Thời tiết











  Các số báo đã phát hành năm 2011
Danh sách các bài báo đăng tại Tập XXI, số 6 (124) 2011
 
Danh sách các bài báo đăng tại Tập XXI, số 6 (124) 2011 Phụ bản

Số đặc biệt kỷ niệm 120 năm thành lập

Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh (1891-2011)

 

          1.  Kết quả ban đầu của mô hình ước tính và dự báo HIV/AIDS khu vựa phía Nam
 
Ngô Minh Mẫn, Nguyễn Vũ Thượng

Tóm tắt: Dùng ngôn ngữ Matlab xây dựng mô hình toán để ước tính và dự báo dịch HIV/AIDS của khu vực phía Nam. Mô hình này thuộc dạng “deterministic model”, tập trung vào 5 nhóm nguy cơ : Nghiện chích ma túy (IDU), khách làng chơi(Client), đồng tính nam(MSM), phụ nữ bán dâm (FSW),Phụ nữ trưởng thành(W); tình hình dịch của từng nhóm được mô tả bằng mô hình SIR, đồng thời có xét đến sự giao nhau giữa các nhóm Client ,MSM, FSW với nhóm IDU. Việc ước tính số người gia nhập nhóm nguy cơ hằng năm sẽ được tính thông qua mô hình dân số và ước tính tỷ lệ nhóm nguy cơ trong dân số, mô hình dân số được dùng là logistic growth.Mô hình được điều chỉnh phù hợp với số liệu giám sát phát hiện AIDS và giám sát trọng điểm khu vực phía nam.


          2.  HIV và hành vi nguy cơ ở quần thể nam nghiện chích ma túy tỉnh Đồng Nai


Nguyễn Duy Phúc, Khưu Văn Nghĩa, Nguyễn Quang Bảo,Phạm Duy Quang, Phạm Đăng Đoan Thùy, Trần Ngọc Hữu, Hồ Hoàng Cảnh, Trần Nguyên Đức, Nguyễn Vũ Thượng

Tóm tắt: Mục tiêu: xác định tỷ lệ hiện nhiễm HIV và hành vi nguy cơ ở nam NCMT tại Đồng Nai, 2010. Phương pháp: một nghiên cắt ngang được tiến hành trên 400 nam NCMT tại Đồng Nai trong năm 2010. Người NCMT được phỏng vấn về một số yếu tố xã hội, hành vi và xét nghiệm HIV. Kết quả: tỷ lệ hiện nhiễm HIV là 16%. Hơn 1/2 có kiến thức cần thiết về HIV. Tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm (BKT) trong 6 tháng qua là 14%. Tỷ lệ luôn sử dụng BCS với phụ nữ mại dâm (PNMD) trong 12 tháng qua là 59%. Phân tích hồi qui đa biến cho thấy NCMT có tuổi từ 25 trở lên, thu nhập dưới 2 triệu/tháng, thời gian tiêm chích từ 5 năm trở lên, có kiến thức cần thiết về HIV có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn. Kết luận: HIV khá cao ở người NCMT Đồng Nai. Cần tăng cường chương trình giáo dục và can thiệp giảm tác hại ở NCMT, đặc biệt chú trọng đến các yếu tố nguy cơ được tìm thấy trong nghiên cứu này.  


          3.  Các yếu tố tương quan đến hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy tại tỉnh Vĩnh Long, 2007


Khưu Văn Nghĩa, Nguyễn Vũ Thượng, Phạm Duy Quang, Phan Thu Hương, Nguyễn Thanh Long, Bùi Hoàng Đức,  Nguyễn Duy Phúc, Nguyễn Quang Bảo, Trần Văn Út, Lê Văn Việt, Trần Ngọc Hữu

Tóm tắt: Mục tiêu: Xác định liệu một số yếu tố có tương quan đến hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy (NCMT). Phương pháp: Điều tra cắt ngang trên 360 người NCMT tại Vĩnh Long, 7-9/2007, bằng bộ câu hỏi chuẩn thức. Phương pháp phân tích hồi quy đa biến được sử dụng nhằm đánh giá mối tương quan giữa các yếu tố gia đình và xã hội với hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV, đồng thời kiểm soát một số yếu tố gây nhiễu. Kết quả: Tuổi càng cao và càng nhiều bạn tình có tương quan với việc sử dụng BCS không thường xuyên; nhưng, trình độ học vấn cao hơn thì sử dụng BCS thường xuyên hơn. Tương tự, tuổi, trình độ học vấn và kiến thức HIV/AIDS cao có xu hướng ít dùng chung BKT trong khi nhận thức rõ về tình trạng nhiễm HIV của bản thân và thời gian tiêm chích dài có tương quan với việc dùng chung BKT nhiều hơn. Tham dự câu lạc bộ tương quan với việc sử dụng bao cao su (BCS) thường xuyên hơn; việc nhận hỗ trợ từ đồng đẳng viên và sống cùng gia đình có xu hướng ít dùng chung bơm kim tiêm (BKT) hơn. Kết luận: Các yếu tố được tìm thấy có tương quan với hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở quần thể NCMT trong nghiên cứu này cần được quan tâm và ứng dụng trong việc xây dựng chương trình can thiệp giảm tác hại ở quần thể NCMT.


          4.  Các yếu tố ảnh hưởng sự lây nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mại dâm (PNMD) tại tỉnh Vĩnh Long, 2009


Phan Thanh Yên Thảo

Tóm tắt: Bối cảnh: Nghiên cứu này được đặt ra với mục đích chính là xác định sự ảnh hưởng của yếu tố nguy cơ làm lây nhiễm HIV trong quần thể PNMD. Phương pháp: Sử dụng dữ liệu thứ cấp từ một nghiên cứu cắt ngang KABP về HIV/AIDS ở 400 PNMD độ tuổi từ 16 - 57 ở Vĩnh Long năm 2009. Kết luận và kiến nghị: Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng nhiễm HIV và nhận thức nguy cơ, giá thành thấp và tiêm chích ma túy. PNMD có tiêm chích ma túy, tự cho rằng mình có nguy cơ nhiễm HIV cao và giá thành thấp có nhiều khả năng bị nhiễm HIV hơn so với nhóm không tiêm chích ma túy, tự nhận thức nguy cơ thấp, giá thành cao. Từ đó, có các khuyến nghị thực tế như: thiết lập Trung tâm tư vấn cho PNMD để họ có thể chia sẽ kinh nghiệm và khó khăn trong cuộc sống của họ, tăng cường hình thức giáo dục thông qua đồng đẳng viên để cung cấp thông tin về HIV/AIDS, kiến thức, kỹ năng sống, cấp phát bao cao su và bơm kim tiêm miễn phí cho PNMD.


          5.  HIV và các yếu tố ảnh hưởng đến việc dùng bao cao su trong quần thể nam quan hệ tình dục đồng giới tại An Giang


Nguyễn Quang Bảo, Phạm Duy Quang, Hoàng Quốc Cường, Khưu Văn Nghĩa, Phan Thu Hương, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Duy Phúc, Mai Hoàng Anh, Trần Thọ Anh, Trần Ngọc Hữu, Nguyễn Vũ Thượng

Tóm tắt: Mục tiêu: Xác định tỷ lệ hiện nhiễm HIV, một số hành vi nguy cơ liên quan đến lây nhiễm HIV và các yếu tố ảnh hưởng đến việc dùng bao cao su ở quần thể nam quan hệ tình dục (QHTD) với nam (MSM). Phương pháp: 386 MSM tham gia trong nghiên cứu cắt ngang (phương pháp chọn mẫu theo các tụ điểm dựa trên bản đồ điểm nóng) được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi chuẩn thức tại An Giang giữa 9/2009 và 10/2009.Kết quả: Tỉ lệ lưu hành HIV ở quần thể MSM là 6,3%. Hơn 54% tự nhận là “bóng lộ”, xấp xỉ 3% “bóng kín” và 43% là “cộng”. Đa số MSM còn khá trẻ (trung bình 22,3 và hơn 70% nhỏ hơn 25 tuổi). Tỷ lệ sử dụng bao cao su (BCS) thường xuyên khi QHTD với bạn tình nam rất thấp (20%), 36% MSM có quan hệ tình dục với khách hàng nam, 13% sử dụng thuốc lắc và hơn 16% có tiêm chích ma túy, trong đó dùng chung bơm kim tiêm (BKT) khoảng 6%. Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy MSM QHTD với cả nam và nữ (OR=1,91; KTC95%: 1,07-3,39) và MSM dùng thuốc lắc (OR=2,69; KTC95%: 1,35-5,37) có xu hướng dùng BCS thường xuyên hơn. Kết luận: Tỉ lệ hiện nhiễm HIV, các hành vi nguy cơ liên quan đến lây nhiễm HIV và các yếu tố tương quan với hành vi dùng BCS được tìm thấy trong nghiên cứu này cho thấy phải nhanh chóng triển khai chương trình can thiệp giảm lây truyền HIV trong MSM.


         
6.  HIV và kiến thức, hành vi liên quan đến lây nhiễm HIV của phạm nhân trại giam Cái Tàu - tỉnh Cà Mau


Võ Hoàng Luân,
Lê Việt Hận, Chung Bảo Lê Quang, Dương Trung Thu
 
Tóm tắt: Mục tiêu: Xác định tỷ lệ hiện nhiễm HIV và kiến thức, hành vi liên quan đến tình trạng nhiễm HIV của tù nhân trại giam Cái Tàu, Cà Mau, năm 2009.Phương pháp: nghiên cứu cắt ngang được thực hiện ở 1200 phạm nhân với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, phỏng vấn bằng bộ câu hỏi và lấy máu để xét nghiệm HIV. Kết quả:Tỉ lệ lưu hành HIV trong phạm nhân là 5,4%. Trình độ hoc vấn thấp và không nghề nghiệp buôn bán và thất nghiệp chiếm đa số. Nhiều phạm nhân không biết bất kì đường lây truyền HIV nào, sử dụng BCS thường xuyên khi QHTD rất thấp (6,0%). Tỉ lệ sử dụng ma túy cao (26,4), trong đó có 69,7% sử dụng chung BKT. Xăm mình trong trại giam chiếm tỉ lệ cao. Kết luận: phạm nhân trại giam Cái Tàu có nhiều hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV. Kết quả từ nghiên cứu này là cơ sở để triển khai các biện pháp can thiệp giảm lây truyền HIV đặc biệt cho nhóm phạm nhân. Chương trình can thiệp này cũng có thể giúp ích cho phạm nhân khi trở lại hòa nhập với cộng đồng.

          7.  Kiến thức - Thái độ - Thực hành về phòng chống HIV/AIDS của công nhân Công ty TNHH CNTP Sài Gòn Liwayway Bình Dương, tháng 04/2010
 
Nguyễn Kiều Uyên, Nguyễn Thị Thúy Minh, Nguyễn Ngọc Thủy, Nguyễn Thị Mỹ Lệ, Thái Thị Hường

Tóm tắt: Đặt vấn đề: HIV/AIDS là đại dịch nguy hiểm toàn cầu, tuy nhiên còn không ít người hiểu đầy đủ, đặc biệt là đối tượng công nhân với đa số là dân nhập cư, trình độ hạn chế, đời sống còn gặp nhiều khó khăn và có sự đan xen nhiều yếu tố nguy cơ tiềm ẩn làm lan truyền dịch HIV/AIDS. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ công nhân có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về phòng chống HIV/AIDS; mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành với các đặc điểm dân số xã hội của đối tượng,mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với thực hành về phòng chống HIV/AIDS của đối tượng.Phương pháp: nghiên cứu cắt ngang mô tả, sử dụng bộ câu hỏi tự điền cho 600 công nhân Công ty TNHH Sài Gòn Liwayway.Kết quả: 44,66% công nhân có kiến thức chung đúng về HIV/AIDS , 58,97% công nhân có thái độ chung đúng về HIV/AIDS,56,55% công nhân có thực hành đúng về phòng chống HIV/AIDS. Có mối liên quan giữa kiến thức về phòng chống HIV/AIDS với trình độ học vấn, tôn giáo, với nguồn tiếp nhận thông tin về phòng chống HIV/AID. Có mối liên quan giữa thái độ đúng về HIV/AIDS với nhóm tuổi,giới tính, tôn giáo và trình độ học vấn. Có mối liên quan giữa thực hành đúng về HIV/AIDS với tôn giáo, tình trạng hôn nhân .Có mối liên quan giữa kiến thức đúng với thái độ đúng về HIV/AIDS. Kết luận: Có mối liên quan giữa kiến thức với thái độ đúng về phòng, chống HIV/AIDS.


          8.  Đánh giá mô hình “Tham vấn phối hợp giữa nhân viên y tế và nhân vi
ên xã hội” của chương trình phòng ngừa lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con tại Bệnh viện Hùng Vương (2010-2011)

Vũ Thị Nhung

Tóm tắt: Mục tiêu nghiên cứu: Một mô hình tham vấn mới hiện nay đã bắt đầu triển khai tại BV Hùng Vương , trong đó, công tác tham vấn và tiếp cận không chỉ do cán bộ y tế thực hiện mà còn có sư tham gia hỗ trợ của nhân viện xã hội là người có HIV (+) nhằm giúp giảm tỷ lệ mất dấu (hiện nay là 30%) , nhờ đó có thể đánh giá hiệu quả chương trình PLTMC chính xác hơn. Đề tài này thực hiện nhằm đánh giá mô hình nói trên. Phương pháp tiến hành: Nghiên cứu dọc tiền cứu tất cả các đối tượng đủ tiêu chuẩn được đưa vào chương trình phòng lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con đến sanh tại Bệnh viện Hùng Vương . Thời gian nghiên cứu từ 1/9/2010 đến 30/4/2011 . Kết quả: Trong thời gian từ tháng 9 / 2010 đến tháng 5/ 2011đã thực hiện được 109 trường hợp sản phụ có HIV (+) đến sanh tại Bệnh viện Hùng Vương. Tỷ lệ mất dấu sau 1 tháng là 3,7% . và đến 6 tháng sau sanh mất dấu 9,2% . Qua đó biết được số trường hợp trẻ có HIV RNA (+) là 3,8%.


         
9.  Hiệu quả của chương trình bơm kim tiêm sạch trong giảm lây truyền HIV ở quần thể nghiện chích ma túy tại Sóc Trăng


Nguyễn Vũ Thượng, Nguyễn Duy Phúc,Trần Ngọc Hữu, Phạm Duy Quang, Trương Hoài Phong, Lê Minh Toàn, Trương Xuân Liên, Nguyễn Thị Kim Tiến,Trần Phúc Hậu và Khưu Văn Nghĩa

Tóm tắt:
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả chương trình (CT) bơm kim tiêm (BKT) sạch trên việc giảm lây truyền HIV ở người nghiện chích ma túy (NCMT) tại Sóc Trăng. Phương pháp: Hai điều tra cắt ngang được thực hiện vào thời điểm trước (12/2003; n=500 NNMT; 278 NCMT trong cộng đồng) và sau (8/2005; n=250 NCMT trong cộng đồng) khi triển khai CT BKT sạch. Thông tin về dân số xã hội và hành vi liên quan đến HIV/STI, kết quả xét nghiệm HIV, giang mai (GM) và viêm gan C (VGC) được thu thập. Chiều hướng một số kiến thức, hành vi và HIV, HCV được đánh giá sau khi kiểm soát một số yếu tố gây nhiễu. Kết quả: Một số kiến thức về HIV/STI gia tăng. Dùng BKT mới khi tiêm chích tăng từ 73,9% lên 90,8%. Triệu chứng liên quan STI giảm từ 63% xuống 14,4%. HIV có chiều hướng giảm từ 16,2% xuống 5,6%; HT VGC giảm từ 24,8% xuống 9,2%; HT GM từ 4,3% xuống còn 0,8%. Kết luận: Có thể nhờ can thiệp màhành vi an toàn trong tiêm chích được cải thiện, HIV/VGC và GM có chiều hướng giảm ở NCMT , nhưng cũng có thể một phần do cách tiến hành chọn mẫu hay sự biến động.
 
          10. Kết quả ban đầu về chăm sóc điều trị ARV và các chỉ số cảnh báo sớm HIV kháng thuốc ở Khu vực phía Nam, 2010

Tóm tắt: Mục tiêu: Bước đầu đánh giá hiệu quả điều trị HIV/AIDS dựa vào các chỉ số quốc gia về chăm sóc & điều trị và các chỉ số cảnh báo sớm HIV kháng thuốc do Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo. Phương pháp: Các số liệu về kết quả điều trị ARV cũng như chỉ số cảnh báo sớm HIV kháng thuốc (CBS HIVKT) được thu thập ở 20 điểm điều trị thuộc 9 tỉnh thành phía Nam: Tp.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh, Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giangtừ 11/2010 –01/2011 thông qua sổ quản lý điều trị ARV. Kết quả: Nhìn chung tỷ lệ BN duy trì điều trị, tử vong, bỏ trị sau 12 tháng lần lượt là 83.3%, 10,4% và 5,1%; và ở bệnh nhi, tỷ lệ lần lượt là 78,2%, 14,8% và 6,5%. Phần lớn (66%) bệnh nhân bắt đầu điều trị ở giai đoạn khá muộn và điều này ảnh hưởng đến tử vong sau đó. Kết luận: Kết quả ban đầu có đáp ứng với yêu cầu của WHO; một số điểm chưa đáp ứng yêu cầu về duy trì điều trị, bỏ trị và tử vong. Cần đẩy mạnh việc quản lý, phát hiện, chẩn đoán HIV sớm và điều trị kịp thời. 


         
11.  Mô tả hiệu quả điều trị ARV và các yếu tố nguy cơ thất bại điều trị phác đồ ARV bậc 1 ở trẻ nhiễm HIV


Vũ Thiên Ân

Tóm tắt: Hiện nay vấn đề kháng ARV bậc 1 ở trẻ nhiễm HIV rất được quan tâm. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu hồi cứu mô tả có nhóm chứng tại phòng khám ngoại trú HIV – bệnh viện Nhi Đồng 2 trên các bệnh nhi nhiễm HIV có điều trị ARV nhằm mô tả các nhiễm trùng cơ hội thường gặp, xác định tỷ lệ thất bại điều trị phác đồ cũng như mô tả các yếu tố nguy cơ của thất bại điều trị bậc 1. Kết quả: Thất bại điều trị ARV bậc 1 hầu hết được phát hiện qua CD4 giảm theo tiêu chuẩn của WHO. Có 88,8% trường hợp được làm viral load khi nghi ngờ thất bại ARV bậc 1 và 61,1% số trẻ được làm genotype trước khi đổi sang phác đồ bậc 2. Các yếu tố nguy cơ thất bại điều trị bậc 1 là bắt đầu điều trị ARV bậc 1 trễ về lâm sàng (độ 3,4), tuân thủ điều trị kém, viêm gan siêu vi B kèm theo (p < 0,05), nhóm tuổi < 12 tháng (p < 0,1). Các nhiễm trùng cơ hội thường gặp: sẩn ngứa, lao phổi, suy dinh dưỡng mức độ vừa và nặng, viêm phổi tái diễn, tiêu chảy kéo dài…


          12.  Kiến thức và sự tuân thủ của bệnh nhân người lớn bị nhiễm virus Viêm gan B mạn khám tại Viện Pasteur Tp. Hồ Chí Minh


Nguyễn Minh Ngọc, Bùi Hữu Hoàng

Tóm tắt: Cơ sở: Nhiễm virus viêm gan B (VGB) mạn có thể dẫn đến suy gan, xơ gan, ung thư biểu mô tế bào gan vào khoảng 15-40% người nhiễm bệnh. Do đó, người nhiễm virus mạn cần khám định kỳ mỗi 6 tháng để tầm soát biến chứng. Mục tiêu: Đánh giá kiến thức và xác định tỷ lệ tuân thủ theo dõi bệnh của bệnh nhân người lớn nhiễm virus VGB mạn. Phương pháp: Mô tả cắt ngang. Kết quả: 90,3% bệnh nhân (BN) biết rằng virus VGB có khả năng lây nhiễm, 58,5% biết hơn hai nguồn lây trở lên. 94,3% BN biết có thể phòng ngừa lây nhiễm bằng vaccin. 84,6% BN biết vaccin nên tiêm cho tất cả trẻ em mới sinh ra. 90,3% BN biết khi nhiễm virus VGB có nhiều biến chứng. 53,5% người biết bệnh VGB không thể điều trị khỏi hoàn toàn. 79,3% biết rằng ở người nhiễm virus VGB mạn nên theo dõi bệnh định kỳ mỗi 6 tháng. 63,8% BN thực thiện tuân thủ theo dõi bệnh định kỳ. Có mối liên quan giữa tuân thủ và tái khám, ở những người có kiến thức về thời gian theo dõi bệnh và biến chứng của bệnh, tuân thủ cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có kiến thức. 63,5% BN cho biết đã từng sử dụng thuốc. 63,8% biết thông tin về bệnh VGB từ bác sỹ. Kết luận: Kiến thức về biến chứng và thời gian theo dõi bệnh rất quan trong đối với người nhiễm virus VGB mạn. Bác sỹ giữ vai trò quan trọng trọng việc nâng cao kiến thức của người bệnh. Theo dõi bệnh định kỳ giúp tầm soát và xử trí sớm biến chứng.


          
13.  Chuẩn bị mẫu nội kiểm từ ống lấy mẫu Cyto-Chex trong xét nghiệm đếm tế bào Lympho T CD4


Lê Chí Thanh, Trần Tôn, Trương Thị Xuân Liên

Tóm tắt: Xét nghiệm đếm tế bào lympho T CD4 (LTCD4) là một trong những xét nghiệm quan trọng trong việc đánh giá tình trạng miễn dịch, chỉ định và theo dõi đáp ứng điều trị ở bệnh nhân nhiễm HIV. Để đảm bảo tính chính xác của xét nghiệm thì việc sử dụng mẫu nội kiểm trong quy trình là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, do các mẫu chứng nội (IQC) thương mại có giá thành tương đối cao nên hiện có rất ít phòng xét nghiệm LTCD4 sử dụng mẫu IQC để kiểm soát quy trình làm xét nghiệm. Viện Pasteur Tp. HCM đã tiến hành chuẩn bị mẫu IQC cho xét nghiệm LTCD4 từ mẫu máu cố định trong ống lấy mẫu Cyto-Chex. Kết quả: mẫu máu cố định, lưu giữ ở 40C có tính ổn định trong thời gian 40 ngày về hình thái và sự biểu hiện của thụ quan CD4 trên bề mặt tế bào lympho T. Kết quả xét nghiệm LTCD4 tại viện Pasteur TP. HCM cho thấy các giá trị về số lượng tuyệt đối và %LTCD4 đều không có sự dao động lớn đồng thời tương đồng với kết quả đánh giá mở rộng tại Bệnh viện PNT và Bệnh viện Bệnh nhiệt đới. Như vậy, mẫu máu cố định từ ống lấy mẫu Cyto-Chex có thể sử dụng làm mẫu IQC cho xét nghiệm LTCD4 và cần được đánh giá thêm trên thực địa.


         
14.  Nghiên cứu phân bố HLA-DQA1 ở người Kinh khỏe mạnh và người mắc ung thư biểu mô tế bào gan, ung thư phổi sinh sống tại khu vực Bình Trị Thiên


Trần Đình Bình, Ngô Viết Quỳnh Trâm, Huỳnh Thị Hải Đường, Lê Phi Long

Tóm tắt: Mục tiêu: đánh giá đặc trưng phân bố alen HLA-DQA1 trên người Kinh khỏe mạnh và những người mắc ung thư biểu mô tế bào gan, ung thư phổi ở khu vực Bình Trị Thiên. Đối tượng và phương pháp: Sử dụng kỹ thuật PCR-SSP để phân tích hệ kháng nguyên HLA-DQA1 của 318 người khỏe mạnh và với 38 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan, 37 bệnh nhân ung thư phổi là dân tộc Kinh, tuổi từ 7 - 80, sinh sống tại khu vực Bình Trị Thiên. Kết quả: tần suất tìm thấy các alen HLA-DQA1 chung cho các đối tượng là 90,6%, các alen được tìm thấy với tần suất cao nhất là DQA1*0101 (25,2%), DQA1*0104 (20,4%), có 2 loại alen hoàn toàn không tìm thấy là DQA1*0302, DQA1*0401. Chỉ có người Kinh ở khu vực Bình Trị Thiên tìm thấy alen DQA1*0104. Đối với ung thư biểu mô tế bào gan, người mang alen DQA1*0301 có khả năng bảo vệ tránh nguy cơ mắc ung thư biểu mô tế bào gan (OR = 1,67, 95% CI từ 1,04-2,25). Ngược lại, người mang alen DQA1*0501 có thể là báo hiệu nguy cơ mắc ung thư biểu mô tế bào gan (OR=4,18, 95% CI từ 3,19-5,05). Đối với ung thư phổi, người mang alen DQA1*0101 và alen DQA1*0102 có khả năng bảo vệ tránh nguy cơ mắc ung thư phổi (OR=1,12 và OR=1,18 (95% CI ) cho từng loại alen tương ứng trên). Tuy nhiên, người mang alen DQA1*0501 có thể là báo hiệu nguy cơ mắc ung thư phổi (OR=3,22, 95% CI từ 2,24-4,15). Kết luận: các alen được tìm thấy với tần suất cao nhất là DQA1*0101, DQA1*0104, chỉ ở người Kinh miền Trung có tìm thấy alleles HLA-DQA1*0104. Người mang alen DQA1*0301 có khả năng bảo vệ tránh nguy cơ mắc ung thư biểu mô tế bào gan, người mang alen DQA1*0501 có thể là báo hiệu nguy cơ mắc ung thư biểu mô tế bào gan; người mang alen DQA1*0101 và alen DQA1*0102 có khả năng bảo vệ tránh nguy cơ mắc ung thư phổi, người mang alen DQA1*0501 có thể là báo hiệu nguy cơ mắc ung thư phổi.


          
15.  Giá trị định nghĩa ổ dịch sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue


Đỗ Kiến Quốc, Lương Chấn Quang, Vũ Thị Quế Hương, Cao Thị Mỹ Nhơn, Hồ Trung Tuyến, Trần Ngọc Hữu

Tóm tắt: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại tỉnh Bến Tre từ tháng 10/2010 đến tháng 06/2011 để xác định các giá trị của định nghĩa ổ dịch sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue (SD/SXHD) hiện hành. Tất cả bệnh nhân SD/SXHD của thành phố Bến Tre được thu tuyển vào nghiên cứu và xét nghiệm xác định nhiễm Dengue. Kỹ thuật xét nghiệm phát hiện kháng nguyên NS1 được áp dụng cho bệnh nhân có số ngày sốt dưới 5 ngày và MAC-ELISA được áp dụng cho bệnh nhân có số ngày sốt trên 5 ngày. Toàn bộ bệnh nhân được thu tuyển vào nghiên cứu được xếp loại thuộc ổ dịch hay không thuộc ổ dịch dựa vào định nghĩa ổ dịch của dự án phòng chống sốt xuất huyết (DAPCSXH), đồng thời nhóm bệnh nhân này cũng được xếp loại ổ dịch dựa theo tiêu chuẩn xác định ổ dịch do nghiên cứu thiết lập (1 ấp có ổ dịch khi có sự hiện diện của trung gian truyền bệnh trên ngưỡng gây dịch: BI ≥ 20 và HI ≥ 5% và có 1 ca chẩn đoán xác định SD/SXHD). Đối chiếu các ổ dịch được xác định từ định nghĩa của DAPCSXH với các ổ dịch được xác định theo tiêu chuẩn của nghiên cứu để tính giá trị của định nghĩa ổ dịch SD/SXHD. Kết quả cho thấy định nghĩa xác định ổ dịch SD/SXHD hiện hành có độ nhạy là 73% (KTC95%: 63% - 83%), độ đặc hiệu là 85% (KTC95%: 79% - 91%), giá trị tiên đoán dương 74% (KTC95%: 64% - 83%), giá trị tiên đoán âm 84% (KTC95%78% - 90%). Các giá trị của định nghĩa ổ dịch này cho thấy hoạt động phòng chống dịch SXHD ở khu vực phía Nam chưa thật hiệu quả và lãng phí nguồn lực.


          16.  Khảo sát sự ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết đối với bệnh sốt xuất huyết tại tỉnh Khánh Hòa, 2001-2010


Hoàng Quốc Cường, Khoa T.D, Katie Anders, Lê Trung Nghĩa, Nguyễn Thị Hải Thu, Bùi Trọng Chiến, Cameron Simmons, Lương Chấn Quang, Trần Ngọc Hữu

Tóm tắt: Năm 2010, tỉnh Khánh Hòa đã xảy ra vụ dịch sốt xuất huyết (SXH) lớn nhất trong vòng 10 năm gần đây với gần 7000 ca sốt Dengue (SD) và sốt xuất huyết Dengue (SXHD). Để xác định mối tương quan giữa sự tăng số ca SD/SXHD và các yếu tố thời tiết ở Khánh Hòa, chúng tôi tiến hành phân tích sự liên quan về thời gian giữa 26.540 ca SD/SXHD và ba yếu tố thời tiết đó là: nhiệt độ trung bình theo tháng, độ ẩm trung bình theo tháng và lượng mưa trung bình theo tháng tại Khánh Hòa từ năm 2001 đến năm 2010 bằng phương pháp phân tích sóng (wavelet analysis). Số liệu dịch tễ học về SXH được thu thập tại Viện Pateur Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Số liệu thời tiết được cung cấp bởi Trung tâm khí tượng thủy văn Trung Ương tại Hà Nội. Để định lượng được mối tương quan giữa SXH và các yếu tố thời tiết, chúng tôi dùng phương pháp đồng pha và lệch pha trong wavelet analysis. Dịch SXH ở Khánh Hòa có cả chu kỳ một năm và chu kỳ 2-3 năm. Nhiệt độ trung bình, độ ẩm trung bình, lượng mưa trung bình tỉ lệ thuận với sự gia tăng số ca SD/SXHD tại Khánh Hòa. Trong chu kỳ một năm, nhiệt độ trung bình, độ ẩm và lượng mưa có cùng chu kỳ với số ca SD/SXHD tuy nhiên, đỉnh của SXH thường đến sau đỉnh của nhiệt độ khoảng 1-2 tháng, trong khi đó đỉnh của độ ẩm và lượng mưa lại đến trước đỉnh SXH 1-2 tháng. Trong chu kỳ nhiều năm, chỉ có lượng mưa, độ ẩm trung bình có chu kỳ nhiều năm với số ca SD/SXHD và đỉnh của hai yếu tố này cũng thường đến trước đỉnh của SXH. Qua nghiên cứu cho thấy các yếu tố thời tiết đóng vai trò rất quan trọng trong việc làm tăng số ca SD/SXHD tại Khánh Hòa.


          17.  Phân tích di truyền các vi-rút Dengue lưu hành ở khu vực phía Nam Việt Nam, 2001-2010


Vũ Thị Quế Hương, Vũ Đình Luân, Huỳnh Phương Thảo, Cao Minh Thắng, Vũ Thiên Thu Ngữ, Nguyễn Thị Công Dung, Bùi Chí Tâm, Huỳnh Thị Kim Loan, Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Phạm Thị Oanh, Bùi Thanh Huy, Trương Thị Hà, Lương Chấn Quang, Trần Ngọc Hữu

Tóm tắt: Nhằm khảo sát sự biến động di truyền của vi-rút dengue (DEN) gây bệnh sốt dengue/sốt xuất huyết dengue (SD/SXHD), một nghiên cứu dịch tễ học phân tử trên các chủng thuộc 4 týp huyết thanh của vi-rút DEN phân lập ở khu vực phía nam Việt Nam từ 2001 đến 2010 đã được tiến hành. ARN vi-rút của các chủng khảo sát được tách chiết trực tiếp từ huyết thanh bệnh nhân SD/SXHD hay các dịch nuôi cấy, định týp bằng RT-PCR với mồi Lanciotti, giải trình tự toàn bộ vùng gien vỏ (E) và phân tích so sánh với vi-rút DEN trên thế giới. Kết quả nghiên cứu cho thấy các chủng vi-rút DEN Việt Nam trừ vi-rút DEN-2 trong vòng 10 năm (2001-2010) không biến động nhiều về mặt di truyền, chủ yếu thuộc các genotýp I (DEN-1 và DEN-4) và genotýp II (DEN-3). Riêng vi-rút DEN-2 phân lập ở khu vực phía Nam Việt Nam đã ghi nhận sự chuyển đổi genotýp từ American/Asian sang Asian 1. Sự chuyển đổi genotýp này được cho rằng có liên hệ mật thiết với các vi-rút DEN-2 Thái Lan. Hơn nữa, nghiên cứu chúng tôi cũng đã chứng minh sự tiến triển di truyền tại chỗ và tốc độ tiến hóa tương đồng của các vi-rút DEN lưu hành ở khu vực phía nam Việt Nam so với các khu vực khác trên thế giới.


          
18.  Đặc điểm các Genotype của Dengue týp 1, Dengue týp 2 và Dengue týp 3 tại khu vực miền Trung, 2006 - 2007


Ngô Lê Minh Tâm, Trịnh Thị Xuân Mai, Nguyễn Bảo Triệu,Đoàn Thị Thanh Thủy, Diệp Thùy Dung, Lê Thị Kim Trang, Cao Thị Minh Nguyệt, Cao Minh Nga

Tóm tắt: Đặc điểm các genotype của virút DEN-1, DEN-2 và DEN-3 phân lập tại khu vực miền Trung (KVMT) năm 2006-2007 được nghiên cứu bằng cách phân tích trình tự gien E. Virút DEN-1 thuộc genotype I, cùng kiểu gien với miền Bắc Việt Nam-2006, miền Nam Việt Nam-2006 và -2007, Thái Lan-2002, Campuchia-2007 và Trung Quốc-2004. Trong cùng genotype I có sự đa dạng di truyền gien E, đó là sự khác nhau về không gian giữa các virút DEN-1 lưu hành ở các tỉnh KVMT (sự khác biệt nucleotid 0,2% - 3,6%) và khác nhau về thời gian giữa năm 2006-2007 của DEN-1 Quảng Nam, Bình Thuận và Phú Yên (sự khác biệt nucleotid 2,7% - 3,3%). Virút DEN-2 tồn tại 2 kiểu gien tại KVMT, đó là kiểu gien châu Á 1 và kiểu gien châu Mỹ/châu Á. Trong đó, kiểu gien châu Á 1 cùng genotype với DEN-2 miền Nam Việt Nam-2007 và Thái Lan-2004. Với kiểu gien này, DEN-2 khá bảo tồn về trình tự nucleotid (độ tương đồng nucleotid 98,9% - 100%), sự khác nhau giữa năm 2006 và 2007 thấp (khác biệt nucleotid là 0,6% - 1,5%). DEN-2 Quảng Ngãi-2006 có kiểu gien châu Mỹ/châu Á, cùng kiểu gien với miền Nam Việt Nam-1998 và Campuchia-2002. Virút DEN-3 thuộc genotype II, cùng kiểu gien với miền Nam Việt Nam, Đài Loan-2005, Campuchia-2006 và Thái Lan. Virút DEN-3 miền Trung Việt Nam ổn định về mặt di truyền và độ tương đồng nucleotid từ 98,9% - 100 %. Sự thay đổi axít min của virút DEN-3 xảy ra chủ yếu ở vùng kháng nguyên III (chiếm tỷ lệ 75% trong số các axit amin thay đổi).  


          19.  Tinh chế kháng thể đơn dòng và sản xuất cộng hợp của bộ sinh phẩm MAC-ELISA chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue


Đào Huy Mạnh, Huỳnh Thị Kim Loan, Vũ Đình Luân, Vũ Thị Quế Hương

Tóm tắt: Phản ứng MAC–ELISA phát hiện kháng thể IgM kháng vi-rút Dengue (DEN) là công cụ chủ yếu trong chẩn đoán bệnh DEN ở Việt Nam và trên thế giới. Cộng hợp IgG-HRPO là thành phần quan trọng trong bộ sinh phẩm MAC–ELISA chẩn đoán bệnh DEN nhưng không được thương mại hóa và dễ bị giảm hiệu giá khi vận chuyển. Quy trình nghiên cứu chế tạo và tinh chế kháng thể đơn dòng IgG SLE–6B6C kháng nhóm flavivi-rút và gắn với enzym HRPO đã được tiến hành nhằm chủ động tạo cộng hợp hiệu giá cao và ổn định cho bộ sinh phẩm MAC–ELISA sử dụng trong công tác chẩn đoán và nghiên cứu dịch tễ học sốt xuất huyết Dengue (SXHD) ở khu vực phía Nam Việt Nam. Hai phương pháp mới được áp dụng là 1) nuôi cấy tế bào hybridoma SLE–6B6C trên hệ thống CELLine CL350 và 2) tinh chế qua hệ thống máy sắc kí ái lực ÄKTA explorer sử dụng cột Hi trap Protein A. Phương pháp sau được cải tiến để đạt được sản lượng IgG chất lượng cao hơn. Việc đánh giá được thực hiện trên bộ huyết thanh chuẩn do Tổ chức Y tế Thế giới cung cấp (gồm 133 mẫu âm và 50 mẫu dương với IgM DEN). Nghiên cứu đã chế tạo thành công cộng hợp IgG SLE–6B6C gắn enzym HRPO ở hiệu giá chấp nhận được (độ pha loãng 1:5000) và độ tương đồng có thể so sánh với cộng hợp do CDC Hoa Kỳ cung cấp (với giá trị kappa ƙ = 89%).


          20.  Phát triển phương pháp vi trung hòa xác định kháng thể IgG trung hòa vi-rút Dengue-2


Nguyễn Thị Công Dung, Huỳnh Thị Kim Loan, Hoàng Thị Như Đào, Cao Minh Thắng, và Vũ Thị Quế Hương

Tóm tắt: Vi-rút dengue (DEN) là nguyên nhân gây ra bệnh sốt dengue/sốt xuất huyết dengue/hội chứng sốc dengue. Phương pháp vi trung hòa dựa trên nguyên lý là kháng thể IgG trong huyết thanh bệnh nhân trung hòa vi-rút DEN đã biết trước khi xác định hiệu giá bằng nuôi cấy tế bào Vero CCL-81 (ATCC) trên plate 96 giếng và phương pháp miễn dịch gắn men (ELISA). Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng vi-rút DEN-2 với hiệu giá 9,2.105 PFU/mL pha loãng ở 1/400, kháng thể đơn dòng IgG chuột kháng vi-rút DEN-2 pha loãng ở 1/4.000, kháng thể IgG dê kháng IgG chuột pha loãng ở 1/20.000. Các bước kỹ thuật đều được đánh giá và chuẩn hóa với độ lặp lại của phương pháp là 85,5%. Công thức quy đổi đưa về đại lượng chung được thiết lập nhằm so sánh với hiệu suất với chuẩn vàng là phương pháp trung hòa giảm đám hoại tử. Hệ số tương quan của hai phương pháp nhỏ hơn 1. Kết quả đạt được cho thấy phương pháp vi trung hòa có thể so sánh với phương pháp trung hòa giảm đám hoại tử trong việc xác định hiệu giá kháng thể IgG trung hòa vi-rút DEN-2.


          21.  Tính đặc hiệu của bộ mồi Lanciotti trong chẩn đoán virút Dengue 1 Việt Nam bằng phản ứng RT-PCR


Viên Trung Kiên, Vũ Đình Luân, Vũ Thị Quế Hương

Tóm tắt: Vi-rút dengue (DEN) thuộc họ Flaviviridae, giống Flavivi-rút, gây sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue (SD/SXHD) là gánh nặng bệnh tật được quan tâm trên toàn thế giới. Đến nay, phương pháp RT-PCR với bộ mồi của Lanciotti đã được áp dụng rộng rãi và được biết đến như là một phương pháp nhanh và chính xác trong chẩn đoán bệnh SD/SXHD và xác định týp vi-rút DEN. Tuy nhiên, hoạt động giám sát vi-rút học bệnh SD/SXHD thường niên của viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh cho thấy sự không tương đồng giữa kết quả phân lập vi-rút và RT-PCR về việc định danh týp vi-rút DEN-1 gây nhiễm từ năm 2007. Đây là týp vi-rút gây dịch chiếm ưu thế hiện nay. Có khả năng xảy ra sự bắt cặp nhầm lẫn giữa mồi ngược TS4 của Lanciotti với vi-rút DEN-1 gây nhiễm. Vì thế, nghiên cứu đã được tiến hành để xác minh vấn đề trên và tìm hiểu căn nguyên. Sáu chủng vi-rút DEN được chọn vào nghiên cứu bao gồm: vi-rút DEN-1 bình thường, vi-rút DEN-1 nghi ngờ và vi-rút DEN-4. Phân lập vi-rút và RT-PCR với mồi Lanciotti được tiến hành đồng thời để kiểm tra kết quả định danh các chủng vi-rút DEN nghiên cứu. Giải trình tự vùng gien C-prM và phân tích so sánh cho thấy sự xuất hiện biến chủng di truyền trong quần thể các chủng vi-rút DEN-1 gây dịch ở khu vực phía Nam và ảnh hưởng đến tính đặc hiệu của bộ mồi Lanciotti trong định danh vi-rút DEN-1 bằng RT-PCR.


         
22.  Khảo sát sự hiện diện của vi-rút Chikungunya ở khu vực phía Nam Việt Nam, năm 2010


Cao Minh Thắng, Vũ Thị Quế Hương, Hoàng Thị Như Đào, Phan Thị Kim Liên
 
Tóm tắt: Đặt vấn đề: Nhiễm vi-rút Chikungunya (CHIK) có biểu hiện lâm sàng gần như tương tự như sốt dengue/sốt xuất huyết dengue (SD/SXHD), do đó cần thiết khảo sát thêm căn nguyên vi-rút Chikungunya trên những ca nghi nhiễm vi-rút dengue lâm sàng ở khu vực phía Nam Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát sự hiện diện của kháng thể IgM kháng vi-rút CHIK trên những mẫu huyết thanh âm tính với vi-rút dengue ở khu vực phía Nam Việt Nam năm 2010. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. 621 huyết thanh bệnh nhân âm tính với vi-rút dengue và thu thập từ 17 tỉnh/thành phía Nam từ tháng 01 đến tháng 08 năm 2010. Huyết thanh này được xét nghiệm kháng thể IgM kháng vi-rút CHIK bằng kỹ thuật MAC-ELISA. Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ kháng thể IgM kháng vi-rút CHIK dương tính là 5,8% (36/621), và phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ vào các tháng mùa mưa (tháng 5-8), tập trung ở trẻ em dưới 15 tuổi. Kết luận:Có vai trò gây bệnh của vi-rút CHIK ở các bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng nghi nhiễm vi-rút DEN ở khu vực phía Nam.

          23.  Nghiên c
ứu đặc điểm dịch tễ học và một số yếu tố liên quan đến bệnh Tay - Chân - Miệng tại khu vực miền Trung, năm 2008 - 2009

Đỗ Mạnh Hùng, Trần Minh Như Nguyện

Tóm tắt: Bệnh TCM hiện nay đang là vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng trong công tác phòng chống bệnh truyền nhiễm. Trung bình mỗi năm cả nước xảy ra hàng chục ngàn trường hợp mắc và hàng chục ca chết. Tác nhân gây bệnh TCM là Entrovirus 71 và coxsackie A16. Bệnh chưa có văcxin và thuốc điều trị đặc hiệu, công tác phòng chống dịch bệnh TCM cũng nhiều hạn chế, kiểm soát dịch bệnh khó khăn,... Để có cơ sở cho việc triển khai công tác phòng chống dịch bệnh TCM, được sự uỷ nhiệm của Bộ Y tế, viện Pasteur Nha Trang phối hợp với trung tâm YTDP các tỉnh miền trung tiến hành đề tài “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học và một số yếu tố liên quan đến mắc bệnh tay chân miệng tại khu vực miền trung, năm 2008 – 2009”.  Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 5/2008 - 4/2010 với các mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ học bệnh Tay - Chân - Miệng tại các tỉnh miền trung; Xác định một số yếu tố liên quan đến mắc bệnh TCM. Thiết kế nghiên cứu “bệnh-chứng” là phương pháp được áp dụng, bao gồm rà soát bệnh án, điều tra thực địa, quan sát và phỏng vấn người mẹ (hoặc người chăm sóc trẻ) về kiến thức cũng như các yếu tố liên quan đến mắc bệnh TCM. Số liệu được tổng hợp, xử lý và phân tích trên phần mềm Epi- Info 6.04 và SPSS. Nghiên cứu đã tiến hành điều tra 35 trường hợp (+) với bệnh TCM xảy ra trong 2 năm 2008- 2009, tương ứng với mỗi trường hợp (+) điều tra 4 hộ gia đình ở xung quanh nhà của bệnh nhân, cùng nhóm tuổi,...(140 hộ gia đình). Tổng cộng 175 hộ gia đình. Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh TCM xảy ra ở 5 tỉnh trong khu vực, tập trung nhiều hơn tại tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Vùng nông thôn cao hơn thành thị. Nhóm tuổi mắc cao nhất là từ 12 - 48 tháng (80%). Trai nhiều hơn gái 1,5 lần. Thời gian mắc bệnh cao hơn vào tháng 3 và 5. Hầu hết có biểu hiện lâm sàng khá điển hình và thể nhẹ. Khỏi 100% (35/35 ca). Tác nhân gây bệnh chủ yếu là enterovirus 71 (65,7%) và coxsackie A16 (34,3%). Một số yếu tố liên quan của bản thân trẻ, của người mẹ (hoặc người chăm sóc) và của môi trường giữa nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng từ 2,53 - 9,87 lần; P<0,05.


          24.  Tỉ lệ nhiễm cúm A/H1N1 đại dịch ở huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang


Trần Ngọc Hữu, Phan Văn Tính, Lương Chấn Quang, Lê Đăng Ngạn, Nguyễn Thị Kim Ngân

Tóm tắt:
Năm 2009, Thế giới xảy ra đại dịch do vi rút cúm A/H1N1 đại dịch gây nên. Ở Việt nam, dịch đã xuất hiện từ cuối tháng 6 năm 2009 cho đến nay đã có trên 12.000 trường hợp dương tính, 57 trường hợp tử vong. Tuy nhiên, dữ liệu này chưa phản ánh đúng sự tác động của đại dịch ở Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện dựa vào hoạt động giám sát cúm ở 25 trạm y tế xã và bệnh viện huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang và kết quả điều tra tỉ lệ bệnh nhân cúm ở huyện Cái Bè đến khám tại cơ sở y tế này đã cho thấy: Đã có 18154 lượt bệnh cúm đến khám tại các cơ sở y tế từ tháng 6/2009-3/2010 tương đương với tỉ lệ bệnh nhân cúm đến khám ở các cơ sở y tế là 36,7%; tỉ lệ xét nghiệm dương tính với cúm A/H1N1 đại dịch là 12,48%, tỉ lệ nhiễm cúm A/H1N1 đại dịch ở huyện Cái Bè ước tính là 17% và tỉ lệ mắc cúm A/H1N1 đại dịch trên 100.000 dân ước tính ở huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang là rất cao 2123 trường hợp. Kết quả cho thấy sự tác động thật sự của đại dịch cúm ở huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang và ở Việt Nam là rất lớn. Với sự tác động này, người dân cần phải tự áp dụng các biện pháp phòng bệnh cho bản thân là nhân tố quan trọng trong việc phòng chống dịch.
 
          25.  Đặc điểm di truyền của virus cúm A đại dịch H1N1/2009 tại miền Nam Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2011

Cao Thị Bảo Vân, Mai Văn Nam, Lê Hà Tầm Dương, Ngô Chung Chỉnh, Nguyễn Văn Khoa, Phùng Lê Trâm, Đặng Trịnh Minh Anh, Nguyễn Thị Yến Nhi, Lê Thị Liên, Hoàng Ngọc Khánh Quỳnh, Nguyễn Thị Hạnh Lan, Trần Ngọc Hữu

Tóm tắt:
Nhằm giám sát biến động bộ gene virus cúm H1N1/2009, hai gene HA và NA của 50 chủng phân lập từ bệnh nhân tại 19 tỉnh miền nam Việt Nam từ tháng 08/2009 đến 04/2011 đã được giải trình tự, trong đó 05 chủng được giải trình tự 8 gene hoàn chỉnh. Kết quả phân tích cho thấy các chủng Việt Nam tương đồng cao với các chủng đại dịch H1N1/2009 trên thế giới. Trên protein H1, ngoài ba đột biến quan trọng D225G, K145 và E227, một số chủng Việt Nam đã xuất hiện thêm các đột biến mới trong vùng gắn kết thụ thể như L194I, I219V, Q226Rgiúp virus gắn kết hiệu quả hơn với tế bào vật chủ. Bảy trong số tám axít amin liên quan đến tính kháng thuốc trên protein N1 vẫn bảo tồn tính nhạy cảm, ngoại trừ đột biến V321I. Các protein PB2, PB1-F2 và NS1 hầu hết vẫn bảo tồn các axít amin độc lực thấp tại những vị trí quan trọng, tương tự chủng thế giới. Đặc biệt, chủng phân lập năm 2011 gene HA có số đột biến tăng đáng kể, độ tương đồng chỉ 98%.
 
          26. Căn nguyên vi sinh của bệnh nhiễm trùng hô hấp cấp tính nặng (SARI) tại tỉnh Bến Tre, 2008 - 2010
 
Lương Chấn Quang, Vũ Thị Quế Hương, Đỗ Kiến Quốc, Phan Văn Tính, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Thị Kim Hoàng, Trần Ngọc Hữu

Tóm tắt: Kể từ năm 2003, khu vực phía Nam là một trong những nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi các loại dịch bệnh nhiễm trùng hô hấp cấp tính như cúm A/H5N1, SARS, cúm đại dịch A(H1N1)2009… Do đó, việc nghiên cứu sự lưu hành các tác nhân vi sinh gây dịch tại khu vực là rất cần thiết để định hướng cho việc thiết lập hệ thống giám sát và định hướng cho các hoạt động phòng chống dịch trên thực địa. Để thực hiện nghiên cứu, một hệ thống giám sát chuyên biệt cho SARI (Severe Acute Respiratory Infection) được thiết lập tại tỉnh Bến Tre từ tháng 08/2008 đến tháng 06/2010. Toàn bộ bệnh nhân SARI được thu tuyển vào nghiên cứu được xét nghiệm tìm tác nhân vi-rút bằng kỹ thuật Multiplex RT-PCR và từ tháng 08/2009 toàn bộ bệnh nhân SARI được thực hiện thêm mẫu cấy máu để tìm tác nhân vi khuẩn. Trong số 1.677 bệnh nhân SARI được thu tuyển có 902 (53,78%) ca có kết quả xét nghiệm dương tính với hoặc tác nhân vi-rút hoặc tác nhân vi khuẩn. Tỉ lệ bệnh nhân SARI có kết quả xét nghiệm dương tính với các tác nhân vi-rút là 51,82% (872ca). Trong số 913 bệnh nhân được cấy máu, tỉ lệ bệnh nhân có kết quả cấy máu dương tính với các tác nhân vi khuẩn là 7,45% (68 ca). Tỉ lệ đồng nhiễm vi-rút – vi-rút là 0,24% và vi-rút – vi khuẩn là 4,16%. Có 14 tác nhân vi-rút được phát hiện trên bệnh nhân SARI bao gồm: cúm A(H1N1)pdm (1,43%), Inf A (2,68%), Inf B (1,07%), Inf C (0,122%), hRV (18,66%), RSV (15,21%), Boca (3,52%), Adeno (1,79%), Entero (0,48%), Corona HKUI (0,18%), MPV (2,33%), Parainfluenza týp 1 (1,55%), Parainfluenza týp 3 (2,21%) và Parainfluenza týp 4(0,36%). Một điều đáng lưu ý là 2 tác nhân hRV và RSV được cho là nguyên nhân gây tử vong trên trẻ sơ sinh trong các vụ dịch nhiễm trùng hô hấp cấp tại Trung Quốc, Philippines và Cambodia vào năm 2008 lại là 2 tác nhân chiếm ưu thế với tỉ lệ rất cao trong số 14 tác nhân vi-rút được phát hiện. Hơn nữa, vi-rút cúm A tại khu vực phía Nam lưu hành chủ yếu trong thời gian hè và điều này là rất khác biệt so với các khu vực khác trong cả nước cũng như các quốc gia khác trên thế giới. Nghịên cứu cũng xác định được tính chất lưu hành theo mùa của một số tác nhân ưu thế như: Boca (tháng 1-tháng 4), cúm A (tháng 5-tháng 7) và RSV (tháng 8-tháng 11). Kết quả nghiên cứu cho thấy căn nguyên vi-rút của SARI tại khu vực phía Nam rất đa dạng và sự lưu hành theo mùa của các tác nhân vi-rút chiếm ưu thế. 


          
27.  Nghiên cứu vi khuẩn Bartonella trên động vật gặm nhấm ở khu vực phía Nam Việt Nam


Hoàng Kim Loan, Trương Xuân Liên, Michael Kosoy, Đậu Thị Việt Liên, Vũ Đình Luân, Phan Ngọc Thảo và Vũ Thị Quế Hương

Tóm tắt: Đây là kết quả nghiên cứu tìm hiểu sự lưu hành vi khuẩn Bartonella trên động vật gặm nhấm ở Vĩnh Long và quận 12 TP.HCM năm 2008. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 75 mẫu động vật gặm nhấm thuộc bảy loài. Kỹ thuật phân lập và định danh Bartonella theo thường qui chuẩn của Trung tâm Kiểm soát Bệnh (CDC) Hoa Kỹ đã xác định được 14 chủng Bartonella, với tỉ lệ lưu hành là 19,2%. Kết quả giải trình tự và phân tích gien gltA cho thấy sự đa dạng về mặt di truyền của các chủng Bartonella trên các loài vật chủ. Có bảy chủng tương đồng cao với B.elisabethaze, ba chủng tương đồng với B.rattimassiliensis và hai chủng tương đồng với B.coopersplainsensis. Kết quả quan trọng của nghiên cứu này là có 50% chủng phân lập được tương đồng cao với chủng B.elisabethaze, là tác nhân gây bệnh trên người. Nghiên cứu này là cơ sở khoa học để chúng tôi tiếp tục những nhiên cứu sâu hơn về Bartonella ở Việt Nam.


          28.  Dịch tễ học phân tử các chủng Vibrio Cholerae O1 phân lập tại khu vực phía Nam (1999-2010)


Nguyễn Hoàng Vũ, Phạm Thị Hoan, Phan Đinh Hồng Châu, Ngô Tuấn Cường, Diệp Thế Tài, Nguyễn Thị Ngọc Nhi, Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Thị Kim Ngọc, Tetsu Yamashiro, Masahiko Ehara, Nguyễn Bình Minh, Nguyễn Thị Phương Lan

Tóm tắt: Các chủng tả Vibrio cholerae O1 (VCO1) phân lập từ các vụ dịch ở khu vực phía Nam Việt Nam năm 1999-2010 được nghiên cứu để xác định mối liên hệ di truyền. Tổng cộng 41 chủng bao gồm cả những chủng có nguồn gốc từ Campuchia năm 2010 và phía Bắc Việt Nam 2008, 2010 đã được xác định típ sinh học phân tích dịch tễ học phân tử. Kết quả phân tích típ sinh học cho thấy bên cạnh các đặc điểm của típ El Tor, các chủng này còn có các đặc tính của típ Classical, được gọi là típ ‘El Tor biến đổi’. Bằng kỹ thuật điện di trường xung (pulsed-field gel electrophoresis - PFGE), các chủng gây dịch 2010 biểu hiện mối liên hệ di truyền gần với đa số các chủng phân lập trước đó trong khu vực (trừ chủng 1999 và một chủng 2003), trong đó có những kiểu PFGE giống nhau hoàn toàn với các kiểu từ Campuchia và phía Bắc. So sánh với các nghiên cứu trước đây, dòng vi khuẩn gây bệnh tại phía Nam năm 2010 có thể bắt nguồn từ Ấn Độ năm 1993. Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của ciprofloxacin trên các chủng VCO1 năm 2010 là 0,5 µg/ml, đã tăng hơn 125 lần so với các năm trước.


        
29.  Phân bố týp huyết thanh, tính kháng kháng sinh, và đặc tính di truyền (theo PFGE) của vài chủng Streptococcus Pneumoniae phân lập ở trẻ em nhiễm hô hấp cấp và viêm màng não


Võ Thị Trang Đài, Nguyễn Thị Kim Hoàng, Uông Nguyễn Đức Ninh, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Vũ Thị Quế Hương

Tóm tắt: 20 chủng Streptococcus pneumoniae được thu thập từ tháng 10/2007 đến tháng 5/2008 tại Bệnh viện Nhi đồng 2 thành phố Hồ Chí Minh. 18 chủng xâm lấn bao gồm 4 chủng từ bệnh nhi nhiễm trùng máu, 10 chủng từ bệnh nhi viêm màng não vi khuẩn, 2 chủng từ bệnh nhi viêm phổi và 2 chủng từ bệnh nhi với những chẩn đoán khác. Và 2 chủng không xâm lấn được phân lập từ bệnh nhi viêm tai. Sự phân bố týp huyết thanh chủ yếu là týp 6 (10 chủng), 14 (5 chủng), 19 (4 chủng) và 23 (1 chủng). Sự nhạy cảm kháng sinh được thực hiện bằng phương pháp khuếch tán đĩa Kirby–Bauer. Kết quả cho thấy 100% chủng kháng với co-trimoxazole và erythromycin, 95% kháng với clindamycin, 80% kháng với tetracycline, 40% kháng với chloramphenicol, 10% kháng moxifloxacin và 5% kháng norfloxacin. Tất cả chủng vẫn còn nhạy cảm với vancomycin, pristinamycin, gentamicin (500µg) và levofloxacin. Với penicillin, có 5 (25%) chủng nhạy cảm và 15 (75%) chủng giảm nhạy cảm. 15 chủng giảm nhạy cảm được xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) với penicillin G, amoxicillin and cefotaxime. Kết quả MIC cho thấy 11 chủng kháng với penicillin, 9 chủng kháng với ampicillin và 2 chủng kháng cefotaxime. Chủng kháng cao với cefotaxime (MIC= 8mg/L) phân lập từ mủ tai và thuộc týp huyết thanh 19, có MIC với penicillin là 4mg/L và amoxicillin là 8mg/L. Kỹ thuật điện di xung trường (PFGE) cho thấy có 13 kiểu mẫu PFGE và sự đa dạng về kiểu gien của các S. pneumoniae khảo sát.


         
30.  Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tác động của kháng sinh dự phòng tới nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân phẫu thuật ở Việt Nam


Nguyễn Việt Hùng, Nguyễn Quốc Anh, Trương Anh Thư, Nguyễn Ngô Quang

Tóm tắt: Đặt vấn đề: Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là loại nhiễm khuẩn bệnh viện phổ biến, là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, tử vong và làm tăng chi phí điều trị. Sử dụng kháng sinh dự phòng (KSDP) là một biện pháp phòng ngừa NKVM hiệu quả. Mục tiêu: Mô tả thực trạng sử dụng kháng sinh (KS) và tác động của KSDP tới NKVM ở bệnh nhân (BN) phẫu thuật ở Việt Nam. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu tại 7 bệnh viện trong toàn quốc. Mọi BN phẫu thuật được thu thập các thông tin liên quan tới BN, sử dụng KS và NKVM theo tiêu chuẩn của CDC, Hoa Kỳ. Liều KSDP được xác định khi đưa vào cơ thể trong vòng 30 phút trước khi rạch da. Kết quả: Trong 4413 BN phẫu thuật được giám sát, có 4410 (99,9%) BN được sử dụng ít nhất 1 loại KS, trong đó có 99,7% BN được sử dụng KS sau phẫu thuật với thời gian sử dụng trung bình: 7,4 ± 5,1 ngày, 65,9% (2895/4396) BN sử dụng ≥ 2 loại KS, 79,7% BN sử dụng cephalosporin thế hệ 3. Chỉ có 662/4413 (15,0%) BN được sử dụng KSDP. Phân tích đa biến cho thấy sử dụng KSDP có tác dụng làm giảm NKVM ([aOR]: 1,6; [CI]: 1,1 – 2,5). Kết luận: Hầu hết BN được sử dụng các KS phổ rộng sau phẫu thuật trong khi KSDP có tác dụng làm giảm NKVM cho thấy cần triển khai chính sách sử dụng KS an toàn, hợp lý ở BN phẫu thuật.


         
31.  Nghiên cứu sự đề kháng kháng sinh của trực khuẩn Gram âm gây bệnh chủ yếu tại Bệnh viện Nhi đồng 2 từ tháng 1/2010 đến tháng 7/2011

Trần Thị Ngọc Anh, Bùi Thế Trung, Trần Chí Thành, Nguyễn Thùy An

Tóm tắt: Nghiên cứu sự đề kháng kháng sinh (KS) của trực khuẩn Gram âm (TK Gr(–)) thường xuyên tại Bệnh viện Nhi đồng 2, nhằm xác định: (1) Tỷ lệ cơ cấu các loài vi khuẩn (VK) gây bệnh được phân lập; (2) Tỷ lệ kháng KS của các TK Gr(–) gây bệnh chủ yếu. Tỷ lệ TK Gr(-) chiếm 54.89% (3234/5891), trong đó chủ yếu là Escherichia coli (12.51%), Klebsiella pneumoniae (10.02%), Acinetobacter spp. (5.64%), Pseudomonas aeruginosa (5.35%) gặp nhiều ở các bệnh phẩm mủ (45.03%), đàm (35.90%), nước tiểu (14.18%). E. coliK. pneumoniae có mức đề kháng rất nhiều loại KS như SAM (49.22%, 67.81%), FEP (62.23%, 60.34%), CTX (72.88%, 70.00%), CAZ (68.88%, 70.26%), GEN (55.91%, 55.75%), CIP (50.15%, 44.11%), LXV (48.83%, 33.21%), SXT (77.28%, 68.60%). Acinetobacter spp. đề kháng cao hầu hết các loại KS (>80%), P. aeruginosa đề kháng thấp (<30%) với tất cả các KS. Có 24.95% (805/3234) TK Gr(-) sinh ESBL, trong đó E. coli 52.17% (421/807), K. pneumoniae 43.74% (353/807). Kháng kháng sinh ESBL(+) cao hơn hẳn so với ESBL(–). Kiểu kháng đồng thời 6–8 KS là đặc trưng của E. coliK. pneumoniae sinh ESBL.


          32.  Báo cáo thực trạng nhiễm khuẩn phòng mổ tại các bệnh viện trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh (10/2009 - 06/2011)


Nguyễn Thị Sơn Hà, Mai Sơn Thái Anh,Nguyễn Thị Ngọc Lan

Tóm tắt: Nhiễm khuẩn phòng mổ hiện là một trong những mối quan tâm hàng đầu trong số những nguyên nhân nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV). Nhóm nghiên cứu đã tiến hành kiểm tra vi sinh không khí, tay phẫu thuật viên (PTV), dụng cụ (DC) mổ và số lượng hạt bụi trong phòng mổ tại 34 bệnh viện quận, huyện trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong thời gian từ tháng 10/2009 đến tháng 06/2011. Kết quả cho thấy có đến 72,3% phòng mổ đang hoạt động bị nhiễm vi sinh không khí, 8,4% các mẫu tay PTV và DC mổ còn có sự xuất hiện vi khuẩn và nấm và có đến 85,6% phòng mổ không đạt tiêu chuẩn về hạt bụi theo tiêu chuẩn của WHO-GMP-2008.


          33.  Sự hiện diện của các vi khuẩn Gram âm mang gene bla NDM-1 phân lập tại hai bệnh viện khu vực phía Nam, Việt Nam năm 2011
 
Nguyễn Văn Thương, Đặng Thị Mỹ Hà, Trần Thị Thanh Nga, Võ Thị Ngọc Điệp, Nguyễn Văn Thanh Bình, Diệp Thế Tài, Lê Ngọc Sơn, Nguyễn Hoàng Vũ, Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Thị Ngọc Nhi, Nguyễn Trường Sơn, Masahiko Ehara, Nguyễn Thị Phương Lan, Trần Ngọc Hữu

Tóm tắt: Các vi khuẩn Gram âm mang gene blaNDM-1 đang là một vấn đề nan giải toàn cầu. Có 28 chủng vi khuẩn Gram âm mang gene blaNDM-1 được phân lập từ 181 chủng vi khuẩn Gram âm có tính kháng hoặc trung gian với các ks carbapenem tại một bệnh viện địa phương và một bệnh viện trung tâm ở khu vực phía Nam, Việt Nam. Các chủng này đều mang gene blaNMD-1  tương đồng 100% với các trình tự gene đã được báo cáo ở nhiều khu vực trên thế giới, mang đồng thời các gene ESBL (blaTEM, blaSHV, blaCTX-M, blaVEB) và biểu hiện tính đa kháng kháng sinh bao gồm CL và AZT. Đây là những số liệu ban đầu về tình hình các vi khuẩn NDM-1 tại khu vực phía Nam, Việt Nam.


         
34.  Mối liên quan giữa độc tố ruột và tính nhạy cảm kháng sinh của S.aureus phân lập tại Viện Pasteur Tp.HCM (2006 - 2010)


Diệp Thế Tài, Đoàn Nguyễn Khánh Trình, Vũ Lê Ngọc Lan, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Hoàng Vũ, Nguyễn Thị Ngọc Nhi, Ngô Thị Huệ, Nguyễn Thị Phương Lan, Trương Thị Xuân Liên
 
Tóm tắt: Tìm hiểu tính kháng kháng sinh và độc tố đường ruột của S.aureus là một việc cần thiết, khi mà ngày càng có nhiều bằng chứng về sự giống nhau giữa di truyền và mức độ gây bệnh trên các chủng phân lập từ bệnh viện cũng như cộng đồng. Từ năm 2006 – 2010, 126 chủng S.aureus, bao gồm 57 (45.24%) chủng kháng methicillin (MRSA) và 69 chủng nhạy với methicillin (MSSA), đã được thu thập và tiến hành phân tích gen mã hoá độc tố SEA, SEB, SEC, SEE và tính kháng kháng sinh trên những chủng có độc tố. Trong 53 chủng có các gen mã hoá độc tố được tìm thấy, 29 chủng MRSA và 24 chủng là MSSA.SEC (49.06%), SEA (15.09%), SEB (20.75%) là các gen mã hoá độc tố phân bố phổ biến trong các chủng nghiên cứu. Các chủng đều nhạy với vancomycin và linezolid, nhưng có 2 chủng kháng với teicoplanin và mang SEA. Tính đa kháng trên 6 loại kháng sinh tìm thấy trên các chủng có SEA, SEE, SEC. Trên chủngcó đồng thời SEA, SEC thì đa kháng từ 5 đến 7 loại kháng sinh như ampicillin, penicillin, cefoxitin, và chloramphenicol, kanamycin.  

          35.  Sự đề kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh trên động vật


Phan Xuân Thảo, Trương Thị Kim Châu, Ngô Thị Minh Hiển, Nguyễn Văn Dũng

Tóm tắt: Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý có thể tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc, gây khó khăn trong việc phòng và trị bệnh trên động vật hoặc trên người nếu nhiễm các chủng kháng thuốc này. Tổng cộng 1119 mẫu bệnh phẩm (gồm 557 mẫu dịch mũi chó, 211 mẫu bệnh phẩm heo và 351 mẫu sữa bò viêm vú) tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận được phân lập vi khuẩn, định danh, thử kháng sinh đồ. Kết quả cho thấy các chủng phân lập được đề kháng cao với kháng sinh, cụ thể là: Các chủng vi khuẩn phân lập từ chó: Staphylococcus đề kháng ampicilline peniciline, oxytetracycline, doxycycline với tỷ lệ tương ứng 97,88%, 97.18%, 92,25%, 78,87%; Streptococcus kháng ampicilline, peniciline, oxytetracycline, doxycycline tương ứng 84,38%, 79,69%, 87,50%, 89,06%. E.coli kháng ampicilline, oxytetracycline, doxycycline lần lượt là 90,28%, 86,81%, 78,48%. Các chủng phân lập từ heo: Staphylococcus kháng oxytetracycline, doxycycline 75,00%; Streptococcus kháng tetracycline 87,50%; E.coli kháng ampicilline oxytetracycline, doxycycline tương ứng 95,83%, 95,14%, 87,50%. Các chủng phân lập từ bò: Streptococcus kháng ampicilline, peniciline, tetracycline, erythromycine lần lượt là 59,32% 58,05%, 72,88% và 81,36%.


          36.  Đánh giá tính an toàn của vắcxin Quinvaxem INJ (DTPw-HepB-Hib) phòng bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B và bệnh do H. Influenzae ở trẻ em Việt Nam


Trần Ngọc Hữu, Hồ Vĩnh Thắng, Nguyễn Trọng Toàn, Nguyễn Thị Minh Phượng, Dương Thị Tú Yên, Nguyễn Diệu Thúy, Nguyễn Lệ Thủy, Lưu Thị Thu Hà, Lê Văn Hiến, Nguyễn Văn Có

Tóm tắt: Đặt vấn đề: Việt Nam lên kế hoạch thay thế vắcxin DPT tiêm chủng thường xuyên với ‘Quinvaxem’ vắcxin phối hợp DTPw-HepB-Hib hiện đang được sử dụng tại hơn 40 quốc gia. Nhằm phù hợp với quy định của Bộ Y tế về việc cấp phép vắcxin mới, nghiên cứu này nhằm đánh giá tỷ lệ các phản ứng bất lợi sau khi tiêm chủng. Phương pháp: Nghiên cứu thực hiện trên 120 trẻ 60-120 ngày tuổi, sau khi có sự đồng ý tham gia nghiên cứu của cha mẹ trẻ. Các trẻ được tiêm chủng vắcxin ở tuổi 2, 3 và 4 tháng. Sau đó được giám sát một cách hệ thống 30 phút, 6 giờ, 24 giờ, 48 giờ, từ 3 đến 7 ngày và 28 ngày, sau mỗi lần tiêm chủng do nhân viên y tế được đào tạo. Kết quả: Có 114 trẻ tiêm đủ 3 liều vắcxin, 6 trẻ hoãn tiêm và rút khỏi nghiên cứu do có bệnh cấp tính trước khi tiêm chủng liều thứ 2 (2 trẻ) và liều thứ 3 (4 trẻ). Phản ứng bất lợi sau tiêm xảy ra ở 52, 22 và 20 trẻ sau khi liều đầu tiên, thứ hai và thứ ba tương ứng. Tất cả các phản ứng sau tiêm ở mức độ nhẹ trong dự kiến, và xảy ra 1-2 ngày sau khi tiêm. Các phản ứng sau tiêm tại chỗ bao gồm sưng > 5mm (6,2%), đỏ > 5mm (9,0%), đau (19,8%) và phản ứng toàn thân gồm sốt > 38oC (13,5%), sốt > 39oC (0,6%), nổi ban (0,9%), chán bú (2,5%), nôn ói (0,6%), tiêu chảy (2,5%), dễ kích thích (6,8%), khóc thét bất thường (0,9%), khóc dai dẳng trên 3 giờ (2,0%) và ngủ gà gật, lơ mơ (0,6%). Kết luận: Tỷ lệ phản ứng bất lợi sau tiêm là tương đương với các nghiên cứu trước đã công bố và thấp hơn so với các mức ngưỡng khuyến cáo được chấp nhận của TCYTTG. Do vậy, vắcxin đã được cấp phép và đưa vào sử dụng thường xuyên trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng Quốc gia (CT.TCMR.QG) vào tháng 06/2010. Hệ thống giám sát phản ứng sau tiêm khi triển khai vẫn sẽ được tiếp tục duy trì trong CT.TCMR.QG.


          37.  Đánh giá thực hành các quy định về an toàn tiêm chủng theo Quyết định số 23/2008/QĐ-BYT tại Tp. Hồ Chí Minh, 2011


Nguyễn Thị Phương Thuý, Nguyễn Đắc Thọ, Lê Hồng Nga, Nguyễn Thị Minh Phượng, Hồ Vĩnh Thắng

Tóm tắt: Đặt vấn đề: Nhằm xác định tỷ lệ nhân viên y tế tuân thủ các quy định về an toàn tiêm chủng theo Quyết định 23/BYT. Trong tháng 5 và 6 năm 2011, chúng tôi đã thực hiện khảo sát kiến thức và thực hành các quy định an toàn tiêm chủng của các bác sỹ, y sỹ trong việc tư vấn, khám phân loại tại các buổi tiêm chủng thường xuyên ở các trạm y tế phường/xã tại TP. Hồ Chí Minh. Phương pháp: Nghiên cứu thực hiện tại 96 buổi tiêm chủng của 96 trạm y tế phường/xã của TP.HCM. Các bác sỹ, y sỹ tham gia tư vấn, khám phân loại trong buổi tiêm chủng được phỏng vấn về các quy định an toàn tiêm chủng theo Quyết định 23/BYT và quan sát thực hành khi họ tư vấn và khám chỉ định tiêm chủng cho mỗi 5 trẻ. Kết quả: Nghiên cứu đã xác định được tỷ lệ bác sỹ, y sỹ có kiến thức đầy đủ về tư vấn, khám chỉ định tiêm chủng là 31%, kiến thức về giám sát các phản ứng sau tiêm là 73%, kiến thức về xử trí các phản ứng sau tiêm còn ở mức hạn chế 40%. Tỷ lệ các bác sỹ, y sỹ thực hành đúng về chỉ định tiêm chủng theo lịch của TCMR là 97%, tuy vậy chỉ có 19% trong số họ có thực hành tư vấn tiêm chủng. Kết luận: Nghiên cứu giúp cho những người quản lý CT.TCMR xác định được những điểm đạt và những điểm cần chấn chỉnh trong hoạt động tư vấn, khám chỉ định tiêm chủng đảm bảo cho việc tiêm chủng được an toàn.


         
38.  Đánh giá quản lý vắc xin và dây chuyền lạnh trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng tại Hậu Giang, 2010


Nguyễn Thị Thanh Hà, Trần Ngọc Hữu, Đỗ Sỹ Hiển,Nguyễn Văn Mười, Võ Quốc Tuấn

Tóm tắt: Bảo quản vắc xin trong dây chuyền lạnh đảm bảo nhiệt độ qui định là một trong những thành tố quyết định tính an toàn và hiệu quả của vắc xin. Việt Nam đã thiết lập hệ thống dây chuyền lạnh ngay khi triển khai chương trình tiêm chủng mở rộng (CTTCMR) với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế. Suốt hơn 20 năm hoạt động, hệ thống dây chuyền lạnh (DCL) đã xuống cấp và hư hỏng nhiều dù được duy tu bảo dưỡng ở một mức độ nhất định. Do tính chất quan trọng của DCL và bảo quản vắc xin, tháng 11/2003 CTTCMR quốc gia phối hợp với WHO, UNICEF, PATH đã tiến hành đánh giá DCL và BQVX tại 4 tỉnh và 4 huyện đại diện cho toàn quốc. Kết quả cho thấy thiết bị DCL cần được bổ sung để bảo quản và vận chuyển vắc xin, còn nhiều sai sót trong công tác quản lý vắc xin và DCL. Từ năm 2004 - 2008, chương trình TCMR đã nâng cấp và thay thế hàng loạt thiết bị DCL ở tất cả các tuyến, đồng thời tổ chức tập huấn cho cán bộ y tế về sử dụng DCL và BQVX trên phạm vi toàn quốc. Từ đó đến nay, thực trạng quản lý vắc xin và DCL có đáp ứng yêu cầu hay không? Kiến thức về bảo quản vắc xin của cán bộ y tế có nâng lên sau huấn luyện không? Đề tài “Đánh giá quản lý vắc xin và dây chuyền lạnh trong chương trình tiêm chủng mở rộng tại tỉnh Hậu Giang, 2010” đã được thực hiện. Kết quả nghiên cứu giúp xác định những điểm mạnh, điểm yếu, những trở ngại nhằm đưa ra 1 số biện pháp can thiệp nâng cao chất lượng dịch vụ tiêm chủng tại địa phương. Kết quả nghiên cứu là căn cứ để đánh giá hiệu quả sau can thiệp tại tỉnh Hậu Giang.


          39.  Sự phân bố các kiểu gen ampC trên nhóm chủng Klebsiella Pneumoniae phân lập từ bệnh viện


Trần Thị Bích Phượng, Lê Thị Liên, Mai Văn Nam, Cao Thị Bảo Vân

Tóm tắt: Vi khuẩn kháng thuốc ngày càng phổ biến và gây nhiều thách thức trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Do đó, giám sát thường xuyên và nghiên cứu các cơ chế kháng thuốc mới của các chủng vi khuẩn gây bệnh, cũng như khả năng lan truyền của gen kháng luôn là yêu cầu tiên quyết giúp nâng cao hiệu quả và giảm chi phí điều trị. K.pneumoniae là một trong những nhóm vi khuẩn kháng thuốc hàng đầu. Gen kháng thuốc nhóm ampC mã hóa cho enzymes beta-lactamase nhóm C, còn gọi là cephalosporinase qui định tính kháng mạnh với hầu hết các kháng sinh nhóm cephalosporins, kể cả cephalosporins thế hệ mới nhất và không bị ức chế bởi axit clavulanic. Trước đây, gen ampC chỉ định vị trên nhiễm sắc thể. Tuy nhiên, do áp lực chọn lọc tự nhiên, ngày càng nhiều báo cáo phát hiện ampC trên plasmid hoặc các cơ chế gen di động khác, có tính lan truyền cao. Để tiến hành nghiên cứu giám sát sự lưu hành của nhóm gen ampC trên các chủng vi khuẩn gây bệnh tại Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi sàng lọc các chủng kháng cephalosporins thế hệ 3 thu thập từ các bệnh viện trong thành phố và bước đầu chọn 13 chủng K.pneumoniae có kiểu hình kháng đặc trưng cho các chủng mang gen ampC. Sự hiện diện của các nhóm gen ampC ở các chủng K. pneumonia được phát hiện bằng kỹ thuật Multiplex-PCR với sáu cặp mồi đặc hiệu cho 6 nhóm gen ampC (MOX, CIT, DHA, ACC, EBC, FOX). Kết quả chúng tôi phát hiện hai nhóm gen ampC là DHA và EBC với tỷ lệ: gen DHA chiếm 61,5% (8/13 mẫu), nhóm gen EBC chiếm 7,7% (1/13 mẫu), tổng số 69,2% (9/13 mẫu). Trình tự gen DHA và EBC được phân tích bằng kỹ thuật giải trình tự cho thấy các gen trên có trình tự giống 100% so với các trình tự đã đăng ký trên ngân hàng gen (Genbank). Kết quả thu được cho ta lời cảnh báo về sự lưu hành của nhiều nhóm gen kháng thuốc ampC cephalosporinases trên các chủng K.pneumoniae ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Sự kết hợp giữa gen ampC và một vài cơ chế kháng thuốc khác có thể cho phép vi khuẩn kháng lại toàn bộ các kháng sinh hiện đang được sử dụng, kể cả imipenem.


          40.  Tình hình khám chữa bệnh tại trạm y tế xã thuộc huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái sau lũ quét tháng 9 năm 2005


Hà Văn Như

Tóm tắt: Nghiên cứu hồi cứu, so sánh số liệu khám chữa bệnh (KCB) của các trạm y tế (TYT) xã bị ảnh hưởng bởi lũ quét trong thời gian 4 tuần trước và sau lũ quét, được thực hiện tại bảy xã bị ảnh hưởng bởi lũ quét xảy ra vào tháng 9 năm 2005 thuộc huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái nhằm mô tả tình hình KCB bệnh của cộng đồng bị ảnh hưởng bởi lũ quét. Kết quả: số lượng người đến TYT xã KCB trong bốn tuần sau lũ quét tăng gấp 1,9 lần so với bốn tuần trước khi xảy ra lũ quét. Mức độ tăng cao nhất ở trẻ dưới 5 tuổi: 2,7 lần; tiếp đến là nhóm 15-49 tuổi: 1,7 lần. Tỷ lệ nữ đến KCB sau lũ chiếm 47,0%, thấp hơn tỷ lệ này ở nam (53,0%) (p<0,05). Dịch tiêu chảy đã xảy ra ở một xã nhưng đã được khống chế kịp thời và không có tử vong. Tỷ lệ KCB do sáu bệnh nhiễm trùng phổ biến chiếm 38,0% tổng số người đến KCB sau lũ. Tiêu chảy và đau mắt đỏ là hai bệnh nhiễm trùng tăng nhiều nhất sau lũ tương ứng là 4,1 lần và 2,1 lần (p<0,01). Thông tin phân loại không rõ ràng trong sổ KCB tại TYT xã là một hạn chế ảnh hưởng độ chính xác về các loại bệnh nhiễm trùng đến KCB tại TYT xã.


         
41.  Bước đầu tìm hiểu tính ổn định của nồng độ Glucose trong huyết thanh

Nguyễn Thị Mỹ Diện, Lê Thị Lan Phương, Nguyễn Thị Kim Ngọc, Ngô Thị Loan, Phẩm Minh Thu, Cao Hữu Nghĩa

Tóm tắt:
Thực hành đúng trong công tác bảo quản mẫu về thời gian và nhiệt độ là yếu tố quan trọng góp phần tăng cường độ tin cậy của xét nghiệm glucose máu. Các tài liệu về vấn đề này không thống nhất và được tiến hành với phương pháp xét nghiệm cũ. Mục tiêu của bài tìm hiểu nhằm khảo sát sự thay đổi của nồng độ glucose trong huyết thanh theo thời gian và nhiệt độ bảo quản, qua đó xác định tính ổn định của nồng độ glucose trong huyết thanh. Huyết thanh được tách khỏi cục máu đông sau 30 phút để mẫu máu ở nhiệt độ phòng. 33 mẫu huyết thanh (ở ba mức nồng độ glucose: 4.1-6.1 mmol/L, 6.1-7 mmol/L, từ 7 mmol/L trở lên; mỗi mức 11 mẫu), đo lường nồng độ glucose tại các thời điểm 0, 2, 4, 6, 24, 48 giờ sau ly tâm (khi bảo quản ở nhiệt độ phòng 20-300C); 0, 24, 48 giờ sau ly tâm (khi bảo quản ở nhiệt độ tủ lạnh 2-80C). Kết quả cho thấy nồng độ glucose trong huyết thanh ổn định trong 48 giờ ở nhiệt độ phòng 20-300C và nhiệt độ tủ lạnh 2-80C, cho phép kéo dài thời gian xét nghiệm đến các thời điểm cụ thể này ở mỗi nhiệt độ bảo quản khi không thể phân tích mẫu ngay sau ly tâm.
 
          42. Độ không đảm bảo của nguyên tố trong bảng tuần hoàn và 18 hợp chất thường dùng trong hóa học
 
Nguyễn Đức Anh Trác, Trần Thanh Sơn

Tóm tắt: Độ không đảm bảo chuẩn của các nguyên tố trong bảng hệ thống tuần hoàn do Ủy ban Quốc tế Hóa học Tinh khiết và Ứng dụng cập nhật năm 2005 đã được ước lượng. Hơn nữa, chúng tôi đã áp dụng lý thuyết cơ bản và công thức toán học cụ thể để ước lượng độ không đảm bảo chuẩn, độ không đảm bảo chuẩn tương đối của các hợp chất thông dụng trong Hóa học. Hướng dẫn này là cơ sở dữ liệu đối với sinh viên đại học các ngành khoa học tự nhiên, cán bộ công tác trong phòng thí nghiệm có trách nhiệm ước lượng độ không đảm bảo đo và sẽ đặc biệt hữu ích cho sinh viên, cán bộ công tác trong lĩnh vực đo lường hóa học. 


         
43.  Độ không đảm bảo đo – natri clorua trong thủy sản

Nguyễn Đức Anh Trác

Tóm tắt: Bài báo này trình bày cách tiếp cận dưới-lên hay từng bước nhằm ước lượng độ không đảm bảo đo khi xác định hàm lượng natri clorua trong thủy sản theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3701-90. Tôi đã cụ thể công thức tính kết quả thử nghiệm và phác họa sơ đồ xương cá để nhận diện các thành phần gây ra độ không đảm bảo đo. Bằng một ví dụ cụ thể với hàm lượng natri clorua trong mẫu thủy sản là 13.2%, độ không đảm bảo mở rộng U là 0.16%, độ tin cậy 95% đã được ước lượng.


          44.  Bài học kinh nghiệm đạt công nhận ISO-15189:2007 cho các phòng thí nghiệm y tế và nghiên cứu tại Viện Pasteur Tp.HCM


Vũ Thị Quế Hương, Trần Ngọc Hữu

T
óm tắt: Các phòng thí nghiệm y tế và nghiên cứu của viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh đã được công nhận ISO-15189:2007 về các xét nghiệm sinh hóa, vi sinh (bao gồm vi khuẩn, vi-rút) từ cuối năm 2010. Sự nỗ lực, hợp tác, đoàn kết và quyết tâm của nhân viên phòng thí nghiệm với sự hỗ trợ tích cực của lãnh đạo viện giúp hoàn thành công tác chuẩn bị và đã được đánh giá thành công. Chúng tôi mong muốn chia sẻ kinh nghiệm về tiến trình hoạt động để đạt sự công nhận, những khó khăn, và các giải pháp thực hiện trong bài báo này. Sự cải tiến liên tục và cán bộ tận tâm là yếu tố chủ yếu cho việc duy trì đảm bảo chất lượng trong phòng thí nghiệm y tế và nghiên cứu đã được công nhận.
 
 
Tin tiếp theo




Hội Y học Dự phòng Việt Nam

Tạp chí Y học Dự phòng

Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP

Tiêm chủng mở rộng QG
Quảng cáo