Thời tiết
|
Các số báo đã phát hành năm 2009
Danh sách các bài báo đăng tại Tập XIX, số 8 (107) 2009
1. Sự ô nhiễm vi khuẩn tả tại một số cơ sở giết mổ, cung cấp thịt chó trên địa bàn Hà Nội năm 2009
Trần Như Dương, Vũ Đình Thiểm, Trần Huy Hoàng, Phạm Cẩm Hà, Nguyễn Bình Minh, Nguyễn Trần Hiển
Tóm tắt: Năm 2009, dịch tả đã xảy ra ở 16 tỉnh/thành phố miền Bắc Việt Nam với 1.332 ca mắc, trong đó 239 trường hợp được xác định dương tính với phẩy khuẩn tả bằng phương pháp nuôi cấy phân. Trong một nghiên cứu bệnh chứng được tiến hành trong vụ dịch tả xảy ra năm 2008 cho thấy thịt chó là một trong 3 yếu tố làm tăng nguy cơ mắc tả. Để xác định thêm vai trò của thịt chó liên quan đến các vụ dịch tả ở miền Bắc những năm gần đây, chúng tôi tiến hành điều tra cắt ngang một số cơ sở giết mổ chó để đánh giá sự ô nhiễm tại những nơi này. Cuộc điều tra được thực hiện vào tháng 5 năm 2009. Địa điểm điều tra là một số cơ sở giết mổ và cung cấp thịt chó chưa chế biến tại xã Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội. Tổng số 4 cơ sở giết mổ chó được tiến hành điều tra, lấy 34 mẫu xét nghiệm gồm: mẫu nước nguồn sử dụng trong quá trình giết mổ chó, mẫu thịt chó sau các công đoạn giết mổ, mẫu tăm bông quệt bề mặt dụng cụ sử dụng trong quy trình giết mổ chó, mẫu nước thải sau khi giết mổ và mẫu tăm bông ngoáy hậu môn chó sống và chó chưa mổ. Kết quả điều tra cho thấy khu vực giết mổ chó bị ô nhiễm nặng với phẩy khuẩn tả (Vibrio cholerae nhóm O1, típ sinh học Eltor, típ huyết thanh Ogawa), 3/4 điểm giết mổ có ít nhất 1 mẫu dương tính, có tới 29,4% mẫu xét nghiệm dương tính trên tổng số mẫu thu thập được. Các mẫu dương tính với phẩy khuẩn tả bao gồm: tăm bông quệt các dụng cụ làm thịt chó (xô, chậu, rổ, dao, thớt, bàn bày bán), mẫu thịt chó chưa chế biến sau khi mổ, nước thải sau khi mổ chó, bề mặt sàn nơi giết mổ chó. Đặc biệt có 02 mẫu tăm bông ngoáy hậu môn chó cũng dương tính với phẩy khuẩn tả. Tất cả các mẫu nước nguồn phục vụ trong quá trình giết mổ chó đều âm tính với phẩy khuẩn tả. Trong tình hình hiện tại, những biện pháp tăng cường quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm, tuyên truyền trong cộng đồng về bệnh tả và cách phòng chống, thực hiện ăn chín, uống sôi và đảm bảo tốt vệ sinh cá nhân vẫn là những biện pháp thiết yếu để làm giảm sự lây truyền của bệnh tả.
2. Biểu hiện lâm sàng nhiễm Penicillium Marneffei ở trẻ em HIV/AIDS
Bùi Vu Huy
Tóm tắt: 21 trẻ em HIV/AIDS nhiễm P.marneffei điều trị tại Khoa Truyền nhiễm - Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 9/2006 - 8/2009 đã được nghiên cứu. Kết quả cho thấy bệnh gặp những tháng mùa xuân, hè và thu, ở trẻ em thành thị cũng như nông thôn, hay gặp ở trẻ sống ở vùng trung du, vùng núi, có suy giảm miễn dịch năng chưa được điều trị bằng ARV, hoặc có hội chứng phục hồi miễn dịch, hoặc thất bại điều trị. Lâm sàng có sốt (100%), thiếu máu (95,24%), gầy yếu (85,7%), phổi có ran (80,95%), gan-lách to (80,95%), ban trên da (76,19%), li bì (71,43%), tế bào lympho và CD4 ở ngưỡng suy giảm miễn dịch nặng. Amphotericin B và Intraconazol có kết quả điều trị tốt. Cần phát triển kỹ thuật cấy, sinh học phân tử và xét nghiệm phát hiện kháng thể để chẩn đoán bệnh.
3. Xác định sự lưu hành của vi rút Banna ở Việt Nam và thử nghiệm chế tạo kháng thể kháng vi rút
Nguyễn Thị Tuấn, Bùi Minh Trang, Đỗ Phương Loan, Nguyễn Viết Hoàng, Lê Thị Hiền Thu, Phan Thị Ngà
Tóm tắt: Vi rút Banna, một vi rút Colti nhóm B, thuộc họ Reoviridae mới được phát hiện ở Việt Nam từ dịch não tuỷ bệnh nhân hội chứng não cấp, 2005. Nghiên cứu xác định sự lưu hành của vi rút Banna ở Việt Nam được thực hiện bằng kỹ thuật RT-PCR với cặp mồi đặc hiệu vi rút Banna để kiểm tra những mẫu phân lập từ muỗi trong các năm 2002 - 2006 (những mẫu có hiện tượng gây bệnh lý tế bào - CPE sau 24 - 72 giờ gây nhiễm). Kết quả có 12 mẫu được xác định dương tính bằng kỹ thuật RT-PCR trong số 35 mẫu kiểm tra. Như vậy, vi rút Banna được xác định lưu hành rộng rãi ở một số tỉnh miền Bắc, miền Trung, miền Nam và Tây nguyên. Trong nghiên cứu này, bước đầu xác định một số loài muỗi là véc-tơ truyền vi rút Banna đó là Cx. Annulus, Cx. Anvagus, Cx. Gelidus, Cx. Quinquefaciatus và Cx. Tritaeniorhynchus. Do vậy, cần phát triển sinh phẩm chẩn đoán đối với vi rút Banna. Sử dụng kháng nguyên vi rút Banna tinh chế bất hoạt có nguồn gốc từ chủng vi rút phân lập từ người năm 2005 để gây miễn dịch cho thỏ. Kết quả, thu được huyết thanh thỏ toàn phần đặc hiệu với kháng nguyên vi rút Banna. Nghiên cứu chế tạo IgG thỏ kháng vi rút Banna để phát triển sinh phẩm cho kỹ thuật ELI SA để chẩn đoán cũng như giám sát sự lưu hành của vi rút Banna ở Việt Nam sẽ được thực hiện trong nghiên cứu tiếp theo.
4. Giám sát an toàn tiêm chủng trong chiến dịch tiêm vắcxin sởi tại một số điểm thuộc 2 huyện Krông Park và Krông Năng tỉnh Đắc Lắc
Hoàng Thị Hồng, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn thị Hải Yến, Nguyễn Hoàng Tùng, Phạm Văn Ca, Lê Văn Phủng
Tóm tắt: Để đảm bảo vắc xin Sởi trong chương trình TCMR đạt tiêu chuẩn chất lượng đến tận người sử dụng, Viện Kiểm định Quốc gia vắc xin và sinh phẩm y tế đã tiến hành kiểm tra tính an toàn của 100% lô vắc xin trên phòng thí nghiệm trước khi sử dụng. Đồng thời phối hợp với văn phòng TCMR QG kiểm tra việc quản lý, sử dụng vắc xin này tại 1 số địa điểm thuộc địa bàn của 2 huyện Krông Park và Krông Năng tỉnh Đắc Lắc kết hợp lấy mẫu để kiểm tra công hiệu của vắc xin tại kho lạnh của tuyến tỉnh, huyên, xã và tại bàn tiêm. Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác quản lý, thực hành tiêm chủng, bảo quản vắc xin tại 5 địa điểm thuộc tỉnh Đắc lắc là rất tốt, vắc xin Sởi đạt an toàn và công hiệu theo tiêu chuẩn của WHO.
5. Chỉ số khối cơ thể (BMI)và tình trạng rối loạn chuyển hoá lipid máu ở 151 người có tuổi được bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ tại Bệnh viện Hữu Nghị
Bùi Đức Thắng, Trần Đình Toán
Tóm tắt: Kết quả nghiên cứu trên 151 đối tượng là cán bộ thuộc diện được bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ tại bệnh viện Hữu Nghị cho thấy 17,8% có BMI từ 25-29,9 (béo phì độ 1), 45,7% có cholesterol máu cao, 35,8% có triglycerid máu cao. Hai bệnh có tỷ lệ người mắc cao nhất là tăng huyết áp (45,7%) và bệnh cơ xương khớp (34,4%) . Bệnh đái tháo đường đứng thứ 7 với tỷ lệ 13,9%.
6. Nghiên cứu sản xuất cột sắc ký ái lực miễn dịch bắt Aflatoxin
Nguyễn Thị Nguyệt Thu, Dương Ngọc Diễm, Nguyễn Lê Trang, Trịnh Văn Quỳ
Tóm tắt: Chúng tôi đã sản xuất thành công cột sắc ký ái lực miễn dịch bắt aflatoxin dùng cho giai đoạn làm sạch mẫu. Chất lượng cột được đánh giá bằng kỹ thuật sắc ký lỏng cao áp với đầu dò huỳnh quang. Với thể tích cột 0,1 ml, dung lượng cột ³50 ng cho cả 4 loại aflatoxin B1, B2, G1, G2. Độ thu hồi ³ 90 % đối với chuẩn aflatoxin đơn B1,B2, G1 và 75% đối với chuẩn G2 ở lượng 50 ng/cột. Độ thu hồi ³90% đối với từng loại aflatoxin B1, B2, G1, G2 trong chuẩn aflatoxin tổng số (B1/B2/G1/G2 = 1/1/0,3/0,3) ở lượng 2,6 ng và 5,2 ng/cột. Giới hạn phát hiện đối với aflatoxin B1, B2, G1, G2 lần lượt là 0,066; 0,085; 0,08 và 0,133 ng. Giới hạn định lượng đối với aflatoxin B1, B2, G1, G2 lần lượt là 0,2; 0,255; 0,239 và 0,400 ng. Với các thông số kỹ thuật trên, cột có thể sử dụng để làm sạch mẫu trong định lượng aflatoxin.
7. Sự liên quan giữa gien Estrogen receptor a và bệnh vô sinh nam nguyên phát
Trần Quang Bình, Yutaka Nakahori
Tóm tắt: Nội tiết tố estrogen có ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của tinh hoàn trong thời kỳ bào thai và sơ sinh, cũng như sự sinh sản của nam giới. Do vậy, tính đa hình của gien estrogen receptor alpha (ERa) có thể ảnh hưởng đến bệnh vô sinh nam. Một nghiên cứu bệnh-chứng (n = 315) với 154 bệnh nhân nam vô sinh nguyên phát và 161 nam bình thường đã được thiết kế để kiểm tra mối liên quan giữa các SNP phổ biến trên gien ERa (rs2077647, rs4986934, rs4986934, rs1801132, rs2228480, rs2234693, và rs6932902) và bệnh vô sinh nam. Sự liên quan giữa các SNP và haplotype của gien ERa với bệnh được xác định bằng phân tích hồi quy đa biến logistic regression với sự hiệu chỉnh theo tuổi, chỉ số khối cơ thể và dòng nhiễm sắc thể Y. Kết quả cho thấy không có mối liên quan giữa mỗi SNP của gien ERa với bệnh vô sinh nguyên phát. Tuy nhiên, phân tích các haplotype đã bộc lộ vai trò bảo vệ của các haplotype TTACGG, TTAGAG, TTAGGA (chiếm 22,8%) so với haplotype phổ biến nhất TTAGGG (chiếm 15,8%). Do bệnh vô sinh nam có đặc điểm đa gien, cần có các nghiên cứu về vai trò của các yếu tố di truyền trong mối tương tác gen-gen và gien-môi trường trong sự phát sinh bệnh.
8. Tìm hiểu hoạt động của y tế thôn bản tại huyện Lương Tài, Bắc Ninh
Vũ Khắc Lương, Rơ Mah Huân
Tóm tắt: Nghiên cứu mô tả ngang, kết hợp định lượng và định tính tại huyện Lương Tài, Bắc Ninh, phỏng vấn y tế thôn bản (YTTB), thảo luận nhóm cán bộ y tế (CBYT) huyện, chính quyền, ban ngành và trạm y tế (TYT) xã tại hai xã lấy ngẫu nhiên nhằm tìm hiểu tình hình thực hiện nhiệm vụ của YTTB tại Lương Tài 6 tháng đầu năm 2008 và xác định một số yếu tố tác động tới thực hiện nhiệm vụ này của YTTB. Kết quả cho thấy đa số YTTB hoàn thành nhiệm vụ, trừ nhiệm vụ truyền thông: 75,6% hoàn thành. Yếu tố hỗ trợ là học vấn, trình độ chuyên môn, giao ban định kì tại TYT xã. Yếu tố không hỗ trợ là sự hạn chế kiểm tra, giám sát, thiếu thốn trang thiết bị (TTB) y tế, mức phụ cấp thấp và hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn của 61,3% YTTB.
9. Công tác quản lí số liệu và thực hiện an toàn tiêm chủng tại huyện Bình Xuyên - Vĩnh Phúc
Trần Mạnh Tùng, Tống Thiện Anh
Tóm tắt: Điều tra cắt ngang, có hồi cứu số liệu về quản lý sổ sách, báo cáo và thực hiện an toàn tiêm chủng tại 13 TYT xã của huyện Bình Xuyên - Vĩnh Phúc được thực hiện năm 2008. Kết quả cho thấy: 100% số xã có kế hoạch triển khai được lập trước khi tổ chức tiêm chủng; biểu đồ theo dõi tiến độ tiêm chủng được cập nhật đạt 53,8%. Một số tỷ lệ thấp: lưu lọ vắc xin đã qua sử dụng (53,8%), cán bộ chuyên trách mô tả được nghiệm pháp lắc (38,5%); tỷ lệ cán bộ chuyên trách biết bảo dưỡng định kỳ tủ lạnh (30,8%), biết bảo quản đúng phích vắc xin (69,2%), sử dụng đúng bình tích lạnh (46,2%); không có TYT nào đủ bình tích lạnh; không có TYT nào có chỉ thị đông băng điện tử, tỷ lệ có miếng xốp trên phích vắc xin (38,5%); tỷ lệ cán bộ chuyên trách sử dụng hộp an toàn đúng chỉ đạt 61,5%.
10. Bạo lực gia đình - vòng xoay âm thầm trong cộng đồng: nghiên cứu trường hợp tại huyện An Dương, Hải Phòng
Tóm tắt: Nghiên cứu này đã được tiến hành từ tháng 10/2005 đến tháng 5/2006 ở huyện An Dương – Hải Phòng, với mục tiêu tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và một số yếu tố liên quan đến BLGĐ đối với phụ nữ. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, chọn mẫu 30 cụm PPS trên 600 phụ nữ ở 3 xã và 1 thị trấn đại diện cho huyện. Phỏng vấn sâu 7 phụ nữ bị BLGĐ, 5 người từng chứng kiến BLGĐ, 2 nam giới gây BLGĐ và thảo luận 2 nhóm cán bộ đoàn thể cấp huyện và cấp xã.
Kết quả cho thấy, trong 12 tháng qua, tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực thể xác là 7,7%, bạo lực tinh thần là 19,6%, bạo lực về tình dục là 17,5%, và tỷ lệ phụ nữ bị BL phối hợp là 9,3%. Hậu quả nặng nề về mặt thể xác hiếm gặp trong tất cả các vụ bạo lực, tuy nhiên ảnh hưởng về mặt tinh thần để lại những hậu quả không nhỏ đối với phụ nữ trong thời gian. Bạo lựchầu như bỏ qua và chìm sâu trong mỗi gia đình, phụ nữ thường âm thầm chịu đựng, vai trò của cộng đồng và các cấp chính quyền khá mờ nhạt. Có thể nói vòng xoáy bạo lực vẫn diễn ra âm thầm trong cộng đồng, đã đến lúc phải trang bị đầy đủ kiến thức về bình đẳng giới cho phụ nữ để có thể lên tiếng khi cần can thiệp.
11. Mối liên quan giữa kiến thức - thái độ - hành vi chăm sóc răng miệng và bệnh răng miệng của học sinh lứa tuổi 11-14 tại trường Trung học cơ sở Hoàng Liệt - Quận Hoàng Mai - Hà Nội
Trương Mạnh Dũng
Tóm tắt: Mục tiêu nghiên cứu: mô tả thực trạng KAP về vệ sinh răng miệng của học sinh THCS lứa tuổi 11 - 14 ở Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội, năm 2008. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 397 học sinh THCS ở Hoàng Liệt, quận Hoàng mai được phỏng vấn về KAP vệ sinh răng miệng. Kết quả: học sinh đạt điểm giỏi (9-10) chiếm 18,39%, số học sinh đạt điểm khá (7-8) chiếm 66,25%. Có 15,37% học sinh có số điểm trung bình (dưới 7); 94,21% học sinh đánh răng từ 2 lần/ngày trở lên. Thời gian của một lần đánh răng từ 1-3 phút chiếm 63,44%. 100% học sinh có bàn chải riêng. Thời gian thay bàn chải từ 1-3 tháng chiếm 60,2%, chỉ 11,84% học sinh hơn 6 tháng mới thay bàn chải một lần; Học sinh có tình trạng vệ sinh răng miệng không tốt bị sâu răng cao gấp 1,53 lần so với học sinh có tình trạng vệ sinh răng miệng tốt (OR = 1,53); học sinh có tình trạng vệ sinh răng miệng không tốt bị viêm lợi cao hơn so với nhóm học sinh có tình trạng vệ sinh răng miệng tốt (OR = 9,94). Kết luận: Có 84,64% học sinh nghiên cứu đạt điểm kiểm tra kiến thức phòng bệnh vào loại khá giỏi. Học sinh nữ đạt điểm giỏi cao hơn học sinh nam. Tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các lứa tuổi và giới với mức điểm trung bình đạt được của các em. Tỷ lệ trẻ đánh răng 2 lần/ngày trở lên cao, 100% học sinh có bàn chải riêng và 60,20% được thay bàn chải trong vòng 1-3 tháng. Tuy nhiên thời gian đánh răng chủ yếu từ 1-3 phút/lần. Tỷ lệ học sinh bị sâu răng tăng cao ở nhóm học sinh có tình trạng vệ sinh răng miệng kém so với nhóm học sinh có tình trạng vệ sinh răng miệng tốt. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P < 0,05. Tỷ lệ học sinh bị viêm lợi cao hơn nhiều ở nhóm học sinh có tình trạng vệ sinh răng miệng kém so với nhóm học sinh có tình trạng vệ sinh răng miệng tốt. Sự khác biệt giữa hai tỷ lệ này có ý nghĩa thống kê với P < 0,001.
12. Hiệu quả can thiệp đến kiến thức thái độ thực hành và tỷ lệ mắc bệnh nấm da của người chăn nuôi lợn tại huyện Phú Bình - Thái Nguyên
Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, TS Đỗ Hàm , Nguyễn Quý Thái
Tóm tắt: Bằng phương pháp nghiên cứu can thiệp so sánh trước sau, có đối chứng. Chúng tôi áp dụng can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe, tư vấn điều trị cho 108 người chăn nuôi ở nhóm can thiệp tại Phú Bình Thái Nguyên. Sau can thiệp kiến thức, thái độ, thực hành của người chăn nuôi lợn về phòng bệnh nấm da tăng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 đến p < 0,05. Kiến thức tốt của người chăn nuôi phòng bệnh nấm da tăng 157,12% so với trước can thiệp ở nhóm can thiệp và tăng 142,84% so với nhóm chứng. Thái độ và thực hành đúng của người chăn nuôi về phòng bệnh nấm da tăng 92,60% và 139,96% so với trước can thiệp ở nhóm can thiệp và tăng 79,70%, 133,29% so với nhóm chứng. Tỷ lệ mắc bệnh nấm da của người chăn nuôi lợn ở nhóm can thiệp giảm 62,79% so với trước can thiệp và giảm 55,81% so với nhóm chứng, có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 đến p < 0,05. Các tác giả đề nghị cần tiếp tục duy trì biện pháp can thiệp và mở rộng mô hình can thiệp ra cộng đồng chăn nuôi lợn hộ gia đình.
13. Sử dụng Sumilav 0.5g - tác nhân diệt ấu trùng muỗi
Nguyễn Thúy Hoa, Hoàng Minh Đức, Trần Anh Dũng
Tóm tắt: Sumilav 0.5G là một loại chế phẩm tương tự hormon non do công ty hoá chất Sumitomo Chemical Nhật Bản chế tạo, có tác dụng ức chế sự phát triển của ấu trùng muỗi. Sumilav 0.5G đã được sử dụng để diệt các loại ấu trùng của một loạt muỗi như Anopheles, Aedes, Culex tại nhiều nước trên thế giới như Nhật, Mỹ, Tanzania, đảo Solomon... Sản phẩm này được thử nghiệm trong phòng thí nghiệm hoá diệt, khoa Côn trùng & Động vật y học. Kết quả cho thấy Sumilav 0.5G có hiệu lực diệt ấu trùng muỗi Ae. Aegypti cao qua quá trình ức chế cao sự biến thái của muỗi, an toàn, có tác dụng tồn lưu 3 tháng. Có thể sử dụng sản phẩm này để diệt ấu trùng muỗi trong nước sinh hoạt, ao hồ, nước đọng... đơn giản, thuận tiện không cần dùng máy phun.
Tin tiếp theo
|
Hội Y học Dự phòng Việt Nam
Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP
|