16,7% bệnh nhân không biết thể lao nào dễ lây nhất. Vẫn còn 1/5 (17,8%) bệnh nhân chưa biết rõ về thời gian mà mình cần phải điều trị. Kết luận: Cần có tư vấn cho bệnh nhân về DOTS, đường lây nhiễm, khả năng lây nhiễm của bệnh lao, các nguyên tắc điều trị.
 
          9.  Kiến thức và thực hành trong phòng chống bệnh dại của cán bộ y tế và cán bộ thú y tại Phú Thọ 2010
 
Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, Hồ Thị Hiền

Tóm tắt: Nghiên cứu định tính được tiến hành, sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc 12 đối tượng là cán bộ y tế (CBYT), cán bộ thú y các tuyến của Phú Thọ và quan sát cách xử trí người bị súc vật cắn của CBYT. Số liệu được phân tích theo chủ đề. Kết quả cho thấy hầu hết CBYT có kiến thức tương đối tốt và toàn diện về bệnh dại và phòng chống bệnh dại (PCBD) ở cả người và động vật trong khi các cán bộ (CB) thú y chỉ nắm được kiến thức về bệnh dại ở động vật (mà chủ yếu là chó và mèo). Các CBYT tuyến tỉnh và huyện đều có kỹ năng xử trí người bị súc vật cắn tốt, tuân thủ gần như hoàn toàn theo thường quy PCBD của Chương trình phòng chống bệnh dại quốc gia – Bộ Y tế đồng thời tư vấn tận tình, dặn dò đầy đủ cho người bệnh sau khi tiêm.


          10.  Thực trạng hoạt động tại cơ sở điều trị thay thế bằng thuốc Methadone tại huyện Từ Liêm, Hà Nội
 
Vũ Việt Hưng, Hồ Thị Hiền, Nguyễn Thị Thu Trang

Tóm tắt: Tại Việt Nam, nghiện chích ma tuý (NCMT) là nguyên nhân hàng đầu lây truyền HIV/AIDS. Phương pháp điều trị thay thế (ĐTTT) bằng thuốc Methadone là một trong những biện pháp can thiệp giảm tác hại có hiệu quả nhằm giảm lây truyền HIV. Nghiên cứu định tính với 50 đối tượng khác nhau, nhằm xác định thực trạng hoạt động tại cơ sở ĐTTT Methadone Từ Liêm và một số khó khăn trong hoạt động. Kết quả nghiên cứu cho thấy Cơ sở điều trị Methadone huyện Từ Liêm đã đảm bảo thuận tiện để bệnh nhân nghiện các chất dạng thuốc phiện (CDTP) điều trị. Tuy nhiên, để cơ sở hoạt động tốt hơn cần bổ sung máy vi tính tại phòng tư vấn và điều trị, bơm kim tiêm và bao cao su cấp phát cho bệnh nhân, phát hành tờ rơi để cung cấp thêm thông tin về ĐTTT Methadone, chỉnh sửa mẫu bệnh án để bác sỹ có thể theo dõi bệnh nhân tốt hơn, bác sỹ cần tập huấn nâng cao chuyên môn về điều trị Methadone cho người đang điều trị ARV hoặc lao, tư vấn viên cần tập huấn về tư vấn tâm lý cho bệnh nhân. Với cơ sở vật chất hiện nay khả năng tiếp nhận bệnh nhân tại cơ sở từ 300 đến 350 bệnh nhân. Hiện tại, cơ sở tiếp nhận được 140 bệnh nhân đạt 56% kế hoạch. Thực trạng này do tại một số xã điều trị Methadone chưa được quan tâm, người nghiện chích các CDTP chưa có đủ thông tin về điều trị.


         
11.  Đánh giá thực trạng thừa cân-béo phì của học sinh Trường trung học cơ sở Ngô Sỹ Liên, Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
 
Trần Thị Phúc Nguyệt, Phạm Duy Tường

Tóm tắt: Mục tiêu: Đánh giá thực trạng thừa cân-béo phì của học sinh trường trung học cơ sở Ngô Sỹ Liên thuộc quận Hoàn Kiếm - Hà Nội năm 2008. Đối tượng và PPNC: Sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả 350 học sinh Trường trung học cơ sở Ngô Sỹ Liên, quận Hoàn Kiếm - Hà Nội. Kết luận: Tỷ lệ thừa cân của học sinh trường trung học cơ sở Ngô Sỹ Liên là 17,7%, béo phì là 8,3%. Tỷ lệ thừa cân của nam học sinh là 26,6% và béo phì là 15,0% cao hơn tỷ lệ thừa cân của học sinh nữ là 8,7% và béo phì là 4,0%.


          12.  Thực hành sử dụng khẩu trang phòng nhiễm khuẩn tại các bệnh viện ở thành phố Hà Nội
 
Thẩm Chí Dũng, Vũ Sinh Nam, Lê Hồng Hinh, Nguyễn Trần Hiển, Phan Thị Ngà, Nguyễn Thị Lan Phương, Lương Minh Tân, Holly Seale và C. Raina MacIntyre

Tóm tắt: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện tại 74 khoa, là các đơn vị có nguy cơ cao lây truyền vi rút gây bệnh đường hô hấp, thuộc 15 bệnh viện tại Hà Nội trong 3 tháng (9-11/2010) nhằm mô tả thực hành sử dụng khẩu trang phòng nhiễm khuẩn tại các bệnh viện. Đánh giá bằng 5 thang bậc Likert. Phân tích độ tập trung và phân tán số liệu sau khi đánh giá giá trị tin cậy của các câu hỏi bằng hệ số Cronbach’s alpha. Kết quả cho thấy các khoa có xu hướng hiếm khi hoặc không bao giờ sử dụng trang bị bảo hộ cá nhân (găng tay, bao chân)(trung bình>4,0). Ngoại trừ, áo bảo hộ bằng vải bông có thể giặt được và dùng nhiều lần thỉnh thoảng được sử dụng (trung bình=2,5) (alpha=0,52). Khẩu trang phẫu thuật/y tế sử dụng nhiều lần; khẩu trang N95 sử dụng một lần, hai hay nhiều lần cũng có xu thế hiếm khi hoặc không bao giờ được sử dụng (trung bình>4,0). Khẩu trang giấy, vải, phẫu thuật dùng một lần được sử dụng ở mức vừa phải (trung bình:2,9-3,4) (alpha=0,50). Tỷ lệ khoa luôn áp dụng đeo khẩu trang vào mọi thời điểm chỉ đạt 24,3%. Hơn một nửa (52,6%) số khoa có nhân viên y tế tự giặt khẩu trang sau khi sử dụng. Phần lớn các khoa ghi nhận có nhân viên y tế thường xuyên hoặc luôn luôn sử dụng khẩu trang (trung bình<2,7) khi thực hiện thủ thuật y tế (hút đờm, khí dung, đặt nội khí quản, soi phế quản), nhưng lại hiếm khi đeo khẩu trang khi vỗ rung thành ngực (trung bình=3,8), (alpha=0,78).


          13.  Nghiên cứu sản xuất kháng huyết thanh
bại liệt dùng cho kiểm định văc xin
 
Ngô Thu Hường, Lê Thị Luân

Tóm tắt: Trung tâm nghiên cứu sản xuất văc xin và sinh phẩm y tế (POLYVAC) đã sản xuất được kháng huyết thanh bại liệt 3 typ đạt tiêu chuẩn cơ sở. Tất cả các kháng huyết thanh sản xuất đều vô trùng. Tổng thể tích kháng huyết thanh bại liệt typ 1, 2, 3 thu được là 743 ml (276 ml huyết thanh typ 1, 227ml huyết thanh bại liệt typ 2 và 240,5ml huyết thanh bại liệt typ 3) Hiệu giá đạt tiêu chuẩn và cao hơn kháng huyết thanh chuẩn của Nhật Bản là 283ml chủ yếu là huyết thanh typ 1 (170ml), các kháng huyết thanh này sử dụng cho thử nghiệm xác định tác nhân ngoại lai các mẻ gặt đơn. 122 ml kháng huyết thanh bị loại bỏ vì không đặc hiệu typ. Các kháng huyết thanh còn lại sử dụng cho thử nghiệm nhận dạng, chuẩn độ hiệu giá vắc xin thành phẩm.


          14.  Bước đầu đánh giá hiệu quả mô hình Bệnh viện Đa khoa tỉnh hướng về cộng đồng thông qua hoạt động đào tạo nâng cao năng lực khám chữa bệnh cho bênh viện tuyến huyện
 
Trương Quý Dương, Đặng Đức Phú

Tóm tắt: Thực hiện mô hình bệnh viện tỉnh hướng về cộng đồng, sau 2 năm triển khai các hoạt động can thiệp đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn cho hai bệnh viện đa khoa (BVĐK) tuyến huyện đạt được một số hiệu quả bước đầu: Thời gian điều trị bình quân (ngày)/1bệnh nhân (BN) giảm từ 0,23 - 0,3 ngày; Tổng số lượt BN điều trị nội trú, tổng số ngày điều trị nội trú, tổng số xét nghiệm cận lâm sàng, tổng số ca phẫu thuật, thủ thuật đều tăng từ 1,03 - 2,86 lần. Tổng số lượt BN chuyển tuyến và vượt tuyến từ BVĐK huyện lên BVĐK tỉnh đều giảm (chuyển tuyến giảm 2 - 1,04 lần, vượt tuyến giảm 1,6 - 1,3 lần); Tỷ lệ BN chuyển tuyến giảm 4,96 - 0,77%, vượt tuyến giảm 2,01 - 1,58%. Khả năng thực hiện dịch vụ kỹ thuật chăm sóc sơ sinh của hai BV đều tăng lên rõ rệt, từ không có kỹ thuật nào (0%) thực hiện đạt mức A (mức tốt) đã thực hiện được 13/18 kỹ thuật (72%) ở mức A.


          15.  Căn nguyên virus gây nhiễm trùng hô hấp cấp ở bệnh nhi dưới 5 tuổi tại Nha Trang năm 2009
 
Vũ Văn Thành, Lay Mint Yoshida, Đặng Đức Anh và Phan Lê Thanh Hương

Tóm tắt: Mục tiêu: 441 mẫu bệnh phẩm dịch tỵ hầu của bệnh nhi dưới 5 tuổi mắc nhiễm trùng hô hấp cấp điều trị tại Khoa Hô hấp Nhi, Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hoà năm 2009 được nuôi cấy và xác định căn nguyên virus. Kết quả cho thấy: 307 mẫu dương tính với virus (Influenzae virus A chiếm 15,6%, RSV chiếm 21,8%, Rhinovirus chiếm 28,1%, Adenovirus chiếm 5,7% và các virus khác chiếm tỷ lệ không đáng kể). Tỷ lệ mắc virus không có sự khác biệt giữa giới nam và nữ. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc Influenzae virus ARSV mùa mưa nhiều hơn mùa khô (p < 0,05).


          16.  Hiệu quả can thiệp cải thiện tình trạng sức khỏe người cao tuổi tại xã Khánh Bình, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, 2010-2011
 
Nguyễn Thị Thùy Dương, Trần Văn Hưởng, Phạm Văn Thao, Từ Tấn Thứ, Lục Duy Lạc, Phan Trọng Lân

Tóm tắt: Sau 1 năm triển khai can thiệp tại cộng đồng có đối chứng tại 2 xã Khánh Bình, huyện Tân Uyên (xã can thiệp) và xã An Phú, huyện Thuận An (xã đối chứng) thuộc tỉnh Bình Dương từ 7/2010 - 6/2011, mô hình quản lý khám chữa bệnh (QLKCB) cho người cao tuổi (NCT) đã cho kết quả khả quan: i) Sức khỏe NCT ở xã can thiệp đã có sự thay đổi rõ rệt, tích cực về các triệu chứng ốm/đau so với thời điểm trước can thiệp và so với NCT ở xã đối chứng. Tỷ lệ NCT trong tình trạng tỉnh táo, nói rõ ràng, ăn ngon miệng, không mệt mỏi, không đau nhức xương ở xã can thiệp cao hơn rõ rệt so với xã chứng; ii) Tỷ lệ NCT không mắc bệnh tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục, tai mũi họng, răng hàm mặt ở xã can thiệp (92,1%; 84,6%; 83,8%; 95,0%; 97,4%; 97,6%; 85,9%) cao hơn so với xã đối chứng (86,9%; 77,8%; 77,5%; 88,8%; 94,5%; 91,6%; 80,4%) và sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê (p<0,05); iii) NCT của xã can thiệp đã có những sự thay đổi về tình trạng bệnh hiện tại theo xu hướng tích cực, tỷ lệ mắc bệnh và mức độ nặng của bệnh ở NCT đều giảm đi: tại xã can thiệp có 30,9% NCT có mắc bệnh và thấp hơn xã chứng (38,4%). Trong số NCT mắc bệnh hiện tại, ở xã can thiệp có 7,1% NCT đang ở tình trạng bệnh nặng lên, tỷ lệ này là 13,6% ở xã đối chứng (p<0,01). Mô hình quản lý khám chữa bệnh NCT được triển khai lồng ghép vào các hoạt động của trạm y tế xã và các ban ngành đoàn thể xã hội nên đảm bảo khả năng duy trì bền vững.

          17.  Thực trạng phát thải và quản lý, xử lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện khu vực miền Bắc

Trần Đắc Phu và cộng sự

Tóm tắt: Với tính chất đặc thù, chất thải của các bệnh viện trong đó có chất thải rắn y tế cần phải được xử lý một cách triệt trước khi thải ra môi trường để tránh ô nhiễm, lây lan dịch bệnh và bảo vệ sức khoẻ cho người dân. Thực hiện nghiên cứu điều tra theo phương pháp mô tả cắt ngang bằng bảng hỏi và quan sát trực tiếp quá trình thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn tại 20 bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh khu vực phía Bắc kết quả cho thấy:Có 21% bệnh viện tuyến Trung ương và 60% bệnh viện tuyến tỉnh sử dụng phương pháp thiêu đốt để xử lý chất thải rắn y tế lây nhiễm, còn lại là thuê đơn vị có chức năng để xử lý. Việc tiến hành thu gom, phân loại, xử lý chất thải rắn y tế còn nhiều hạn chế cần phải có những biện pháp khắc phục một cách triệt để, nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường và lây lan dịch bệnh.


         
18.  Thực trạng quản lý và xử lý nước thải
y tếtại một số bệnh viện khu vực phía Bắc
 
Trần Đắc Phu và cộng sự

Tóm tắt: Với tính chất đặc thù, chất thải lỏng (nước thải) y tế của các bệnh viện, đặc biệt nước thải phát sinh từ các khoa/phòng khám, chữa bệnh cần phải được xử lý một cách triệt để trước khi thải ra môi trường để tránh ô nhiễm, lây lan dịch bệnh và để bảo vệ sức khoẻ cho người dân. Thực hiện nghiên cứu điều tra theo phương pháp dịch tễ học mô tả với điều tra cắt ngang và tiến hành xét nghiệm phân tích khối lượng, thành phần nước thải y tế của 20 bệnh viện khu vực miền Bắc bao gồm tuyến Trung ương và tuyến tỉnh kết quả cho thấy: 25,6 % bệnh viện có chất lượng nước cấp cho ăn uống và sinh hoạt đạt tiêu chuẩn vệ sinh, các bệnh viện còn lại (74,4%) do còn có các chỉ tiêu: độ ô xy hóa và vi khuẩn (ColifformFecal Colifform), a sen và man gan không đạt tiêu chuẩn vệ sinh. 95% bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải nhưng chất lượng nước thải sau xử lý còn có một số chỉ tiêu chưa đạt tiêu chuẩn môi trường: Colifform (85%), BOD (62,5%), amoni (60,7%), sunfua (45%) và phốt phát (36,3%).


          19.  Kết quả điều trị bằng thuốc ARV bậc 1 trên bệnh nhân HIV tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương
 
Nguyễn Văn Kính và cộng sự

Tóm tắt: Mục đích: Đánh giá kết quả điều trị bằng các phác đồ ARV bậc 1, ở người trưởng thành nhiễm HIV. Phương pháp: 180 bệnh nhân đang điều trị bằng các phác đồ ARV bậc 1, tại bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương đã được đánh giá kết quả tại các thời điểm 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng điều trị. Kết quả: Các phác đồ điều trị bằng ARV bậc 1 có hiệu quả cải thiện lâm sàng, cải thiện tế bào CD4. Tuy nhiên, trong quá trình điều trị vẫn gặp hội chứng phục hồi miễn dịch, tác dụng phụ của thuốc, thất bại điều trị và tử vong. Khuyến nghị: Cần xem xét điều trị sớm bằng thuốc ARV và làm xét nghiệm đánh giá tình trạng kháng thuốc.


          20.  Đặc điểm lâm sàng viêm gan B cấp ở bệnh nhân HIV
 
Nguyễn Văn Kính

Tóm tắt: Mục tiêu:
Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng của viêm gan B cấp (VGB) trên bệnh nhân HIV. Phương pháp: 62 bệnh nhân HIV có bằng chứng đợt cấp của VGB, điều trị tai Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương từ 6/2008 - 6/2011 đã được nghiên cứu hồi cứu. Kết quả: Các triệu chứng hay gặp là mệt mỏi (87,1%), chán ăn (63,3%), sốt (54,8%), rối loạn tiêu hóa (51,6%), các biểu hiện tiểu sẫm mầu, vàng da- vàng mắt và gan lách to ít gặp. Xét nghiêm có tình trạng tăng men gan (ALT là 200,26 ± 75,06U/l và AST là 273,58 ± 57,46U/l); tăng bilirubin máu (toàn phần 95,35 ± 28,19 µmol/l, trực tiếp 43,98±10,90 µmol/l), nhưng biểu hiện suy tế bào gan không rõ (protein 73,42±2,31 g/L; albumin 34,75±1,60 g/L, tỷ lệ prothrombin 60,35 ± 35,66 %), mặc dù những trường hợp được siêu âm có hình ảnh tràn dịch (50%), xơ gan (12,5%) và giãn tính mạch cửa (6,2%). VGB gặp ở cả 4 giai đoạn lâm sàng của HIV và 88,89% số bệnh nhân đã suy giảm miễn dịch nặng. Kết luận: Biểu hiện lâm sàng đợt cấp VGB không điển hình. Cần làm xét nghiệm HBsAg ở bệnh nhân HIV để sàng lọc và phát hiện sớm tình trạng đồng nhiễm VGB/HIV.  
 
 
Tin tiếp theo






Hội Y học Dự phòng Việt Nam

Tạp chí Y học Dự phòng

Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP

Tiêm chủng mở rộng QG
Quảng cáo