Thời tiết











  Các số báo đã phát hành năm 2011
Danh sách các bài báo đăng tại Tập XXI, số 7 (125) 2011
 
Danh sách các bài báo đăng tại Tập XXI, số 7 (125) 2011

Số đặc biệt

Kỷ niệm Ngày nhà giáo Việt Nam 20-11

Hội nghị Khoa học Nghiên cứu sinh năm 2011

của Cơ sở đào tạo sau đại học - Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

 

          1.  Phát hiện véc - tơ truyền virus Banna ở tỉnh Cần Thơ, Long An
 
Hoàng Minh Đức, Phan Thị Ngà, Hồ Thị Việt Thu, Vũ Sinh Nam

Tóm tắt: Virus Banna, thuộc họ Reoviridae chi Seadornavirus, virus được phát hiện từ bệnh nhân và muỗi từ năm 1987 ở Trung Quốc và ở Việt Nam trong những năm đầu thập kỷ XXI. Cho thấy sự cần thiết nghiên cứu phát hiện sự lưu hành của virus Banna và véc tơ truyền virus này ở Việt Nam. Trong năm 2005 đã thu thập được 273 mẫu muỗi của 5 loài muỗi gồm có 8.285 cá thể muỗi đực và 30.929 cá thể muỗi cái ở tỉnh Cần Thơ và Long An để phân lập virus bằng tế bào Aedes albopictus dòng C6/36, định loại virus bằng kỹ thuật ELISA Sandwich, RT-PCR. Kết quả đã phân lập và định loại được 20 chủng virus Banna từ Cx. pseudovishnuiCx. quinquefaciatus ở cả hai giống muỗi đực và muỗi cái, xác định hai loài muỗi này là véc tơ truyền virus. Tỷ lệ phân lập được virus Banna ở tỉnh Cần Thơ và Long An từ hai loài Cx. pseudovishnuiCx. quinquefaciatus tương ứng là 4,76 % và 2,56 %; Trong nghiên cứu này không phân lập được chủng virus nào từ Cx. citients, Cx. gelidus Cx. tritaeniorhynchus ở hai tỉnh này.


         
2.   
Ứng dụng một số nguyên tắc để thiết kế mồi cho phản ứng PCR giải trình tự gen virus
 
Nguyễn Viết Hoàng, Đỗ Phương Loan, Bùi Minh Trang, Hoàng Minh Đức, Vũ Sinh Nam, Phan Thị Ngà

Tóm tắt: Kỹ thuật PCR được phát minh và ứng dụng không những trong nghiên cứu cơ bản về sinh học phân tử mà còn được ứng dụng trong lĩnh vực y tế để chẩn đoán nghiên cứu các tác nhân vi sinh từ những năm 1985. Một trong những yếu tố quyết định sự thành công của kỹ thuật PCR nằm ở khâu thiết kế mồi và tối ưu hoá nhiệt độ gắn mồi. Trong nghiên cứu này, phần mềm thiết kế mồi Primer-Premier 6.0 và phần mềm OLIGO 6 được sử để thiêt kế mồi cho phản ứng PCR giải trình tự gen virus viêm não Nhật Bản có ký hiệu 90VN70 và virus Banna có ký hiệu 05VN255. Dựa trên một số nguyên tắc cơ bản trong thiết kế mồi, có 22 mồi được thiết kế cho phản ứng PCR giải trình tự gen để giải mã toàn bộ genome của virus viêm não Nhật Bản chủng có ký hiệu 90VN70; Có một số mồi được thiết kế để giải trình tự toàn bộ vùng gen số 12 của virus Banna để ứng dụng cho nghiên cứu dịch tễ sinh học phân tử trong nghiên cứu tiếp theo.


         
3.   
Chất lượng cuộc sống của trẻ bị hen tại Bệnh viện Bạch Mai và Xanh Pôn, Hà Nội năm 2010-2011
 
Đặng Hương Giang, Nguyễn Tiến Dũng, Đặng Đức Anh

Tóm tắt: Hen phế quản là bệnh mạn tính thường gặp nhất ở trẻ em làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của trẻ. Mục tiêu: đánh giá thực trạng CLCS của trẻ bị hen đến khám tại bệnh viện Bạch Mai và Xanh Pôn năm 2010-2011. Đối tượng: 75 trẻ 9-17 tuổi bị hen đến khám tại bệnh viện Bạch mai và Xanh Pôn từ 1/9/2010 đến 31/8/2011. Phương pháp nghiên cứu: mô tả một loạt trường hợp bệnh. Mẫu phiếu phỏng vấn được xây dựng dựa trên bộ câu hỏi phỏng vấn CLCS cho người bệnh hen của giáo sư Juniper (đã xin phép tác giả về bản quyền sử dụng) có 23 câu hỏi, mỗi câu được đánh giá 7 mức độ bao gồm 3 lĩnh vực: hạn chế hoạt động, triệu chứng, cảm xúc. Kết quả: hệ số tin cậy Cronbach’ alpha của mẫu phiếu phỏng vấn là 0,94. Điểm trung bình CLCS của 23 câu hỏi là 4,61±1,25. Điểm CLCS của trẻ ở các nhóm: đang dùng thuốc cắt cơn (4,06 ±1,18), có FEV1<60% (4,10±0,88) thấp hơn rõ rệt so với trẻ nhóm không dùng thuốc cắt cơn (4,97±1,18), có FEV1>=60% (4,82 ± 1,32) (p=0.0; 0,03) trong khi trẻ được dự phòng có điểm CLCS (4,95 ± 1,21) cao hơn so với trẻ không dự phòng hen (4,16 ± 1,17) (p=0,0).


         
4.   
Điều kiện lao động của người lao động điều khiển tàu
 
Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Duy Bảo, Nguyễn Tùng Linh

Tóm tắt: Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá điều kiện lao động của người lao động điều khiển tàu (điều độ viên) tại một trung tâm điều hành vận tải. Các phương pháp được sử dụng để đánh giá điều kiện lao động của điều độ viên bao gồm: đo và đánh giá một số yếu tố trong môi trường lao động như vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió), ánh sáng, tiếng ồn; quan sát, bấm thời gian lao động và phân tích đặc điểm lao động đặc thù. Kết quả cho thấy các yếu tố vi khí hậu tại các vị trí lao động của điều độ viên tại thời điểm đo đều nằm trong tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP). Tại một số vị trí làm việc của điều độ viên có cường độ ánh sáng thấp hơn TCVSCP và cường độ tiếng ồn cao hơn TCVSCP. Đánh giá điều kiện lao động của các điều độ viên theo bảng các chỉ tiêu căng thẳng của quá trình lao động (về gánh nặng trí tuệ, gánh nặng giác quan, gánh nặng cảm xúc, gánh nặng đơn điệu và chế độ lao động nghỉ ngơi) có 11/22 chỉ tiêu có mức đánh giá thuộc mức căng thẳng rất cao (mức 4) và 4/22 chỉ tiêu có mức đánh giá thuộc mức căng thẳng cao (mức 3).


         
5.  Rối loạn nhịp tim ở người lao động điều khiển tàu (Operator) qua ghi Holter điện tim 24 giờ
 
Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Duy Bảo, Nguyễn Tùng Linh, Phạm Thái Giang

Tóm tắt
: Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định tỷ lệ rối loạn nhịp tim ở người lao động điều khiển tại một trung tâm điều hành vận tải. Toàn bộ 32 điều độ viên thuộc trung tâm điều hành đã được tiến hành ghi Holter điện tim 24 giờ bằng hệ thống máy ghi Holter điện tim 24 giờ MSC-8800 Holter Monitoring được cài phần mềm phân tích dữ liệu MSI (Mỹ) và ghi điện tâm đồ thường quy. Trong quá trình ghi Holter điện tim, các đối tượng hoạt động lao động bình thường. Kết quả nghiên cứu cho thấy: có 5/32 đối tượng có rối loạn nhịp tim, chiếm 15,6%. Các rối loạn nhịp bao gồm: ngoại tâm thu thất đơn thuần có 4/5 trường hợp, 1 trường hợp ngoại tâm thu trên thất. Các trường hợp rối loạn nhịp này đều không phát hiện được qua ghi điện tim 12 đạo trình thông thường. Holter điện tim 24 giờ thực sự có giá trị trong phát hiện sớm các rối loạn nhịp ở người lao động bình thường.
 
          6.  Vai trò bảo vệ tài chính của bảo hiểm y tế cho người dân vùng nông thôn khi đau ốm: Kết quả nghiên cứu tại 4 huyện thuộc tỉnh Hải Dương và Bắc Giang
 
Nguyễn Khánh Phương, Đặng Đức Phú, Nguyễn Thị Xuyên

Tóm tắt: Thực hiện mục tiêu Bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chương trình nghị sự y tế của Chính phủ Việt Nam. Bao phủ BHYT toàn dân bao hàm không chỉ chiều rộng độ bao phủ mà còn cả chiều sâu về mức độ bảo vệ tài chính. Bằng nghiên cứu mô tả cắt ngang qua khảo sát 2400 hộ gia đình tại 4 huyện thuộc hai tỉnh Hải Dương và Bắc Giang, tác giả đã phân tích tác động của Bảo hiểm y tế (BHYT) đối với chi trả tiền túi khi đi khám chữa bệnh của người dân sống tại vùng nông thôn. Kết quả cho thấy, BHYT giúp giảm chi phí tiền túi cho khám chữa bệnh ngoại trú và nội trú lần lượt là 16,5% và 33,2%. Đối với chi phí khám chữa bệnh bình quân đầu người một năm, BHYT làm giảm 24,8% mức chi phí này so với người không có BHYT.


          7.  Hiệu quả mô hình quản lý khám chữa bệnh cho người cao tuổi tại xã Khánh Bình, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
 
Trần Văn Hưởng, Phạm Văn Thao, Nguyễn Thị Thuỳ Dương, Vũ Thị Kim Anh, Phan Trọng Lân, Từ Tấn Thứ , Lục Duy Lạc

Tóm tắt: Bằng nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng tại 2 xã thuộc tỉnh Bình Dương trong thời gian 1 năm, mô hình quản lý khám chữa bệnh (QLKCB) ở xã Khánh Bình, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã cho một số kết quả như sau: Hệ thống QLKCB cho người cao tuổi (NCT) ở xã can thiệp đã được củng cố, tăng cường và thay đổi tốt hơn so với xã chứng (xã An Phú, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương).Tại xã can thiệp, hoạt động quản lý khám chữa bệnh cho NCT đã được cải thiện rõ rệt: hàng tháng, báo cáo về NCT được gửi lên Ban chăm sóc sức khỏe ban đầu (BCSSKBĐ) xã, 100% nhân viên y tế (NVYT) có sổ theo dõi sức khỏe NCT, có theo dõi sức khỏe NCT định kỳ hàng tháng, có đo huyết áp định kỳ tháng, NCT được truyền thông về sức khỏe 7 lần/năm, được khám bệnh định kỳ tại trạm y tế (TYT). Năm chỉ số điều hành dựa vào cộng đồng (ĐHDVCĐ) của hoạt động quản lý khám chữa bệnh và quản lý theo dõi huyết áp (HA) đều cao hơn rõ rệt và có ý nghĩa thống kê so với xã chứng. Hiệu quả can thiệp của một số chỉ số là khá cao. Chỉ số tỷ lệ % NCT được khám chữa bệnh tại trạm y tế trong năm có hiệu quả can thiệp là 174%, chỉ số tỷ lệ % NCT xét nghiệm đờm là 373% và chỉ số tỷ lệ sử dụng đúng QLKCB cho NCT lên tới 785%.


          8.  Thực trạng bán thuốc và tư vấn dùng thuốc cho trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại hai huyện Ba Vì và Đan Phượng - Hà Nội
 
Nguyễn Thị Minh Hiếu, Nguyễn Hoàng Long, Nguyễn Tiến Dũng

Tóm tắt: Với mục tiêu tìm hiểu thực hành bán thuốc và tư vấn dùng thuốc cho những trường hợp trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) của người bán thuốc, bằng phương pháp nghiên cứu cắt ngang tại 10 xã, toàn bộ 47 người bán thuốc đã được quan sát thực hành bán thuốc bằng phương pháp đóng vai bà mẹ đến mua thuốc điều trị cho trẻ mắc NKHHCT. Kết quả cho thấy đa số đối tượng nghiên cứu là đều có trình độ dược tá và có nhiều năm kinh nghiệm bán thuốc. Thực hành hỏi thông tin bệnh của người bán thuốc còn chưa cao. Tỷ lệ hỏi đơn thuốc của người bán thuốc cả hai huyện chỉ chiếm 6,4%.Câu hỏi về dấu hiệu thở để phát hiện sớm viêm phổi (một bệnh NKHHCT nguy hiểm), cũng chỉ có 17% người bán thuốc ở Ba Vì và 8,3% ở Đan Phượng hỏi bà mẹ. 100% trẻ mắc NKHHCT được người bán thuốc bán cho kháng sinh mặc dù không cần thiết. Cũng không có người bán thuốc nào ghi được đầy đủ thông tin nhãn thuốc như quy định. Chỉ có 10%.


          9.  Vai trò của Mycoplasma Pneumoniae, Chlamydia PneumoniaeLegionella Pneumophila trong viêm phổi mắc phải cộng đồng ở trẻ em: Kết quả ban đầu
 
Phạm Thu Hiền, Đào Minh Tuấn, Nguyễn Phong Lan, Phan Lê Thanh Hương

Tóm tắt: Để đánh giá vai trò của Mycoplasma pneumoniae (M. pneumoniae), Chlamydia pneumoniae (C. pneumoniae) và Legionella pneumophila (L. pneumophilatrong viêm phổi mắc phải cộng đồng, 230 bệnh nhi từ 1-15 tuổi có biểu hiện viêm đường hô hấp dưới cấp tính vào điều trị tại khoa Hô Hấp Bệnh viện Nhi Trung ương trong thời gian từ 1/4/1/2011 đến 31/7/2011 được sàng lọc tác nhân gây bệnh  M. pneumoniae, C. pneumoniae và L. pneumophila bằng kỹ thuật Multiplex PCR. Tỷ lệ mắc viêm phổi không điển hình ở nhóm trẻ trên là 22,6%, tuổi trung bình 3,2 ± 2,7 (1-14). Tỷ lệ nam/nữ là 1,2/1. Tỷ lệ M. pneumoniae là 18,7%, C. pneumoniae 7%, L. pneumophila 3,9%. Số bệnh nhân đồng nhiễm với vi khuẩn điển hình là 26,9%; đồng nhiễm với virus 11,5 % và 23% bệnh nhân đồng nhiễm cả M. pneumoniae và C. pneumoniae. Thời gian được sử dụng thuốc đặc hiệu nhóm Macrolide trung bình là 12,9 ± 10,2 ngày. Thời gian điều trị trung bình tại Bệnh viện Nhi Trung ương là 16,6 ± 9,2 ngày. M. pneumoniae, C. pneumoniae và L.pneumophila là những tác nhân quan trọng gây viêm phổi mắc phải ở cộng đồng cho trẻ em phải điều trị tại bệnh viện.


          10.  Đánh giá thực trạng vệ sinh môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm tại các bếp ăn tập thể ở một số tỉnh/thành phố
 
Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Duy Bắc, Trần Ngọc Anh

Tóm tắt: Nghiên cứu mô tả tại các bếp ăn tập thể ở 10 tỉnh/thành phố từ tháng 6/2009 đến 10/2010 cho thấy: Tình trạng ô nhiễm môi trường của các bếp ăn tập thể phổ biến ở cả khu vực nông thôn và thành thị. Tỷ lệ bếp ăn tập thể có thùng rác bị thủng, vỡ, rỉ là 30,7 % ở nông thôn và 34,7% ở thành thị. Hiện trạng xử lý nước thải còn nhiều bất cập, có 38,7% bếp ăn tập thể khu vực nông thôn và 33,3% bếp ăn tập thể khu vực thành thị để nước thải chảy tràn trên đường dẫn thoát.Tình trạng ô nhiễm dụng cụ chế biến xảy ra khá phổ biến. Tỷ lệ bếp ăn tập thể có dao nhiễm bẩn tại khu vực nông thôn và thành thị tương ứng là 33,3% và 20%. Tỷ lệ bàn, bệ nhiễm bẩn tại khu vực nông thôn là 30,7% và thành thị là 24%.


          11.  Tỷ lệ sinh men Beta - lactamaes phổ rộng và tính nhạy cảm kháng sinh của Klebsiella Pneumoniae gây nhiễm khuẩn đường hô hấp trẻ em từ sơ sinh đến 6 tuổi ở Bệnh viện Nhi Trung ương, 2009 - 2010
 
Bùi Thị Mùi, Lê Thị Ánh Hồng, Nguyễn Thanh Liêm

Tóm tắt: 267 chủng Klebsiella pneumoniae phân lập từ các bệnh phẩm đường hô hấp ở bệnh nhân tsơ sinh đến 6 tuổi, nằm điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương (07/2009 – 07/ 2010), được xác định tỷ lệ sinh men b-lactamase phổ rộng (ESBLs) và tính nhạy cảm kháng sinh cho thấy, tỷ lệ sinh ESBLs là 56,9%; trẻ sơ sinh 53,5% và trẻ nhỏ 60%. Các chủng K. pneumoniae kháng hầu hết với Ampicilline 98,9%, kháng cao với Cephalothin 93,8%, Cefuroxime 92,3%, kháng cao với cephalosporin thế hệ 3 và 4 từ 86,8 đến 91,9%. Các chủng này còn nhạy với Imipenem và Ciprofloxacin.


          12.  Thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi và một số yếu tố liên quan ở học sinh 12 tuổi tại hai huyện Quốc Oai và Gia Lâm - Thành phố Hà Nội, năm 2009
 
Tạ Quốc Đại, Trịnh Đình Hải, Đào Thị Dung, Nguyễn Thị Thùy Dương

Tóm tắt: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang trên 1022 học sinh lứa tuổi 12 tại hai huyện Quốc Oai và Gia Lâm cho thấy: tỷ lệ bệnh sâu răng vĩnh viễn, viêm lợi còn cao. Tỷ lệ sâu răng (SR) vĩnh viễn ở 2 huyện là 31,11% (Quốc Oai là: 38,43% và chỉ số SMT là 1, 10; Gia Lâm: 23,82% và chỉ số SMT là: 0,76; p<0,05). Tỷ lệ viêm lợi (VL) tại 2 huyện là 40,01% (Quốc Oai là: 42,15%; Gia Lâm: 37,89%; p<0,05). Có mối liên quan chặt chẽ giữa chăm sóc vệ sinh răng miệng với bệnh sâu răng, viêm lợi. Những học sinh VSRM không tốt có nguy cơ dẫn đến SR vĩnh viễn gấp 2,8 lần và VL gấp 2,9 lần so với những học sinh VSRM tốt. 


          13.  Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc sức khoẻ răng miệng của học sinh 12 tuổi tại hai huyện Quốc Oai và Gia Lâm - Thành phố Hà Nội, năm 2009
 
Tạ Quốc Đại, Trịnh Đình Hải, Đào Thị Dung, Nguyễn Thị Thùy Dương

Tóm tắt: Qua điều tra mô tả cắt ngang đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng của 1022 học sinh lứa tuổi 12 tại hai huyện Quốc Oai và Gia Lâm – thành phố Hà Nội năm 2009 cho thấy: Kiến thức về chăm sóc sức khoẻ răng miệng của học sinh khá tốt (18,3% học sinh đạt điểm giỏi; 20,45% học sinh đạt điểm khá và 61,25% học sinh đạt điểm trung bình). Thái độ đúng về chăm sóc sức khoẻ răng miệng của học sinh ở mức độ trung bình (38,06% em đồng ý phải chải răng hàng ngày sau bữa ăn chính, 41,97% em đồng ý phải dùng kem đánh răng để chải là một biện pháp để phòng bệnh răng miệng). Tuy nhiên, thực hành về chăm sóc sức khoẻ răng miệng của học sinh rất kém (22,51% em sau bữa ăn chính vệ sinh răng miệng (VSRM) bằng chải răng; 4,1% em sau khi ăn uống đồ ngọt chải răng để VSRM và chỉ có 19,96% học sinh đi khám răng định kỳ).


          14.  Nguồn lực cán bộ y dược cổ truyền ở Việt Nam
 
Trịnh Yên Bình, Ngô Văn Toàn, Phùng Đắc Cam

Tóm tắt: Nghiên cứu đánh giá nguồn lực cán bộ y dược cổ truyền (YDCT) tại Việt Nam là nghiên cứu điều tra về thực trạng nhân lực YDHCT nhằm nghiên cứu phân bổ cán bộ YDCT, chất lượng nhân lực YDCT, quản lý sử dụng nhân lực YDCT. Kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn lực cán bộ YHCT trong các bệnh viện tương đối trẻ, từ 20 – 49 tuổi (92%); đa số có trình độ Trung học phổ thông (99,7%); Tỷ lệ bác sĩ, dược sĩ theo hạng bệnh viện khác nhau rất rõ rệt; ở các bệnh viện hạng 1 là cao nhất (54,7%); trong đó cán bộ y tế có trình độ sau đại học về YHCT với phần lớn được đào tạo chính quy chiếm 44,8% tập trung chủ yếu là Bác sĩ và Dược sĩ CKI. Phân bổ cán bộ y tế theo vùng kinh tế xã hội không khác biệt, tỷ lệ bác sĩ ở vùng I (46,2%) là lớn nhất; vùng II (23,1%) là thấp nhất. Cán bộ y tế được đào tạo chuyên ngành về YHCT chiếm tỷ lệ cao (> 50%) ở tất cả các vùng. Tỷ lệ cán bộ YHCT công tác trong các bệnh viện được đào tạo lại rất ít, chiếm tỷ lệ (35,7%), chủ yếu được đào tạo bổ sung các kiến thức, kĩ năng điều trị về YHCT (65,6%).


          15.  Nhu cầu đào tạo liên tục cán bộ y dược học cổ truyền
 
Trịnh Yên Bình, Ngô Văn Toàn, Phùng Đắc Cam

Tóm tắt: Nghiên cứu nhu cầu về đào tạo liên tục của cán bộ y dược học cổ truyền (YDHCT) là rất lớn. Cán bộ y tế công tác trong ngành y với thời gian dài trung bình trên 10 năm chiếm tỷ lệ cao: vùng 1 (46,2%), vùng 2 (59,1%), vùng 3 (59,1%), vùng 4 (67,1%), vùng 5 (44,3%), vùng 6 (59,5%), đặc biệt trong ngành y học cổ truyền (YHCT) là vùng 1 (38,5%), vùng 2 (49,5%), vùng 3 (49,3%), vùng 4 (50%), vùng 5 (34,8%), vùng 6 (57,7%). Các cán bộ y tế gặp rất nhiều khó khăn về thiếu trang thiết bị y tế (49,3%), chưa cập nhật kiến thức chuyên môn (34,8%), kỹ năng nghề nghiệp (28,6%), thiếu thuốc trong điều trị (14,6%). Tỷ lệ cán bộ được đào tạo chiếm 35,7% tổng số cán bộ điều tra, trong đó kiến thức chuyên khoa về YHCT chiếm 17,7%, bổ sung kiến thức về thuốc, kĩ năng điều trị YHCT (65,6%), các khóa đào tạo khác chiếm tỷ lệ 16,7%. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy nhà nước cần triển khai nhiều loại hình đào tạo để đáp ứng nhu cầu nâng cao kỹ năng chuyên môn cho cán bộ YDHCT.


          16.  Hoàn thiện kỹ thuật RT-PCR-ELISA để phát hiện M.tuberculosis sống trong môi trường Bệnh viện Lao
 
Nguyễn Thị Thu Dung, Đỗ Thị Quỳnh Nga, Vũ Tân Trào

Tóm tắt:
Quá trình hoàn thiện kỹ thuật RT-PCR-ELISA để phát hiện phân tử ARN cấu trúc có trong thành phần 16S của ribosome (16S rARN) ở M.tuberculosis, chỉ có mặt ở vi khuẩn sống, được tiến hành để sử dụng trong đánh giá tình trạng ô nhiễm vi khuẩn lao trong môi trường bệnh viện. Kết quả cho thấy cặp mồi (primers) phát hiện gen 16S rARN của Mycobacteria và mẫu dò (probe) thiết kế đặc hiệu cho gen 16S rARN của M. tuberculosis complex cho kết quả dương tính chỉ trên vật liệu di truyền của M.tuberculosis và âm tính trên vật liệu di truyền của 14 chủng vi khuẩn khác. Kỹ thuật RT-PCR-ELISA phát hiện rARN trong thành phần 16S của ribosome của vi khuẩn lao có độ nhậy 10 vk/ml.
 
          17.  Kiến thức và sự tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại một số bệnh viện thuộc tỉnh Hưng Yên, năm 2010

Nguyễn Văn Hà,
Nguyễn Việt Hùng, Nguyễn Thuý Hoa, Phạm Ngọc Đính

Tóm tắt: Nghiên cứu kiến thức, thực hành vệ sinh tay (VST) của 313 nhân viên y tế (NVYT) tại 2 bệnh viện tuyến tỉnh và 2 bệnh viện tuyến huyện thuộc tỉnh Hưng Yên năm 2010 cho thấy: Tỷ lệ điểm đạt kiến thức VST của NVYT là 35,9%, không khác biệt giữa các đối tượng nghiên cứu và giữa các bệnh viện. Tỷ lệ tuân thủ VST chung theo 5 thời điểm VST là 7,8%; cao nhất ở nhóm điều dưỡng (10,9%), tại khoa Nội (25,5%) và trước khi thực hiện quy trình sạch/vô khuẩn (17%). Qua phân tích đa biến, một số yếu tố và nhóm đối tượng liên quan đến tuân thủ tốt VST gồm: Điều dưỡng (OR = 2,62, p<0,001), khoa Cấp cứu, khoa Nội (OR = 1,96 và 2,54, p<0,001), BVĐK Phố Nối (OR = 19,28; p<0,001), BV Phù Cừ (OR=5,01; p<0,001), BV Tiên Lữ (OR = 2,38; p<0,001), vào buổi chiều (OR= 1,24; p<0,05). Tỷ lệ tuân thủ VST khá thấp ở các đối tượng nghiên cứu cho thấy cần triển khai đồng bộ các biện pháp tăng cường thực hành VST tại các bệnh viện nghiên cứu.


         
18.  Mối liên quan giữa suy dinh dưỡng và thiếu máu với nhiễm giun ở trẻ em <5 tuổi tại 3 xã thuộc huyện Việt Yên - tỉnh Bắc Giang
 
Nguyễn Thị Ngọc Bảo,Nguyễn Mạnh Hùng, Lê Danh Tuyên

Tóm tắt: Điều tra thực trạng thiếu dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở 1.200 trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Việt Yên - tỉnh Bắc Giang được tiến hành vào cuối năm 2006. Kết quả cho thấy, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng các thể cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao lần lượt là 24,6%, 34,7% và 9,2% chung cho cả 03 xã. Tỉ lệ thiếu máu trên trẻ em chung 3 xã là 28,7%. Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột 35%. Ở từng xã, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột trẻ em ở xã Nghĩa Trung là 39,3%, xã Bích Sơn là 39% và ở xã Vân Trung là 26,7%. Nhiễm giun có liên quan chặt chẽ đến suy dinh dưỡng trẻ em và đến thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ em vùng được nghiên cứu. Nhóm trẻ nhiễm ký sinh trùng đường ruột có nguy cơ thiếu máu cao gấp 2,27 lần nhóm trẻ không thiếu máu. Trẻ bị thiếu máu có nguy cơ bị suy dinh dưỡng cao gấp 6,2 lần so với những trẻ bình thường và ngược lại.


         
19.  Tỷ lệ nhiễm HIV, HBV, HCV và một số yếu tố nguy cơ ở người nghiện chích ma túy, phụ nữ bán dâm tại Hà Nội trong 3 năm (2008-2010)
                                
 
Nguyễn Tiến Hòa, Nguyễn Văn Luyện, Nguyễn Thùy Linh, Bùi Thị Lan Anh, Đỗ Huy Dương, Vũ Thị Hồng Dương, Nguyễn Thanh Bình, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Trần Hiển

Tóm tắt:
Người nhiễm HIV có nguy cơ nhiễm các vi rút lây truyền qua đường máu khác, phổ biến nhất là đồng nhiễm vi rút viêm gan B (HBV) và vi rút viêm gan C (HCV). Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các yếu tố làm tăng tình trạng nhiễm HIV, HBV, HCV ở người nghiện chích ma túy (NCMT) và phụ nữ bán dâm (PNBD) tại Hà Nội trong 3 năm (2008-2010). Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV, HBV và HCV ở đối tượng NCMT lần lượt là: 43,0%, 16,5%, 60,0% (năm 2008), 37,7%, 15,1%, 57,3% (năm 2009); 30,5%, 12,5%, 69,3% (năm 2010). Tỷ lệ nhiễm HIV, HBV và HCV ở đối tượng PNBD lần lượt là: 45,0%, 14,5%, 24,6 (năm 2008); 39,0%, 9,0%, 27,0% (năm 2009); 25,5%, 9,5%, 21,5% (năm 2010). Tỷ lệ đồng nhiễm HIV/HBV, HIV/HCV và HIV/HBV/HCV ở người NCMT lần lượt là 15,1%, 86,0%, 10,5% (năm 2008); 6,7%, 92,0%, 6,7% (năm 2009); 16,4%, 100%, 16,4% (năm 2010). Tỷ lệ đồng nhiễm HIV/HBV, HIV/HCV và HIV/HBV/HCV ở PNBD lần lượt là 12,2%, 32,2%, 3,3% (năm 2008); 9,0%, 32,1%, 3,8% (năm 2009); 7,8%, 52,9%, 2,0% (năm 2010). Thời gian tiêm chích càng dài thì tỷ lệ nhiễm HIV, HBV, HCV ở NCMT càng cao; ở PNBD tỷ lệ nhiễm những vi rút này tăng đáng kể ở những người có tiêm chích ma túy. Cần tăng cường giám sát HBV, HCV cùng với giám sát HIV ở đối tượng NCMT và PNBD nhằm đề xuất các giải pháp dự phòng và điều trị phù hợp nhiễm HIV, HBV và HCV.
 
          20. Một số đặc điểm và nhu cầu chăm sóc, hỗ trợ, điều trị của người nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú ở 3 tỉnh Việt Nam, năm 2009  
 
Vũ Công Thảo, Nguyễn Thanh Long, Hồ Bá Do
 
Tóm tắt: Điều tra mô tả cắt ngang 900 bệnh nhân HIV/AIDS đang được quản lý tại PKNT ở 3 tỉnh, thành phố Việt Nam về đặc điểm và nhu cầu chăm sóc, hỗ trợ điều trị, chúng tôi nhận thấy: 86,67% ở độ tuổi 20 - 39 và 27,22% là nữ. Tỷ lệ lây nhiễm qua tiêm chích ma tuý và quan hệ tình dục là 80,11%, trong đó lây nhiễm qua quan hệ tình dục là 36,67%. Chỉ có 2,44% bệnh nhân được giới thiệu đến phòng khám ngoại trú (PKNT) qua nhóm tiếp cận cộng đồng và đồng đẳng viên. Có tới 82,78% bệnh nhân không ghi nhận có tiền sử nhiễm trùng cơ hội; 11,55% bệnh nhân đã điều trị ARV trước khi đăng ký tại PKNT; Có tới 41,67% bệnh nhân được xác định là giai đoạn III theo phân loại của tổ chức Y tế thế giới và vẫn còn 3,67% bệnh nhân chưa rõ giai đoạn AIDS.
 
          21. Nhiễm khuẩn phổi bệnh viện tại khoa hồi sức tích cực - Bệnh viện Bạch Mai: tỷ lệ, căn nguyên và các yếu tố nguy cơ
 
Trương Anh Thư, Nguyễn Việt Hùng, Nguyễn Gia Bình, Hồ Thị Minh Lý, Nguyễn Văn Bình
 
Tóm tắt: Nghiên cứu tiến cứu trên 477 bệnh nhân điều trị tại khoa Hồi sức tích cực - Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9/2008 đến tháng 5/2009 cho thấy tỷ lệ mới mắc nhiễm khuẩn phổi bệnh viện (NKPBV) chiếm 18,9%. Số NKPBV/1.000 ngày nằm viện và số NKPBV/1.000 ngày có thủ thuật xâm nhập đường thở theo trình tự: 11,6 và 27,4 – 72.1. Các yếu tố nguy cơ gây NKPBV qua phân tích hồi quy logistic: Đặt nội khí quản (OR = 7,0; p < 0,05), mở khí quản (OR = 6,3; p < 0,01), phẫu thuật (OR = 2,9; p < 0,05).4 loại tác nhân chính gây bệnh: Acinetobacter baumannii: 46,9%, Pseudomonas aeruginosa: 18,8%, Klebsiella pneumonia: 17,2% và Candida spp: 4,7%. Nghiên cứu cho thấy các thủ thuật xâm nhập đường thở là yếu tố nguy cơ quan trọng gây NKPBV và cần triển khai khai đồng bộ các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn tại khoa Hồi sức tích cực nhằm làm giảm NKPBV.

          22.  Kiến thức, thực hành và nhu cầu chăm sóc sau sinh của các bà mẹ đến sinh con tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Bệnh viện Đa khoa Ba Vì
 
Phạm Phương Lan, Vương Tiến Hòa, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Tuấn Hưng, Nguyễn Thị Thùy Dương

Tóm tắt: Nghiên cứu kiến thức, thực hành và nhu cầu chăm sóc sau sinh (CSSS) tại nhà trên 762 bà mẹ đến sinh con tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Bệnh viện Đa khoa Ba Vì cho thấy; (1) Kiến thức, thực hành CSSS của bà mẹ còn nhiều hạn chế. Về kiến thức CSSS nói chung chỉ có 36,2% bà mẹ đạt yêu cầu, trong đó kiến thức phát hiện bệnh: 38%, kiến thức kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ): 33,8%, lao động/vệ sinh: 21,7% và kiến thức dinh dưỡng đạt thấp 18,2%. Về thực hành nói chung, chỉ có 34,6% các bà mẹ đạt yêu cầu, vẫn còn 34,4% các bà mẹ không vệ sinh vú và âm hộ hàng ngày và 24,4% các bà mẹ kiêng không tắm. Tỷ lệ các bà mẹ uống bổ sung viên sắt và Vitamin A sau sinh rất thấp (15,8% và 0,4%). Thực hành cho bú mẹ có tỷ lệ cao là 97%, trong khi tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai lại thấp (26,1%). Các bà mẹ và trẻ sơ sinh trong nhóm nông thôn gặp các vấn đề về sức khoẻ nhiều hơn trong nhóm thành thị. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.05). (2) Nhu cầu được cung cấp thông tin khoa học về chăm sóc cho mẹ và con được quan tâm hàng đầu (75,9%). Tiếp theo là các nhu cầu về kiểm tra sức khỏe sau sinh (66,4%), được quan tâm chia sẻ (55,9%) và chăm sóc con tốt (55,5%). Để tăng cường chất lượng CSSS tại nhà cho bà mẹ và trẻ sơ sinh, việc nâng cao kiến thức, thực hành cho bà mẹ là một giải pháp quan trọng.


          23.  Một số biện pháp cải thiện điều kiện lao động tại các cơ sở sản xuất cơ khí vừa và nhỏ ở tỉnh Nam Định
 
Đào Phú Cường,Tạ Tuyết Bình, Hoàng Văn Tân, Phan Trọng Lân, Nguyễn Thị Thùy Dương

Tóm tắt: Bằng nghiên cứu mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp đánh giá trước sau, đề tài đã tiến hành nghiên cứu thực trạng và thử nghiệm một số giải pháp can thiệp nhằm cải thiện ĐKLĐ tại một số cơ sở sản xuất cơ khí vừa và nhỏ. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trình độ công nghệ chung của các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn lạc hậu. Nhiều vị trí lao động không an toàn, một số bộ phận truyền động của máy móc không được bảo vệ, hệ thống điện không đảm bảo. Có ít công nhân sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân. Một số yếu tố môi trường không đạt tiêu chuẩn cho phép: 80,7% mẫu ánh sáng, 88,8% mẫu tiếng ồn, 97,6% mẫu độ ẩm, 70% mẫu nhiệt độ không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép. Qua tiến hành một số giải pháp cải thiện điều kiện làm việc, đã có 953 cải thiện điều kiện làm việc được thực hiện: 32,8% cải tạo môi trường lao động; 24,8% cải thiện điều kiện tiện nghi phục vụ lao động... Giải pháp can thiệp có hiệu quả trong việc cải thiện ĐKLĐ. Phương pháp tiếp cận này là phù hợp và khả thi cao trong các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ.


          24.  Hiệu quả cải thiện chất lượng số liệu giám sát cúm tại huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2010
 
Nguyễn Thị Phương Liên, Nguyễn Thị Thu Yến, Phan Trọng Lân

Tóm tắt: Áp dụng phương pháp nghiên cứu can thiệp tại cộng đồng với huyện can thiệp là huyện Tân Hồng và huyện Hồng Ngự là huyện đối chứng, mô hình giám sát cúm được xây dựng và triển khai thí điểm từ 7/2009 – 6/2010. Sau 1 năm can thiệp kết quả nghiên cứu cho thấy: i) mô hình làm tăng độ bao phủ của hệ thống giám sát bằng cách huy động sự tham gia của mạng lưới y tế tư nhân và cộng đồng, độ nhạy đạt 62,6%- 89,1 cao hơn so với hoạt động giám sát thường quy tại trạm y tế và bệnh viện đa khoa; ii) Tăng tỷ lệ ca bệnh hội chứng cúm (HCC) được ghi nhận so với số liệu báo cáo từ 61% lên 100%, tăng giá trị chẩn đoán dương tính của hệ thống từ 45,1% lên 96,6% tại các cơ sở y tế một cách có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), %; iii) 92% ca bệnh HCC được báo cáo trong vòng 3 ngày kể từ khi khởi phát, 95,9% ca bệnh HCC có đầy đủ thông tin dịch tễ và 97,2 %- 97,9% báo cáo tuần/tháng được gửi đúng hạn và có đầy đủ thông tin; iv) tăng chỉ số hiệu quả cải thiện tính đúng hạn (33,3% và 16,1%) và tính đầy đủ (94,6% và 36,4%) của 26 bệnh truyền nhiễm khác so với huyện đối chứng (p<0,05). Mô hình giám sát cúm được triển khai lồng ghép vào hệ thống giám sát định kỳ nên đảm bảo khả năng duy trì của hệ thống. Các hoạt động can thiệp này đã đáp ứng nhu cầu cấp bách trong việc cải thiện chất lượng hoạt động giám sát ở các tỉnh nghèo, vùng biên giới và khó khăn. 


          25.  Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức thanh toán theo định suất đến chi phí và chất lượng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại Bệnh viện đa khoa Mường Lát - Thanh Hóa
 
Trần Quang Thông, Trương Việt Dũng, Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Tóm tắt: Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả, so sánh trước sau có đối chứng nhằm so sánh tỷ lệ gia tăng chi phí và chất lượng khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế (KCB BHYT) tại 02 bệnh viện tuyến huyện khu vực miền núi là bệnh viện (BV) Mường Lát và BV Quan Sơn tỉnh Thanh Hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ gia tăng tổng chi phí KCB BHYT năm 2009 so với năm 2008, Mường Lát thanh toán theo định suất ít hơn Quan Sơn thanh toán theo phí dịch vụ (5,3% và 55,1%); trong đó tỷ lệ gia tăng chi phí KCB tại BV Mường Lát giảm 5,5%, BV Quan Sơn tăng 48,3%. Tỷ lệ gia tăng chi trung bình 01 thẻ/năm chung các nhóm đối tượng Mường Lát giảm 2,5%, Quan Sơn tăng 37,2%. Chất lượng KCB BHYT tại hai bệnh viện Mường Lát và Quan Sơn không thấy có sự khác biệt.


          26.  Tỉ lệ mang một số gen kháng Cephalosporin thế hệ 3 và Quinolon trên Plasmid của Klebsiella pneumonia
egây nhiễm khuẩn đường hô hấp tại Bệnh viện Nhi Trung ương, 2009 - 2010
 
Bùi Thị Mùi, Lê Thị Ánh Hồng, Nguyễn Thanh Liêm, Deongeun yong

Tóm tắt: 107 chủng Klebsiella pneumoniae có men b-lactamase phổ rộng (ESBLs),phân lập từ các bệnh phẩm đường hô hấp ở bệnh nhân tsơ sinh đến 6 tuổi, nằm điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương (07/2009 – 07/2010), được xác định tỷ lệ mang một số gen kháng Cephalosporin thế hệ 3 (TEM,SHV,CTX-M 3,CTX-M 9) và quinolon (qnr) nằm trên plasmidbằng kỹ thuật PCR (polyme chain reaction) và kỹ thuậtSouthern Blot. Kết quả cho thấy, tỷ lệ mang SHV là 88,8%; TEM: 80,4%; CTX-M-3: 30,8%; CTX-M-9: 73,8% (CTX-M: 92,5%); tỷ lệ mang qnrA: 0,9%; qnrB: 6,5%; qnrS: 30,8% (qnr: 38,3%). Các chủng đồng thời mang nhiều gen kháng chiếm tỷ lệ: CTX-M+SHV+TEM(85%); CTX-M-3+ CTX-M-9 (10,3%); CTX-M-3+CTX-M-9+SHV+TEM (8,4%); qnr+CTX-M+SHV+TEM (22,4%).


          27.  Thực trạng nhân lực, cơ sở vật chất và thực hành vệ sinh tay trong kiểm soát nhiễm khuẩn tại một số bệnh viện ở thành phố Hà Nội
 
Thẩm Chí Dũng, Phạm Ngọc Đính, Lê Hồng Hinh, Nguyễn Trần Hiển, Phan Thị Ngà, Lương Minh Tân, Holly Seale và C. Raina MacIntyre

Tóm tắt:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại 74 khoa, là các đơn vị có nguy cơ cao lây truyền tác nhân vi sinh gây bệnh đường hô hấp, thuộc 15 bệnh viện tại Hà Nội trong 3 tháng (9-11/2010). Mục tiêu nhằm mô tả thực trạng về cơ sở vật chất, nhân lực và thực hành vệ sinh tay áp dụng tại các đơn vị này. Kết quả cho thấy có tổng số 560 bác sỹ (8 người/khoa), 1.251 điều dưỡng viên (17 người/khoa) tại 74 khoa tham gia nghiên cứu. Một điều dưỡng viên trung bình chăm sóc khoảng 10 người bệnh. Tỷ lệ các khoa tổ chức tiêm vắc xin phòng cúm cho nhân viên y tế là 18,9%. Trung bình có 30 giường bệnh/khoa (95%CI: 25-36). Có 40,5% số khoa có phòng một giường. Chậu rửa tay, bồn rửa tay và xà phòng chủ yếu được đặt bên trong buồng bệnh chiếm tỷ lệ tương ứng là 59,5% và 56,8%; ở dọc hành lang (18,9% và 20,3%). Sử dụng xà phòng diệt khuẩn với nước thường xuyên chiếm 62,2% và dung dịch sát khuẩn tay nhanh (32,4%). Biện pháp làm khô tay chủ yếu sử dụng khăn vải dùng nhiều lần (50,0%), trong khi khăn giấy dùng một lần chỉ chiếm 18,9%.
 
 
Tin tiếp theo





Hội Y học Dự phòng Việt Nam

Tạp chí Y học Dự phòng

Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP

Tiêm chủng mở rộng QG
Quảng cáo














Thiết kế website