Thời tiết
|
Hỏi đáp về dịch bệnh: Dịch bệnh khác
Chưa từng ghi nhận trường hợp mắc bệnh do bọ xít truyền
TS Hồ Đình Trung, Phó Viện trưởng Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TƯ cho biết thêm, loại bọ xít hút máu rồi gây bệnh ngủ Chaga mới ghi nhận ở một số quốc gia ở Trung và Nam Mỹ. Nếu bị đốt, người bệnh sẽ sốt cao, tiêu chảy, buồn ngủ, khi chuyển từ thể cấp sang thể mạn, sẽ để lại hậu quả nguy hiểm. Ở Việt Nam cũng có loại bọ xít này nhưng khả năng truyền bệnh của nó là rất thấp, nếu không nói là hầu như không có. Đến thời điểm này chưa ghi nhận một trường hợp nào tại Việt Nam mắc bệnh Chaga, do nguồn lây bệnh thấp.
“Bọ xít hút máu người là một loại trung gian truyền bệnh, nó chỉ gây bệnh khi hút máu ở nguồn mang bệnh. Nhưng ở Việt Nam không có mầm bệnh, giả sử nếu có mầm bệnh thì cũng cực kỳ ít vì thế bọ xít bị nhiễm bệnh rất nhỏ. Nguy cơ lây bệnh sang người cũng không đáng kể. Đến thời điểm này, nước ta chưa ghi nhận một trường hợp nào mắc bệnh Chaga", TS. Trung nói.
Cùng quan điểm này, TS Trương Xuân Lam, Trưởng phòng Côn trùng học Thực nghiệm, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (Viện khoa học và công nghệ Việt Nam), người trực tiếp tìm thấy những mẫu bọ xít này tại Việt Nam cũng khẳng định, cho đến thời điểm này, tại Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp nào mắc bệnh do bọ xít hút máu truyền.
|
TS Lam và các mẫu bọ xít ghi nhận được tại một số vùng trung du và
Hà Nội (Ảnh: P.Linh)
|
Còn tại một số nước trên thế giới như tại khu vực Trung và Nam Mỹ, đã ghi nhận nhiều bệnh nhân mắc bệnh Chaga, bệnh về máu do bọ xít hút máu truyền. Nguy hiểm của căn bệnh này là biểu hiện bệnh muộn, thường có triệu chứng sau một đến ba tháng đầu bị đốt, biểu hiện mệt mỏi, chóng mặt, đau đầu và ngủ vặt nhiều. Mầm bệnh có thể ủ trong cơ thể người và làm mất dần khả năng miễn dịch, gây các bệnh về máu như tắc nghẽn mạch máu, rung tim…
Xuất hiện bọ xít hút máu người tại Hà Nội
TS Lam cho biết, loại bọ xít hút máu người này thường sống ở vùng trung du. Năm 2008, ông đã thu được mẫu bọ xít hút máu người ở một số khách sạn, nhà nghỉ ở Tam Đảo, Đại Lải (Vĩnh Phúc) và Ba Vì. Tuy nhiên mới đây, các mẫu tương tự (cả ấu trùng và con trưởng thành) đã được tìm thấy tại Hà Nội, ở khu vực quận Hà Đông, Nghĩa Đô (Cầu Giấy), một khách sạn ở Gia Lâm và ở Cầu Đất... Theo TS Lam, loài bọ xít này xuất hiện tại Hà Nội, có khả năng chúng theo đồ đạc từ những người đi du lịch về và sinh sôi phát triển.
Đặc trưng của loài côn trùng này là thường hoạt động vào ban đêm, khi con người, động vật đang ngủ say thì bò ra hút máu. Đây là nguyên nhân khiến nhiều người ít biết đến loài côn trùng này, sau khi tỉnh dậy thấy vết côn trùng đốt, nhất là ở trẻ em, vết đốt có thể khả to, đỏ, phồng xung quanh nhưng nhiều người cho rằng là vết muỗi, kiến đốt.
|
Hình dáng của bọ xít hút máu người không tròn như bọ xít thường
thấy ở cây nhãn, vải mà có hình dẹt, dài, nâu. (Ảnh: P.Linh)
|
Người dân có thể nhận biết loại côn trùng này, khi nhìn thấy nó với các biểu hiện, có màu nâu, nhỏ hơn bọ xít ở cây nhãn. Nếu thấy chúng xuất hiện trong nhà, khe tủ, dưới đệm, giường tốt nhất là dùng vải ẩm chụp lên, giữ chặt cho côn trùng chết hẳn rồi bỏ vào thùng rác. Ngoài ra cũng có thể ngăn cản sự sinh sôi, phát triển của loài côn trùng này trong nhà bằng cách vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, khô ráo, thường xuyên vệ sinh các nơi ẩm thấp như khe giường, gầm tủ, gầm giường, dưới đệm. Nhất là nhà có trẻ em, nếu em bé tè dầm, đánh đổ nước ra đệm… cần phơi phóng khô giáo sẽ phòng được nguy cơ bọ xít cũng như nhiều loại côn trùng khác, nấm mốc… sinh sôi phát triển.
Còn không may khi bị đốt, nên rửa sạch chỗ vết đốt dưới vòi nước chảy. Nếu vết đốt sưng nặng nề, khó chịu, ngứa thì nên đến bác sĩ da liễu, tùy từng trường hợp bác sĩ sẽ kê thuốc bôi chống viêm tại chỗ, hoặc có thể sử dụng thuốc giảm đau, kháng sinh tùy từng trường hợp.
Bệnh cảnh viêm màng não ở liên cầu lợn:
Người bệnh sốt cao, đau đầu, buồn nôn, nôn, ù tai, điếc, cứng gáy, rối loạn tri giác... xuất huyết đa dạng ở một số nơi trên cơ thể. Một số trường hợp xuất hiện các triệu chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc tiêu hóa: sốt, đi cầu nhiều lần, phân lỏng, cơ thể lạnh, run... trước khi có biểu hiện của viêm màng não.
Trường hợp nặng: Sốc nhiễm độc, trụy mạch, cơ thể lạnh, tụt huyết áp, nhiễm khuẩn huyết cấp tính, rối loạn đông máu nặng, suy hô hấp, suy đa phủ tạng... hôn mê và tử vong.
Chẩn đoán xác định:
Tìm thấy S.suis gây bệnh (thường là S.suis týp II) khi nuôi cấy bệnh phẩm (máu người bệnh hoặc các mô, tổ chức bị tổn thương) hoặc tiến hành làm xét nghiệm huyết thanh học hoặc làm phương pháp sinh học phân tử (PCR). Cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh tương tự viêm màng não do não mô cầu, viêm màng não do Haemophilus Influenzae, sốt xuất huyết thể nặng.
Xét nghiệm cần làm:
- Loại mẫu bệnh phẩm: máu người bệnh, các mô, tổ chức bị tổn thương.
- Phương pháp xét nghiệm:
+ Phân lập liên cầu: Cấy máu, lấy khuẩn lạc nhuộm soi thấy hình ảnh liên cầu gram (+), tiếp đó quan sát hiện tượng dung huyết alpha và beta trên môi trường thạch máu cừu và ngựa.
+ Thực hiện phản ứng kháng thể huỳnh quang phát hiện vi khuẩn tại các mô bị nhiễm.
+ Làm phản ứng PCR là phương pháp chính xác nhất.
Tác nhân gây bệnh
- Tác nhân gây bệnh liên cầu lợn là một loại liên cầu khuẩn có tên là Streptococcus suis (S.suis). Vi khuẩn gram dương, hình cầu hay hình ô van, kỵ khí tùy tiện. Ở động vật, vi khuẩn thường cư trú ở đường hô hấp trên đặc biệt là xoang mũi và hạch hạnh nhân. Tuy nhiên, vi khuẩn cũng có thể có trong đường tiêu hóa và đường sinh dục của lợn. Dựa vào đặc điểm của các polysaccharid ở lớp vỏ bọc vi khuẩn, người ta đã xác định vi khuẩn có 35 týp huyết thanh. Trong đó, S.suis týp II thường gây bệnh ở người. S.susi chủ yếu sống ở lợn nhà nhưng đôi khi cũng tìm thấy ở các loài lợn rừng, ngựa, chó, mèo và chim. S.suis có thể tồn tại lâu trong phân, nước, rác. Như vậy, môi trường đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền bệnh của vi khuẩn. S.suis dễ bị tiêu diệt bởi các chất sát khuẩn và tẩy rửa, có thể điều trị hiệu quả bằng kháng sinh.
Nguồn truyền nhiễm
- Ổ chứa: Lợn nhà, có thể cả lợn rừng, ngựa, chó, mèo và chim. Các véc-tơ có khả năng truyền bệnh bao gồm ruồi, gián, chuột.
- Thời gian ủ bệnh: Thời gian ủ bệnh ngắn, chỉ từ vài giờ đến 3 ngày.
- Thời kỳ lây truyền: Hiện nay chưa được biết đầy đủ. Khả năng khi lợn bị bệnh, vi khuẩn S.suis biến đổi và tăng độc tính mới lây nhiễm cho người. Chưa thấy có sự lây truyền bệnh từ người sang người.
Phương thức lây truyền
- Streptococcus suis có thể lây truyền qua người khi tiếp xúc với lợn bệnh hay lợn mang vi khuẩn qua các tổn thương nhỏ, trầy xước trên da của những người giết mổ, chế biến và ăn thịt lợn bệnh hay lợn mang vi khuẩn nấu không chín. Hiện nay, chưa có bằng chứng bệnh liên cầu khuẩn có thể lây trực tiếp từ người sang người.
- Lợn mang vi khuẩn là nguồn lây nhiễm chính. Bệnh có thể truyền qua đường hô hấp, các chất bài tiết, máu của lợn bệnh, lây lan thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc lây qua kim tiêm nhiễm khuẩn. Vi khuẩn có thể vẫn có mặt ở hạch hạnh nhân của lợn sau khi đã được điều trị bằng kháng sinh penicillin. Lợn nái có thể mang vi khuẩn trong tử cung và âm đạo. Lợn có thể bị nhiễm vi khuẩn ở bất kỳ tuổi nào. Khả năng nhiễm và gây bệnh của vi khuẩn ở lợn con cao hơn ở lợn trưởng thành. Các đàn lợn con trong trạng thái chịu stress và tiếp xúc với nguồn bệnh sẽ có khả năng phát bệnh cao.
- Phân, chất độn chuồng, các loại thức ăn và nước uống trong chuồng nuôi có thể trở thành nguồn bệnh thứ cấp. Các động vật khác có khả năng truyền bệnh bao gồm ruồi, gián, chuột.
Tính cảm nhiễm và miễn dịch
- Ở lợn: Có thể bị nhiễm vi khuẩn ở bất kỳ tuổi nào. Khả năng nhiễm và gây bệnh của vi khuẩn ở lợn con cao hơn ở lợn trưởng thành.
- Ở người: Hiện nay chưa được biết đầy đủ.
- Những người có nguy cơ nhiễm bệnh cao: người làm việc ở trại chăn nuôi lợn, người giết mổ gia súc, cán bộ thú y, người ăn tiết canh lợn hoặc ăn thịt lợn ốm chết.
|
*Người có nguy cơ lây nhiễm và phát bệnh khi tiếp xúc với lợn bệnh hoặc các sản phẩm từ lợn bệnh. Biểu hiện lâm sàng chính là: viêm màng não, xuất huyết, viêm phổi, viêm cơ tim và viêm khớp. Những người bị bệnh nặng có thể tử vong do độc tố vi khuẩn gây sốc nhiễm khuẩn, viêm nội tâm mạc, suy đa phủ tạng, nhiễm khuẩn huyết... Tỷ lệ chết có thể tới 7%.
Bệnh liên cầu lợn thuộc nhóm B trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm, ICD-10 B95: Streptococcus suis diseases.
* Theo một nghiên cứu gần đây của Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP. Hồ Chí Minh cho thấy bệnh này có khuynh hướng xảy ra vào mùa hè nắng nóng, 58 bệnh nhân (81%) là nam giới. Phần lớn bệnh nhân là nông dân, 38% bệnh nhân có tiền sử tiếp xúc với lợn hay thịt lợn, tuy nhiên chỉ có 6 bệnh nhân (8%) có tổn thương da nghi ngờ. 69 bệnh nhân (96%) biểu hiện bệnh cảnh viêm màng não như: sốt, nhức đầu, ói, cổ cứng, rối loạn tri giác là những triệu chứng thường gặp. 68% trường hợp viêm màng não mủ có triệu chứng ù tai, điếc. Một bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bị sốc do nhiễm độc tố liên cầu. Sau 10 - 14 ngày dùng kháng sinh ceftriaxon, hầu hết bệnh nhân đều hồi phục. Tất cả các chủng vi khuẩn phân lập được còn nhạy cảm với penicillin và ceftriaxon.
|
Các biện pháp phòng, chống dịch
- Biện pháp phòng bệnh:
Đối với người giết mổ lợn phải tuân theo các quy định: Không giết mổ lợn bị bệnh; không được sử dụng thịt lợn chết làm thức ăn cho động vật khác và phải xử lý lợn bị bệnh chết triệt để, tránh gây nhiễm ra môi trường và cộng đồng; mang các dụng cụ bảo vệ cá nhân cần thiết (găng tay, khẩu trang, kính, mũ...), bảo đảm các vết xước, vết thương không tiếp xúc với lợn hay các sản phẩm của lợn; nơi giết mổ phải bảo đảm vệ sinh môi trường sạch sẽ, tách biệt với khu chế biến thức ăn.
Đối với người mua bán thịt lợn: Không mua, bán lợn bị bệnh; không mua bán lợn, thịt lợn không rõ nguồn gốc; chỉ mua lợn, thịt lợn có nguồn gốc, không bị bệnh và có dấu hiệu kiểm dịch của cơ quan thú y.
Đối với người tiêu dùng: Không ăn thịt lợn sống, không ăn tiết canh, nội tạng lợn chưa được nấu chín, không ăn thịt lợn và sản phẩm từ lợn không rõ nguồn gốc; không tiếp xúc với sản phẩm từ lợn còn sống khi tay có vết xây xước, trừ khi mang găng bảo vệ.
Đối với người chế biến thức ăn: Giữ cho khu vực chế biến thức ăn sạch sẽ và rửa tay sau khi thao tác; khi lưu trữ, bảo quản thịt sống phải tách biệt với nơi bảo quản thịt đã qua chế biến hoặc sản phẩm ăn sẵn để tránh lây nhiễm bệnh; không dùng dụng cụ chế biến thịt sống để chế biến thịt (dao, thớt); rửa tay sạch bằng xà phòng sau khi chế biến thịt; sản phẩm phải được nấu chín kỹ trước khi ăn...
- Biện pháp chống dịch: Khi nhận thấy có dịch liên cầu khuẩn xảy ra thì phải xử lý như xử lý một ổ dịch truyền nhiễm:
+ Tăng cường giám sát phát hiện sớm các trường hợp bị nghi nhiễm liên cầu lợn, nên đưa ngay đến bệnh viện để điều trị kịp thời, đặc biệt chú ý giám sát những đối tượng có tiếp xúc gần với lợn bị bệnh như người chăn nuôi, giết mổ và buôn bán lợn.
+ Khoanh vùng, phun khử trùng môi trường vùng có dịch bằng chloramin B 3-5%.
+ Nghiêm cấm hoàn toàn việc di chuyển và giết mổ lợn. Không giết mổ, vận chuyển lợn bệnh, lợn chết phải tiêu hủy đúng cách.
+ Lợn ốm, chết phải chôn, đổ thuốc sát khuẩn và tiêu hủy. Chuồng trại và môi trường chăn nuôi phải phun thuốc sát khuẩn, khử khuẩn. Để trống chuồng 2 tuần mới nuôi lợn trở lại.
- Nguyên tắc điều trị: Lưu ý phát hiện sớm các trường hợp có biểu hiện viêm màng não và có tiếp xúc với lợn bị bệnh, chẩn đoán và điều trị kịp thời nhằm giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng.
Điều trị kháng sinh đặc hiệu penicillin liều cao: uống, tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch, thường phải điều trị trên 10 ngày. Có thể dùng các kháng sinh khác cũng hiệu quả như: ampicillin, erythromycin hoặc nhóm cephalosporin.
Điều trị triệu chứng và áp dụng các biện pháp hồi sức tích cực nếu có biến chứng nặng.
Lọc máu nếu có điều kiện.
- Kiểm dịch y tế biên giới: Thực hiện nghiêm ngặt công tác kiểm dịch quốc tế khi xuất, nhập lợn qua biên giới để không đưa mầm bệnh từ nước ngoài xâm nhập vào nước ta và ngược lại.
TS. Trần Thanh Dương
(Phó Cục trưởng Cục Y tế dự phòng)
(theo báo SKĐS)
Trong số báo này, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của TS. Trần Như Dương - Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ TW để bạn đọc có thêm kiến thức chủ động phòng ngừa dịch bệnh.
Bệnh cúm ở lợn là gì?
Bệnh cúm lợn là một bệnh nhiễm virut đường hô hấp cấp tính của lợn và có khả năng lây nhiễm cao. Bệnh do một trong nhiều chủng virut cúm A của lợn gây ra. Virut lây lan trong đàn lợn thông qua đường hô hấp (do hít phải các hạt nhỏ li ti bắn ra từ đường hô hấp của lợn nhiễm bệnh) hoặc qua tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp trong đàn lợn với nhau. Đã phát hiện tình trạng lợn nhiễm khuẩn không biểu hiện triệu chứng (lợn lành mang virut). Dịch ở lợn xảy ra quanh năm, ở những vùng ôn đới, tỷ lệ mắc bệnh thường cao vào mùa thu - đông. Nhiều nước trên thế giới đã triển khai tiêm vaccin cúm lợn thường xuyên cho đàn lợn.
Phân týp cúm H1N1 là phân týp phổ biến nhất trong số các loại virut cúm ở lợn, ngoài ra các phân týp khác cũng lưu hành ở lợn như: H1N2, H3N1, H3N2. Lợn cũng có khả năng bị nhiễm virut cúm gia cầm và virut cúm thường ở người. Virut cúm lợn H3N2 đã được cho rằng có nguồn gốc từ virut cúm từ người lây truyền sang. Đôi khi lợn có thể bị nhiễm nhiều loại virut cúm trong cùng một thời điểm (cúm lợn, cúm người, cúm gia cầm...), điều này sẽ tạo điều kiện cho việc trao đổi vật liệu di truyền giữa các loại virut cúm với nhau trong cơ thể lợn, và kết quả sẽ xuất hiện một loại virut cúm mới có chứa vật liệu di truyền từ nhiều loại virut khác nhau. Mặc dù virut cúm lợn thường chỉ gây nhiễm đặc hiệu cho lợn, tuy nhiên trong một điều kiện nào đó nó có thể vượt qua hàng rào loài để gây bệnh cho người.
Virut cúm lợn có ảnh hưởng gì đến sức khỏe con người?
Những vụ dịch và những trường hợp mắc bệnh cúm lợn tản phát ở người đã từng được ghi nhận trên thế giới. Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm lợn ở người nhìn chung tương tự như bệnh cúm thường ở người với những biểu hiện lâm sàng rất rộng, từ nhiễm trùng không triệu chứng tới viêm phổi nặng và tử vong. Do biểu hiện lâm sàng của bệnh cúm lợn ở người rất giống với bệnh cúm thông thường và những bệnh nhiễm trùng đường hô hấp khác, nên phần lớn các ca bệnh cúm lợn ở người được xác định một cách tình cờ thông qua hệ thống giám sát cúm thường xuyên. Những trường hợp cúm lợn ở người nhẹ hoặc không triệu chứng thường không được ghi nhận và báo cáo, do vậy mức độ ảnh hưởng thực sự của cúm lợn đến sức khỏe con người chưa được đánh giá đầy đủ.
Bệnh cúm lợn được lây truyền sang người như thế nào?
Thông thường, người bị nhiễm virut là do tiếp xúc với lợn bị bệnh. Tuy nhiên, một số trường hợp không phát hiện được tiền sử phơi nhiễm giữa người bị bệnh với lợn hoặc với môi trường liên quan đến lợn. Lây truyền người - người trong bệnh cúm lợn ở người cũng đã xảy ra ở một số trường hợp trong quá khứ, tuy nhiên thường chỉ hạn chế ở những người tiếp xúc gần gũi với nhau.
Có an toàn khi ăn thịt lợn và các sản phẩm từ lợn không?
Câu trả lời là an toàn. Vì nếu thịt lợn và các sản phẩm từ lợn được chế biến và đun nấu đúng cách thì cúm lợn không có khả năng lây truyền sang người do virut cúm lợn bị giết chết ở 70oC.
Dịch cúm ở lợn đã xảy ra ở những nước nào?
Từ năm 2007 đến nay, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ghi nhận các ca cúm lợn ở người tại Mỹ và Tây Ban Nha.
Do bệnh cúm lợn là bệnh không bắt buộc phải báo cáo cho Tổ chức Thú y Quốc tế, chính vì vậy phân bố quốc tế của bệnh cúm lợn vẫn chưa được xác định đầy đủ. Bệnh cúm ở lợn được cho là lưu hành ở Mỹ, ngoài ra cũng ghi nhận tại Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Âu (bao gồm Vương quốc Anh, Thụy Điển, Italia), châu Phi (Kenya) và một vài vùng khác ở Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản).
Liệu cúm lợn có khả năng gây đại dịch ở người không?
Nhiều khả năng là hầu hết mọi người không có miễn dịch với virut cúm lợn, đặc biệt là những người không thường xuyên tiếp xúc với lợn. Nếu một virut cúm lợn biến đổi hoặc tái tổ hợp với các loại virut cúm khác tạo ra một chủng virut cúm mới có khả năng lây truyền từ người sang người thì nó có thể gây đại dịch. Hậu quả của đại dịch gây ra bởi virut cúm này là rất khó dự đoán, nó tùy thuộc vào độc lực của virut, tình trạng miễn dịch của cộng đồng, khả năng bảo vệ chéo của kháng thể virut cúm thường có sẵn trong cơ thể người, cũng như yếu tố cơ địa của từng cá thể. Virut cúm lợn có thể tái tổ hợp với virut cúm thường ở người để biến đổi thành một loại virut có khả năng gây đại dịch.
Vaccin cúm người có khả năng bảo vệ chống lại virut cúm lợn không?
Các loại virut cúm thường biến đổi rất nhanh, do đó việc sử dụng vaccin phù hợp với các chủng virut đang lưu hành là rất quan trọng để bảo vệ người được tiêm vaccin. Chính vì vậy WHO phải phân tích và lựa chọn chủng virut để sản xuất vaccin 2 lần/năm, một lần cho mùa đông của Bắc bán cầu và một lần cho khu vực Nam bán cầu. Vaccin cúm mùa hiện tại được sản xuất dựa trên các khuyến nghị của WHO không bao gồm virut cúm lợn, chính vì vậy không biết vaccin cúm mùa hiện tại có khả năng tạo miễn dịch chéo chống lại virut cúm lợn đang lưu hành tại Mỹ và Mexico hay không. WHO đang phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn để đánh giá và chỉ có thể đưa ra được các khuyến nghị về vấn đề này trong thời gian tới.
Thuốc nào để điều trị bệnh cúm lợn ở người?
Các thuốc kháng virut hiện tại để điều trị bệnh cúm thường được cho là cũng có hiệu quả trong phòng và điều trị bệnh cúm lợn ở người. Có 2 loại thuốc kháng virut thường được sử dụng: 1) adamantanes (amantadin và remantadin), 2) Thuốc ức chế men neuraminidase (oseltamivir và zanamivir). Hầu hết những ca cúm lợn ở người được báo cáo trước đây đều khỏi hoàn toàn mà không cần điều trị gì. Qua theo dõi thấy rằng một vài chủng virut cúm đã kháng với thuốc kháng virut, điều này làm hạn chế hiệu quả trong việc phòng và điều trị bệnh cúm. Chủng virut cúm hiện tại phân lập được từ những bệnh nhân cúm lợn ở người tại Mỹ được xác định vẫn còn nhạy cảm với oseltatmivir và zanamivir nhưng đã kháng với amantadin và remantadin. Tuy nhiên, những thông tin hiện tại là chưa đủ để có thể đưa ra được khuyến nghị về việc sử dụng thuốc kháng virut trong phòng và điều trị bệnh cúm lợn ở người trong giai đoạn hiện nay. Các thầy thuốc lâm sàng phải tự đưa ra quyết định dựa vào các đánh giá về triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học, cũng như phải cân nhắc về hiệu quả giữa cái lợi và cái hại của việc dùng thuốc kháng virut cho bệnh nhân. Đối với vụ dịch cúm lợn ở người đang xảy ra tại Mỹ và Mexico, nhà chức trách của những nước này đang khuyến nghị việc sử dụng oseltamivir hay zanamivir trong phòng và điều trị bệnh (các nước này dựa vào phân tích tính nhạy cảm của virut đối với các thuốc trên tại thời điểm hiện tại).
Bạn nên làm gì nếu thường xuyên phải tiếp xúc với lợn?
Phần lớn người bị mắc bệnh là do tiếp xúc gần gũi với lợn bị bệnh. Chính vì vậy cần hạn chế tối đa việc tiếp xúc giữa người với lợn ốm. Tuyệt đối không giết mổ, chế biến hay tiêu thụ lợn ốm, chết. Cần báo cho cơ quan thú y ngay tình trạng lợn ốm, chết để xác định nguyên nhân và có biện pháp xử lý tiêu hủy lợn ốm, chết đúng quy định.
Vấn đề vệ sinh và phòng hộ cá nhân là rất quan trọng đối với những người có tiếp xúc với lợn, đặc biệt trong quá trình giết mổ và chế biến sau giết mổ (đeo khẩu trang, kính, mũ, găng tay, đi ủng và mặc quần áo bảo hộ).
Cúm lợn không có khả năng lây truyền sang người qua đường ăn uống nếu thịt lợn và các sản phẩm từ lợn được chế biến và nấu đúng cách vì virut cúm lợn sẽ bị giết chết ở 70oC.
Nếu trong nhà có một người nghi mắc bệnh cần thông báo ngay cho cơ quan y tế gần nhất.
Trong khi chờ đợi sự giúp đỡ của cơ quan y tế, cần:
Cách ly người bệnh tại một khu vực nhất định trong nhà. Nếu phải tiếp xúc, cần đeo khẩu trang bịt kín miệng và mũi, giữ khoảng cách tối thiểu hơn 1m; người bệnh cần đeo khẩu trang bịt kín miệng và mũi; rửa tay kỹ bằng xà phòng với nước sạch sau mỗi lần tiếp xúc với bệnh nhân; tăng cường thông khí trong khu vực nhà có bệnh nhân bằng cách mở các cửa ra vào và cửa sổ; thường xuyên lau nền nhà, tay nắm cửa và bề mặt các đồ vật trong nhà bằng các chất tẩy rửa thông thường.
Phải làm gì khi nghi bị mắc bệnh cúm lợn?
Nếu bạn xuất hiện các triệu chứng người mệt mỏi, sốt cao, ho và/hoặc đau họng. Bạn cần: thông báo ngay cho cơ sở y tế gần nhất để được khám và điều trị; ở nhà, nghỉ làm, nghỉ học, tránh tiếp xúc chỗ đông người; nghỉ ngơi và uống nhiều nước; đeo khẩu trang, bịt kín miệng và mũi thường xuyên; che kín miệng, mũi trước khi ho và hắt hơi bằng giấy thấm mềm, sau đó huỷ bỏ giấy đúng cách; rửa tay bằng xà phòng và nước sạch thường xuyên, đặc biệt sau khi ho và hắt hơi. Thông báo cho gia đình và bạn bè biết về tình trạng sức khỏe của mình, yêu cầu hạn chế người đến thăm. Nếu cần phải ra ngoài để mua bán cho sinh hoạt hằng ngày, nên đề nghị người thân giúp đỡ, tránh tiếp xúc với bên ngoài.
TS. BS. Trần Như Dương
(Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương)
|
Phòng lây nhiễm bệnh cúm lợn từ người sang người như thế nào?
Tránh những tiếp xúc với người có triệu chứng như mệt mỏi, sốt và ho. Khi cần thiết phải tiếp xúc với người bệnh phải đeo khẩu trang y tế, đeo kính... Rửa tay kỹ bằng xà phòng với nước sạch thường xuyên; tránh tối đa việc chùi tay lên mắt và mũi; sử dụng các thuốc sát khuẩn đường mũi, họng, mắt hàng ngày như súc miệng bằng nước sát khuẩn (nước muối loãng, dung dịch TB, Listerin...) hoặc dung dịch nước tỏi. Vệ sinh mắt, mũi bằng nước muối sinh lý, hoặc các thuốc nhỏ mắt, nhỏ mũi thông thường là cần thiết và hiệu quả trong phòng bệnh. Hạn chế tập trung đông người, hội họp, đặc biệt tại những phòng chật hẹp, ít thông khí ở khu vực nghi có dịch. Không cho trẻ em dùng chung đồ chơi hoặc đồ vật dễ bị ô nhiễm dịch tiết mũi họng trong khu vực nghi có dịch. Giữ ấm không để bị nhiễm lạnh (mặc đủ ấm, tránh nước mưa, tránh bị ướt...). Tăng cường sức khỏe bằng cách ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý và rèn luyện thân thể.
|
Theo sức khỏe đời sống
Trước những năm 1990, Haemophilus influenza type B là nguyên nhân hàng đầu của viêm màng não vi khuẩn. Hib vaccine bây giờ được chủng ngừa cho tất cả trẻ em như là chủng ngừa thường quy. Vaccine này đã làm giảm số trường hợp của nhiễm Hib và số viêm màng não có liên quan. Viêm màng não do Streptococcus pneumonia và Neisseria là nguyên nhân hàng đầu của viêm màng não do vi khuẩn.
* Sốt cao, đau đầu và cứng cổ là những triệu chứng thông thường của viêm màng não của bất kỳ trẻ trên 2 tuổi. Những triệu chứng này có thể tiến triển trong nhiều giờ hoặc có thể kéo dài 1- 2 ngày. Những triệu chứng khác có thể bao gồm buồn nôn, nôn ói, cảm thấy khó chịu khi thấy ánh sáng, mơ hồ và buồn ngủ. Ở trẻ sơ sinh và nhũ nhi, triệu chứng cổ điển của sốt, đau đầu và cứng cổ có thể không có hoặc khó phát hiện. Trẻ nhỏ bị viêm màng não có thể biểu hiện chậm chạp hoặc không sinh động, có nôn ói, bứt rức, hoặc là ăn, bú kém. Khi bệnh tiến triển, bệnh nhân ở bất cứ độ tuổi nào cũng có thể bị co giật.
* Viêm màng não do vi trùng có lây không? Một số dạng viêm màng não do vi trùng thì lây. Vi trùng có thể chủ yếu lây từ người này sang người khác qua sự tống xuất của dịch họng và dịch hô hấp. Điều này xảy ra qua việc ho, hôn nhau, hoặc là nhảy mũi. Một số vi trùng gây ra viêm màng não lây lan cho người khác do có tiếp xúc gần hoặc là tiếp cận lâu ngày với bệnh nhân viêm màng não do Neisseria menigitidis (viêm não mô cầu) hoặc Hib.
* Có vaccine ngừa viêm màng não do vi trùng không? Có vaccine ngừa Hib, ngừa một số loại của N.menigitidis và nhiều loại của Streptococcus pneumoniae. Các vaccine này an toàn và có hiệu quả cao.
* Viêm màng não do siêu vi là gì? Viêm màng não là tình trạng viêm màng bao phủ não và tủy sống. Nhiễm siêu vi là nguyên nhân thường nhất của viêm màng não, nhiễm vi trùng là nguyên nhân thứ hai. Những cái khác, những nguyên nhân ít gặp hơn của viêm màng não là do nấm, ký sinh và những nguyên nhân không gây viêm bao gồm những thứ có liên quan đến thuốc.
* Có phải viêm màng não do siêu vi là một bệnh nghiêm trọng không? Viêm màng não do virus thì nghiêm trọng nhưng hiếm khi gây tử vong ở những người có hệ miễn dịch bình thường. Thông thường, triệu chứng kéo dài 7 - 10 ngày và bệnh nhân khỏi hoàn toàn. Trái lại, viêm màng não do vi trùng có thể rất nghiêm trọng và có thể gây nên khuyết tật hoặc tử vong nếu không được điều trị sớm. Thông thường, triệu chứng của viêm màng não do siêu vi và viêm màng não do vi trùng thì giống nhau. Vì đặc điểm này, nếu bạn nghĩ con bạn bị viêm màng não, hãy đi khám bệnh càng sớm càng tốt.
* Cái gì gây nên viêm màng não siêu vi? Nhiễm các loại siêu vi khác nhau có thể đưa đến viêm màng não do virus. Dấu hiệu và triệu chứng của viêm màng não do siêu vi có thể xuất hiện nhanh chóng hoặc cũng có thể sau vài ngày , thường là sau khi bị cảm lạnh hoặc là chảy mũi, tiêu chảy, nôn ói, hoặc những dấu hiệu khác của lây nhiễm biểu hiện ra.
Lược trích theo ĐD Liên Kim
(BV Nhi đồng 2 TPHCM)
Trong và sau mưa, lũ, lụt, vô số vi sinh vật (cả loại gây bệnh và không gây bệnh) từ đất, bụi, rác, chất thải... hòa vào dòng nước, làm ô nhiễm môi trường và lây lan bệnh tật. Thực tế đã chứng minh rằng ở các vùng, miền sau mưa, lũ, lụt, bệnh về đường ruột thường tăng lên một cách đáng kể và có nguy cơ làm lây lan mầm bệnh tạo thành dịch nguy hiểm.
|
Vệ sinh nhà cửa sau lũ giảm nguy cơ bệnh tật.
|
Bệnh đường ruột do vi khuẩn gây ra
Bệnh đường ruột hay gặp nhất trong và sau mưa, lũ, lụt là bệnh tiêu chảy. Đứng hàng đầu trong bệnh tiêu chảy là tiêu chảy cấp tính. Bệnh tiêu chảy cấp tính có thể do nhiều loại vi khuẩn khác nhau gây nên nhưng chiếm vị trí hàng đầu vẫn là vi khuẩn tả (Vibrio cholera). Ở những vùng, miền xảy ra mưa, lũ, lụt mà trong các nguồn nước có vi khuẩn tả thì cực kỳ nguy hiểm vì chúng có khả năng lây lan nhanh chóng. Bên cạnh tiêu chảy cấp do vi khuẩn tả thì căn nguyên gây tiêu chảy do vi khuẩn thương hàn (Salmonella), vi khuẩn lỵ (Shigella), vi khuẩn E.coli, Campylobacter và một số vi khuẩn đường ruột khác cũng đóng vai trò đáng kể trong việc gây bệnh tiêu chảy gặp ở vùng mưa, lũ, lụt liên quan đến vệ sinh môi trường, vệ sinh thực phẩm và nước dùng trong sinh hoạt (ăn, uống ).
Bệnh đường ruột sau mưa, lũ, lụt do virut gây ra
Bệnh tiêu chảy gây ra do virut trong mùa mưa, lũ, lụt cũng có nhiều loại virut khác nhau. Một trong các loại virut gây tiêu chảy có thể gặp trong mùa mưa, lũ, lụt là Rotavirus. Ở trẻ em, nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy do Rotavirus là rất lớn và khả năng lây lan cũng mạnh, nhất là dùng nước để ăn, uống không hợp vệ sinh sau mưa, lũ, lụt. Bên cạnh tiêu chảy do Rotavirus thì người dân có thể mắc các bệnh về đường tiêu hóa do virut viêm gan A, virut viêm gan E cũng cần được quan tâm để phòng, tránh có hiệu quả hơn, bởi vì bệnh do virut viêm gan A hoặc do virut viêm gan E gây ra thì hậu quả lâu dài cũng rất phức tạp.
Bệnh đường ruột sau mưa, lũ, lụt do ký sinh trùng
|
Vi khuẩn gây bệnh tả - mối nguy hiểm hàng đầu sau lũ.
|
Trong và sau mưa, lũ, lụt, nguồn nước ngoài bị nhiễm vi khuẩn, virut thì chúng cũng bị ô nhiễm ký sinh trùng một cách đáng kể, trong đó nhiễm ký sinh trùng amíp (gây bệnh lỵ amíp), các loại giun sán đóng vai trò khá quan trọng trong việc gây bệnh cho con người.
Bệnh sốt vàng da, chảy máu sau mưa, lũ, lụt do vi khuẩn Leptospira gây ra:
Bệnh sốt vàng da chảy máu (xuất huyết) do vi khuẩn Leptospira gây ra có liên quan trực tiếp đến nước tiểu của các loài chuột mang mầm bệnh Leptospira. Chuột đào thải vi khuẩn này theo nước tiểu ra môi trường bên ngoài trôi vào dòng nước. Trong và sau mưa, lũ, lụt, nếu con người ngâm mình, chân tay với thời gian lâu trong nước thì vi khuẩn Leptospira rất dễ dàng chui qua da và niêm mạc để vào trong cơ thể con người.
Biện pháp ngăn chặn các bệnh về đường ruột sau mưa, lũ, lụt?
Trước hết cần lưu tâm đến việc vệ sinh môi trường sống và nguồn nước sinh hoạt. Đây là một việc làm hết sức cần thiết bởi vì giải quyết nguồn nước hợp vệ sinh để cho dân sử dụng là một việc làm không dễ dàng gì trong điều kiện vừa xảy ra mưa, lũ, lụt. Các vùng, miền chưa có nước máy thì cần thau, rửa, vệ sinh sạch sẽ giếng khơi, sát trùng bằng cloramin B theo hướng dẫn của cán bộ y tế cơ sở. Cố gắng quản lý tốt chất thải, đặc biệt là các loại chất thải như phân, nước tiểu, chất thải công nghiệp, chất thải bệnh viện không cho mầm bệnh lây lan ra môi trường xung quanh. Những ao tù, nước đọng cần được khơi thông. Phát động mọi người dân tự giác vệ sinh trong từng gia đình, từng ngõ xóm làm sao để cho môi trường sống phong quang, sạch sẽ nhằm hạn chế đến mức tối đa mầm bệnh phát triển.
Tuyên truyền cho mọi người dân bằng mọi hình thức như loa, đài phát thanh, tổ dân phố, làng, xóm, các cháu học sinh... để người dân thực hiện ăn chín, uống chín (nước đun sôi, để nguội). Tuyệt đối không ăn rau sống, uống nước lã,không đi vệ sinh bừa bãi. Không nên tắm ở ao, hồ, sông vừa bị lũ, lụt. Không ngâm mình dưới nước thời gian lâu.
Mọi người dân nên đến trạm y tế để tiêm phòng những loại vaccin phòng bệnh về đường ruột. Các trạm y tế cố gắng có đủ các loại vacxin phòng bệnh đường ruột cần thiết để giúp dân phòng tránh bệnh đường ruột sau mưa, lũ, lụt một cách có hiệu quả.
PGS.TS. Bùi Khắc Hậu
(theo báo SK & ĐS)
Khả năng gây bệnh của Rhino virus
Đây là loại virut chính gây nên hội chứng cảm lạnh thông thường ở người.
Mô hình cấu trúc Rhino virus
Rhino virus nằm trong họ Picorna virus, kích thước từ 20-27nm, virut có genome là RNA và có hơn 100 týp huyết thanh khác nhau. Virut nhân lên tốt hơn ở 33oC so với 37oC, điều này giải thích tại sao virut chủ yếu gây bệnh ở mũi họng và kết mạc hơn là ở đường hô hấp dưới. Virut dễ dàng bị giết chết bởi acid dạ dày cho nên nó không có khả năng gây bệnh ở đường tiêu hóa như các virut thuộc nhóm các virut đường ruột. Ổ chứa virut là ở người và tinh tinh.
Chu trình nhân lên của virut giống như của virut bại liệt polio. Thụ thể bề mặt tế bào của virut là ICAM-1, một protein kết dính có trên bề mặt của rất nhiều loại tế bào trong cơ thể người.
Đặc điểm dịch tễ học và phương thức lây truyền
Có 2 phương thức lây truyền:
- Lây trực tiếp từ người sang người do hít phải những hạt nhỏ li ti (aerosol) của dịch tiết đường hô hấp từ người bệnh trong khoảng cách gần.
- Lây gián tiếp qua bàn tay, khăn tay, đồ dùng, đồ chơi trẻ em, mặt bàn, ghế... bị nhiễm dịch mũi, hoặc dịch tiết đường hô hấp có chứa virut từ người bệnh, sau đó tự chùi mũi, dụi mắt trong thói quen hằng ngày hoặc qua bàn tay và các đồ dùng liên quan đến chăm sóc trẻ bị nhiễm virut. Ngày nay các nhà khoa học cho rằng cách lây truyền gián tiếp là rất nguy hiểm và quan trọng mà mọi người ít chú ý đến.
Cảm lạnh thông thường được cho là bệnh phổ biến nhất ở người. Hằng năm trên thế giới có hàng triệu ngày công lao động, ngày nghỉ học do cảm lạnh thông thường gây ra. Rhino virus gây bệnh trên toàn thế giới, bệnh hay gặp nhất là vào mùa mưa lạnh (đông – xuân). Mọi người đều có thể mắc bệnh nhưng tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở trẻ em và giảm dần ở lứa tuổi lớn hơn. Bệnh có thể phát triển mạnh ở nơi có mật độ dân cư cao, trong nhà ở chật hẹp và thiếu vệ sinh không khí. Thông thường chỉ có một vài týp huyết thanh của Rhino virus lưu hành trong năm và sau đó lại được thay thế bởi các týp huyết thanh khác vào năm sau. Điều này giải thích tại sao những người đã bị mắc bệnh rồi nhưng vẫn tiếp tục mắc ở những năm tiếp theo.
Sinh bệnh học
Virut xâm nhập vào cơ thể theo đường hô hấp trên và thường chỉ giới hạn gây bệnh ở khu vực đó. Rhino virus hiếm khi gây nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới có thể do virut không thích hợp khi nhân lên ở 37oC. Sau khi mắc bệnh, cơ thể tạo được miễn dịch đặc hiệu týp huyết thanh và không có miễn dịch chéo với các týp khác. Miễn dịch bảo vệ của kháng thể tiết IgA có vai trò quan trọng hơn so với miễn dịch dịch thể.
Các dấu hiệu lâm sàng
Thời gian ủ bệnh từ 2-4 ngày, sau đó xuất hiện các triệu chứng: sốt nhẹ, hắt hơi, sổ mũi, đau họng, ho, đau đầu, đôi khi có cảm giác ớn lạnh, 1/3 số trường hợp có ho và khàn giọng. Các triệu chứng toàn thân khác rất ít. Bệnh thường kéo dài khoảng 1 tuần rồi tự khỏi. Ở trẻ em suy dinh dưỡng, bị nhiễm lạnh kéo dài, suy giảm miễn dịch có thể dẫn đến viêm phế quản, viêm phế quản phổi hoặc viêm phổi bội nhiễm với tình trạng nặng.
Cũng cần lưu ý rằng những virut đường hô hấp khác như virut Corona, virut Coxsackie, virut hợp bào hô hấp, virut cúm C cũng có thể gây nên hội chứng cảm lạnh thông thường và có thể đồng nhiễm với Rhino virus và làm cho bệnh nặng hơn.
Chẩn đoán
Trên lâm sàng rất khó phân biệt bệnh do Rhino virus với bệnh do các virut đường hô hấp khác.
Chẩn đoán phòng thí nghiệm có thể dựa vào phân lập virut từ dịch tiết mũi họng trên nuôi cấy tế bào. Phản ứng huyết thanh ít khi được thực hiện. Gần đây trong phòng thí nghiệm thường sử dụng kỹ thuật PCR để xác định gen đặc hiệu của virut cho kết quả nhanh và độ chính xác cao.
Nói chung bệnh do Rhino virus thường nhẹ và tự khỏi sau 1 tuần. Thường chỉ điều trị triệu chứng như giảm sốt, giảm ho, nâng cao thể trạng, nằm nghỉ ngơi.
Hiện nay không có thuốc kháng virut đặc hiệu nào cho Rhino virus. Trên thực nghiệm lâm sàng người ta dùng khí dung thuốc interferon-alpha 2b và ipratropium đường mũi kết hợp với uống naproxen cho kết quả tốt.
Vấn đề nghiên cứu và sử dụng vaccin phòng bệnh Rhino trong cộng đồng cũng chưa có và không khả thi vì virut có hơn 100 týp huyết thanh khác nhau và miễn dịch thu được là đặc hiệu týp, không có miễn dịch chéo giữa các týp huyết thanh.
Phòng bệnh rộng rãi trong cộng đồng cần áp dụng đúng và đủ 4 biện pháp phòng chống dịch viêm đường hô hấp cấp tính của Bộ Y tế quy định, bao gồm:
Vệ sinh cá nhân
- Bảo đảm vệ sinh cá nhân hằng ngày.
- Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc sử dụng khăn giấy có tẩm các chất diệt khuẩn như iốt loãng để làm sạch tay thường xuyên rất có tác dụng để hạn chế sự lây nhiễm.
- Tránh tối đa việc chùi tay lên mắt và mũi.
- Sử dụng các thuốc sát khuẩn đường mũi, họng, mắt hằng ngày như súc miệng bằng nước sát khuẩn (nước muối loãng, dung dịch TB, Listerin...) hoặc dung dịch nước tỏi. Nhỏ mắt, mũi bằng nước muối sinh lý hoặc các thuốc nhỏ mắt, nhỏ mũi thông thường là cần thiết và hiệu quả trong phòng bệnh.
Hạn chế sự tiếp xúc với nguồn bệnh
- Hạn chế tiếp xúc với người bệnh.
- Khi cần thiết phải tiếp xúc với người bệnh phải đeo khẩu trang y tế, đeo kính, mũ, áo.
- Hạn chế tập trung đông người, hội họp, đặc biệt tại những phòng chật hẹp, ít thông khí ở khu vực có dịch.
Biện pháp tăng cường sức khoẻ
- Tăng cường sức khỏe bằng cách ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý và rèn luyện thân thể.
- Giữ ấm không để bị nhiễm lạnh, đặc biệt ở trẻ em và người già là điều rất quan trọng (mặc đủ ấm, tránh nước mưa, không lội nước,...).
Khi có biểu hiện viêm đường hô hấp cấp cần đến ngay các cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời.
TS. Trần Như Dương
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
|
Hội Y học Dự phòng Việt Nam
Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP
|