Thời tiết











  Chương trình Phòng chống sốt xuất huyết

                                                       LỊCH SỬ THÀNH LẬP

   

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính, gây dịch do vi rút Dengue gây nên, bệnh lan truyền chủ yếu do muỗi Aedes aegypti. Theo Tổ chức Y tế thế giới, bệnh sốt xuất huyết Dengue hiện đang lan truyền ở nhiều nước trên thế giới với khảng 20 triệu người bị nhiễm vi rút Dengue và khoảng 500.000 trường hợp bị sốt xuất huyết Dengue phải nhập viện, trong đó chủ yếu là trẻ em. Đây là bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắccin phòng bệnh. Tỷ lệ tử vong đến 5%, thậm chí cao hơn nếu không được chẩn đoán và điều trị thích hợp.

Sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue xuất  hiện đầu tiên ở Việt Nam từ cuối những năm 1950, cho đến nay đã trở thành một bệnh dịch lưu hành. Riêng năm 1998, số mắc trên toàn quốc lên tới 234.920 người và chết 377 người. Sốt xuất huyết dengue có thể gây bệnh cảnh nguy kịch, hội chứng sốc Dengue nhanh chóng dẫn tới tử vong nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Trước tình hình dịch sốt xuất huyết bùng phát mạnh, Chính phủ đã phê duyệt Dự án quốc gia phòng chống sốt xuất huyết với các dự án khu vực. Dự án phòng chống sốt xuất huyết khu vực miền Bắc - Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương được thành lập và bắt đầu hoạt động từ năm 1999 (3/1999) đến nay.

                                                     

Muỗi vằn Aedes aegypti gây bệnh SXH
 
 
 
 

                                 MỤC TIÊU VÀ CHIẾN LƯỢC DỰ ÁN

I. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu chung

1.1. Giảm tỉ lệ chết

1.2. Giảm tỉ lệ mắc

1.3. Khống chế không để dịch lớn xảy ra

1.4. Xã hội hóa các hoạt động phòng chống SXH, xây dựng các văn bản pháp luật để triển khai thực hiện.

 2. Mục tiêu cụ thể

2.1. Giảm 10% tỉ lệ chết/mắc so với trung bình 5 năm từ 1996-2000

2.2. Giảm 10% tỉ lệ mắc/100000 dân so với trung bình 5 năm từ 1996-2000

2.3. 10% số bệnh nhân nghi ngờ SXH được chẩn đoán bằng xét nghiệm huyết thanh, 3% được phân lập vi rút.

2.4. 80% bệnh nhân độ I /II được theo dõi, điều trị tại tuyến cơ sở y tế và tại cộng đồng

2.5. 100% huyện điểm, 50% số huyện có các điểm thường xuyên giám sát véc tơ

2.6. 12% số xã các tỉnh loại A, 8% số xã các tỉnh loại B có mạng lưới cộng tác viên và hoạt động diệt bọ gậy, huy động cộng đồng diệt bọ gậy đến tận hộ gia đình

2.7. 100% chủ hộ gia đình tại xã điểm được cung cấp kiến thức phòng chống dịch, ký cam kết không có lăng quăng trong hộ gia đình. 50% HGÐ tại xã điểm kiểm tra không lăng quăng trong nhà

2.8. 100% xã điểm & xã có nguy cơ bùng phát dịch triển khai chiến dịch diệt lăng quăng ít nhất 2 lần/năm

 

II. CHIẾN LƯỢC DỰ ÁN

Các chỉ tiêu giảm tỷ lệ trên mắc do sốt xuất huyết và giảm tỷ lệ mắc/100.000 dân là 2 chỉ tiêu lớn cần đặt trọng tâm để đạt được mục tiêu đề ra của Dự án.

 

1. Biện pháp giảm tỷ lệ chết

            Yêu cầu

          “Định bệnh sớm, điều trị đúng” nhằm giảm chết và sốc độ III&IV tại các cơ sở y tể lâm sàng. Tăng cường giám sát nhằm phát hiện điều trị kịp thời, giảm tỷ lệ tử vong do sốt xuất huyết.

Các biện pháp cụ thể:

Củng cố kiến thức và nâng cao năng lực chẩn đoán, chẩn đoán phân biệt giữa sốt xuất huyết và điều trị bệnh nhân cho các đối tượng là cán bộ Y tế tại phòng khám Nội, Nhi, phòng cấp cứu, phòng khám Đa khoa của Bệnh viện tỉnh, huyện và trạm y tế xã. Mở rộng tập huấn cho các đối tượng là cán bộ y tế các phòng khám cấp cứu, phòng khám đa khoa tuyến huyện và các phòng khám tư nhân trong khu vực. Coi trọng chất lượng tập huấn, nhấn mạnh việc cung cấp các kiến thức cơ bản và thực tiễn về chẩn đoán và điều trị bệnh theo đúng phác đồ điều trị.

Thực hiện đúng thường quy “Giám sát, chẩn đoán và điều trị bệnh SD/SXHD” và các văn bản sửa đổi bổ xung do Bộ Y tế ban hành (Văn bản gần đây nhất kèm Quyết định số 1676/2003/QĐ-BYT ngày 20/5/2003 của Bộ trưởng Bộ Y tế)

Tăng cường tuyên truyền, giáo dục và cung cấp những hiểu biết về triệu chứng tiên phát của bệnh cho các bà mẹ và cộng đồng để cùng cán bộ y tế cơ sở, CVT nhanh chóng đưa người nhà đến cơ sở y tế gần nhất để chẩn đoán, theo dõi, điều trị kịp thời cố gắng không để xảy ra tử vong do SXHD.

Hệ dự phòng phối hợp chặt chẽ với hệ điều trị, kịp thời thông báo diễn biến và chiều hướng phát triển của bệnh sốt xuất huyết ở người lớn, trẻ em tại các khu vực có nguy cơ cao nhằm nâng cao ý thức cảnh giác phòng bệnh trong đội ngũ cán bộ Y tế cũng như trong cộng đồng nhằm chẩn đoán sớm, điều trị sớm, kịp thời, tích cực và đúng phác đồ.

Cung cấp trang bị y tế cần thiết phục vụ chẩn đoán và điều trị (máy đo hematocrit, dàn ELISA, thiết bị chẩn đoán và điều trị chuyên dụng) cho các khoa truyền nhiễm, khoa nhi, phòng khám cấp cứu bệnh viện tuyến trung ương cũng như tỉnh, huyện.

2. Biện pháp giảm tỷ lệ mắc

Yêu cầu

Tăng cường hoạt động tuyên truyền giáo dục các biện pháp diệt véc tơ để nâng cao nhận thức của cộng đồng làm thay đổi hành vi tự phòng bệnh của cộng đồng.

Nâng cao hoạt động giám sát dịch tễ (giám sát bệnh nhân, huyết thanh và vi rút, giám sát vec tơ truyền bệnh, giám sát độ nhạy cảm của véc tơ với hóa chất diệt côn trùng).

Thực hiện có hiệu quả hoạt động diệt bọ gậy tại hộ gia đình

Biện pháp cụ thể

Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động phòng chống sốt xuất huyết. Các cấp, ngành phải trực tiếp tham gia, chỉ đạo, giao nhiệm vụ cụ thể cho các Ban, Ngành, Đoàn thể liên quan phối hợp với ngành Y tế thực hiện mục tiêu đề ra. Ngoài số kinh phí hỗ trợ của Trung ương, có kế hoạch đầu tư trên nguyên tắc Trung ương và địa phương cùng làm.

Thực hiện đúng thường quy “Giám sát, chẩn đoán và điều trị bệnh SD/SXHD” ban hành kèm Quyết định số 1676/2003/QĐ-BYT ngày 20/5/2003 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Tăng cường giám sát dịch tễ bệnh sốt xuất huyết (Giám sát bệnh nhân, giám sát huyết thanh và vi rút, giám sát muỗi véc tơ truyền bệnh) nhằm phát hiện sớm, dập dịch kịp thời nhằm khoanh vùng ổ dịch, hạn chế lây truyền bệnh tại các tuyến, đặc biệt là tuyến xã, phường tại các điểm trọng điểm. Đặc biệt chú ý tăng cường giám sát huyết thanh học để kịp thời phát hiện sự chuyển hướng các typ virut gây dịch. Phối hợp chặt chẽ với các cơ sở y tế đóng trên địa bàn theo dõi và tổng hợp các ca bệnh theo mẫu điều tra bệnh nhân sốt xuất huyết. Tăng cường giám sát theo dõi biến động của quần thể vectơ tại các điểm theo dõi để có các biện pháp can thiệp thích hợp và kịp thời.

Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo mẫu điều tra các ca mắc, tử vong, rút kinh nghiệm cho công tác chẩn đoán, điều trị. Báo cáo phân biệt SD và SXHD. Trang bị máy vi tính và kết nối mạng phục vụ thống kê, lưu trữ, xử lý số liệu và tiến tới vi tính hoá hệ thống giám sát, theo dõi sốt xuất huyết.

Tăng cường hoạt động giáo dục truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng như Tivi, loa phát thanh, đài, báo, tờ rơi, và panô, áp phích nhằm thu hút sự quan tâm, cải thiện mức độ hiểu biết của cộng đồng về bệnh sốt xuất huyết và hướng dẫn thực hiện các biện pháp diệt véc tơ tại hộ gia đình.

Tổ chức định kỳ các hoạt động diệt bọ gậy tại cộng đồng thông qua mạng lưới CTV, học sinh, tổ chức quần chúng, các chiến dịch diệt lăng quăng bọ gậy tại hộ gia đình với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, tham mưu của y tế và phối hợp với các ban ngành đoàn thể liên quan.

Tổ chức giám sát, đánh giá các hoạt động diệt bọ gậy tại cộng đồng sau mỗi chiến dịch nhằm rút kinh nghiệm và bài học cho hoạt động và các chiến dịch, phong trào tiếp sau.

3. Tập huấn

Củng cố kiến thức và kỹ năng giám sát dịch tễ và phát hiện sớm bệnh nhân sốt xuất huyết tại cộng đồng.

Nâng cao kỹ năng thông tin tuyên truyền của cán bộ cộng đồng, cộng tác viên tham gia dự án phù hợp với nội dung truyền thông theo mục tiêu đề ra.

Tiếp tục đầu tư nâng cao năng lực thống kê, xử lý số liệu, nối mạng Internet trên máy tính và sử dụng hệ thống thông tin đại lý (GIS) của cán bộ y tế dự phòng tuyến cơ sở nhằm từng bước đẩy mạnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả của hệ thống giám sát.

Tập huấn về kỹ năng phát hiện, xử lý ổ bọ gậy cho mạng lưới CTV và kỹ năng tuyên truyền, vận động HGĐ tham gia phòng chống bệnh.

Phối hợp tập huấn cho các cán bộ thuộc các Bộ và ban ngành liên quan chuyển tải các kiến thức cơ bản về bệnh, sự nguy hiểm của bệnh, đường lây truyền bệnh, cách phòng chống tiến tới phổ cập nội dung về bệnh sốt xuất huyết và cách phòng chông trong cộng đồng.

4. Tuyên truyền giáo dục

Đa dạng hoá các loại hình truyền thông: Truyền hình, phát thanh, truyền hình, panô, áp phích, khẩu hiệu, tờ rơi... các cuộc thi tìm hiểu, trò chơi giáo dục, lồng ghép tuyên truyền trong các buổi họp dân, các hội nghị và hội thảo. Liên tục đổi mới nội dung TT-GD phong phú để thu hút sự chú ý của cộng đồng. Tăng cường hoạt động tuyên truyền giáo dục sâu rộng các biện pháp diệt véctơ để nâng cao nhận thức của cộng đồng làm thay đổi hành vi tự phòng bệnh của cộng đồng, chuẩn bị cho việc luật pháp hoá các nội dung phòng chống sốt xuất huyết.

Kết hợp với chiến dịch Quốc gia ngày làm sạch môi trường để vận động cộng đồng tham gia phòng chống sốt xuất huyết.

Đưa nội dung phòng chống sốt xuất huyết vào chương trình giảng dạy ngoại khoá của các trường tiểu học và trung học cơ sở.

5. Các hoạt động phòng chống SD/SXHD tại cộng đồng

a) Mạng lưới cộng tác viên

CTV là lực lượng chủ yếu thực hiện các hoạt động phòng chống sốt xuất huyết tại HGĐ, tạo nên thành công của dự án. Nhiệm vụ của cộng tác viên là kiểm tra, thăm hộ gia đình để phát hiện và xử lý các ổ bọ gậy muỗi truyền bệnh, tuyên truyền hướng dẫn hộ gia đình tự phòng chống sốt xuất huyết, phát hiện bệnh nhân nghi sốt xuất huyết tại cộng đồng; tham gia các chiến dịch vệ sinh môi trường, thu gom phế thải, loai trừ bọ gậy.Thực hiện 3 mục tiêu là không bỏ sót hộ gia đình, không bỏ sót dụng cụ chứa nước và không bỏ sót ổ bọ gậy không được xử lý. Mỗi CTV phụ trách tối đa 100 hộ gia đình. Tiếp tục phấn đấu hạ thấp tỷ lệ HGD/CTV.

Hàng tháng, tại các xã dự án cần phải bố trí cán bộ chuyên trách hàng tháng giao ban với công tác viên tại các xã/phường; giám sát hoạt động tại hộ gia đình, kiểm tra sổ sách, và bổ sung kỹ năng hoạt động của công tác viên tại cộng đồng. Động viên khuyến khích sự hăng say và sự tình nguyện của cộng tác viên.

b) Hoạt động diệt bọ gậy tại cộng đồng

Triển khai các chiến dịch vệ sinh môi trường, thu gom phế thải ít nhất 02 lần/năm nhằm làm giảm nơi sinh sản của véctơ truyền bệnh.

Huy động sự tham gia của nhà trường, bao gồm thầy cô giáo và các em học sinh cấp II, các ban ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội, sự ủng hộ và giúp đỡ của chính quyền địa phương cho các hoạt động phòng chống sốt xuất huyết và đặc biệt là sự đồng tình tham gia của người dân trong cộng đồng.

c) Hoạt động chuyên môn

Xây dựng mạng vi tính, từng bước đưa hệ thống thông tin địa lý và hoạt động giám sát dịch tễ tăng tính chính xác, đúng thời hạn phục vụ đáp ứng phòng chống chủ động tại khu vực miền Bắc.

Nghiên cứu về sự biến đổi dịch tễ học của bệnh sốt xuất huyết trong giai đoạn tiếp theo

Nghiên cứu tính biến dị di truyền của 74 týp huyết thanh của vi rút dengue và sự khác nhau của khả năng gây bệnh của 4 týp vi rút này.

Vai trò của các loài véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết bao gồm sự phân bố, tính cạnh tranh loài, độ nhạy cảm và tính kháng hoá chất của véc tơ truyền bệnh này.

d) Kiểm tra, đánh giá và khen thưởng

Tuyến tính sẽ tăng cường kiểm tra, đôn đốc tiến độ đạt mục tiêu địa phương. Ban điều hành Dự án khu vực thực hiện giám sát tích cực, kiểm tra, chỉ đạo và thường xuyên báo cáo kết quả về BĐH quốc gia, đặc biệt hướng hoạt động tập trung cho các khu vực, tỉnh, thành đang có số mắc, chết cao.

Giám sát dịch tễ chủ động, phát hiện sớm và can thiệp kịp thời, khoanh vùng ổ dịch và áp dụng biện pháp dập dịch có hiệu quả.

Giao ban, so kết hoạt động hàng tháng, hàng quý nhằm rút kinh nghiệm và cụ thể hoá kế hoạch hành động cho từng đơn vị dưới sự chỉ đạo trực tiếp của BHĐ khu vực. Đánh giá hoạt động phòng chống SD/SXHD tại các khu vực từng năm và mỗi 3 năm để rút kinh nghiệm và có cơ sở cho việc lập kế họch và triển khai hoạt động trong những năm tiếp sau.
 
 
 

TỔ CHỨC

I. ĐỊA BÀN TRIỂN KHAI

          Giai đoạn 1999 – 2000: 10 tỉnh, thành phố thực hiện Dự án như sau: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hóa, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Nghệ An, Hà Tĩnh.

          Giai đoạn 2001 – 2004: Mở rộng thêm 10 tỉnh có nguy cơ xảy ra bệnh sốt xuất huyết, bao gồm 18 tỉnh, thành phố thực hiện Dự án như sau: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hóa, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bắc Giang, Hòa Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Bình, Quảng Ninh và huyện điểm Xuân Trường.

          Năm 2005 đến nay: Dự án triển khai thêm tại 11 tỉnh miền núi, bao gồm 29 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hóa, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bắc Giang, Hòa Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Bình, Quảng Ninh, Sơn La, Điện Biên, Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang, Lai Châu, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn, huyện điểm Xuân Trường và mở rộng huyện điểm Yên Định, Thanh Hóa.

 

II. TỔ CHỨC

1. Tại Trung ương

         * Thành lập Ban điều hành dự án SD/SXHD khu vực miền Bắc bao gồm:

1.    Trưởng ban điều hành: PGS. TS. Phạm Ngọc Đính, Phó viện trưởng, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

2.    Thư ký: CN. Nguyễn Thị Yên, Trưởng phòng thí nghiệm côn trùng, khoa Dịch tễ, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

3.   Các uviên:

+     TS. Hoàng Văn Tân, Phó khoa dịch tễ, phụ trách giám sát ca bệnh SD/SXHD;

+    PGS.TS Trương Uyên Ninh, Trưởng labo Arbo-virút, khoa virút, phụ trách giám sát huyết thanh;

+   CN. Nguyễn Thị Yên, Trưởng phòng thí nghiệm côn trùng, khoa Dịch tễ, phụ trách giám sát vectơ truyền bệnh SD/SXHD;

+    PGS.TS. Cao Văn Viên, phó Viện trưởng, Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới Hà Nội, phụ trách việc điều trị bệnh nhân;

+  PGS.TS. Nguyễn Thuý Hoa, trưởng khoa Dịch tễ, phụ trách giám sát độ nhạy cảm của vectơ truyền bệnh SD/SXHD với hoá chất;

+    CN. Phan Thị Hải Sâm, Khoa tài chính - Kế Toán, theo dõi công tác tài chính Dự án.

         * Nhóm thư ký giúp việc gồm các ông, bà:

          Ths. Nguyễn Thị Cẩm Anh, khoa Dịch tễ

          BS. Đinh Vân Anh, khoa Dịch tễ

        CN. Nguyễn Hoàng Lê, khoa Dịch tễ

        BS. Vũ Trọng Dược, khoa Dịch tễ

         * Nhiệm vụ của Ban điều hành khu vực:

    ·        Chịu trách nhiệm trước Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và trước Ban điều  hành mục tiêu quốc gia phòng chống SD/SXHD về toàn bộ hoạt động của Dự án trong khu vực

     ·        Xây dựng kế hoạch chi tiết, triển khai các hoạt động giám sát, chỉ đạo thực hiện, thu thập và phân tích số liệu, đánh giá việc thực hiện Dự án trong khu vực.

     ·        Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của dự án đúng mục đính, đạt hiệu quả kinh tế và theo đúng các quy định và hiện hành của Nhà nước.

     ·        Báo cáo kết quả thực hiện Dự án về Ban điều hành Quốc gia và các cơ quan liên quan theo quy định.

     ·        Tổ chức bàn giao tài liệu, tài chính, tài sản khi dự án kết thúc theo quy định của Bộ Y tế.

2. Tại Địa phương

Thành lập Ban chỉ đạo (BCĐ) ở các cấp từ tỉnh, thành phố đến xã/phường nhằm đảm bảo sự thống nhất trong chỉ đạo hoạt động phòng chống Sốt xuất huyết. BCĐ tuyến tỉnh là Ban Chăm sóc sức khỏe ban đầu của tỉnh hoặc BCĐ Chương trình Y tế Quốc gia Phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS. BCĐ gồm nhiều thành phần nhằm huy động cộng đồng và xã hội hóa công tác y tế: Phối kết hợp giữa Y tế, Chính quyền và Nhà trường trong phòng chống SXH.

            BCĐ có trách nhiệm tổ chức, thực hiện các giám sát và phòng chống bệnh Sốt xuất huyết ở tất cả các tuyến; chỉ đạo và hướng dẫn chuyên môn; theo dõi và đánh giá việc thực hiện chỉ tiêu của Dự án đặc biệt chú trọng các trọng điểm có nguy cơ xảy ra dịch.

            Mạng lưới cộng tác viên được xây dựng và có vai trò quan trọng trong phòng chống SXH tại cộng đồng. Mỗi cộng tác viên được phân công phụ trách khoảng 70 - 100 hộ gia đình (HGĐ). Cộng tác viên có nhiệm vụ giám sát thường xuyên hàng tháng tất cả các HGĐ mình phụ trách, phát hiện, hướng dẫn và tham gia xử lý các ổ bọ gậy; Nhân nuôi và phóng thả cá/Mesocyclops vào các DCCN lớn; tham gia các chiến dịch thu gom phế thải loại trừ nơi sinh sản của muỗi.; tuyên truyền và vận động người dân tự thực hiện các biện pháp phòng chống SXH; đồng thời phát hiện bệnh nhân nghi mắc Sốt xuất huyết tại cộng đồng. Để thực hiện được các nhiệm vụ trên, tiêu chuẩn lựa chọn CTV:

            -  Có thời gian tham gia hoạt động

            -  Nhiệt tình, uy tín, trách nhiệm với công việc được giao.

            - Có kiến thức về Y tế, có khả năng tuyên truyền và cộng động người dân thực hiện phòng chống SXH.
Vai trò, nhiệm vụ của TTYTDP tỉnh và TTYT huyện:
     Vai trò:

-      Là thành viên Ban chỉ đạo, chịu trách nhiệm về mọi hoạt động, tiến độ thực hiện mục tiêu tại địa phương mình

     Nhiệm vụ:

-      Tập huấn trang bị kiến thức cho màng lưới CTV, giáo viên nhà trường

-      Xây dựng kế hoạch hoạt động hàng tháng

-      Tham dự giao ban CTV hàng tháng, trực tiếp kiểm tra thực địa và có hướng dẫn cụ thể về mặt chuyên môn

-      Thường xuyên có sự trao đổi, bàn bạc giữa các cấp trong BCĐ để phát hiện, giải quyết khó khăn, lôi kéo sự ủng hộ của chính quyền các cấp cho công tác phòng chống SXH

-      Thực hiện giám sát thường xuyên bệnh nhân, vectơ và huyết thanh học, các điều tra đánh giá hoạt động cộng đồng, điều tra kiến thức, thái độ, thực hành.

-      Báo cáo kết quả hoạt động hàng tháng

Vai trò, nhiệm vụ của UBND xã, trạm Y tế và nhà trường:
     Vai trò:

-      Là thành viên Ban chỉ đạo, tổ chức thực hiện và triển khai hoạt động phòng chống SXH tại cộng đồng.

Nhiệm vụ của UBND xã:

-      Ủng hộ, hỗ trợ TYT thực hiện các hoạt động phòng chống SXH tại địa phương.

-      Huy động cộng đồng phòng chống SXH: tổ chức, phát động chiến dịch cộng đồng (tuyên truyền, thả cá, thả Mesocyclops, thu gom dụng cụ phế thải) trên phạm vi toàn xã, phối hợp, liên kết với hoạt động của các Ban, Ngành, Đoàn thể.

Nhiệm vụ của Trạm Y tế:

-      Phát hiện, lựa chọn và xây dựng mạng lưới CTV

-      Theo dõi và điều hành hoạt động mạng lưới CTV, phân công khu vực phụ trách, tổ chức giao ban hàng tháng với CTV

-      Trực tiếp giám sát thực địa, phát hiện khó khăn và biện pháp giải quyết, hỗ trợ hoạt động CTV

-      Chủ động đề xuất UBND xã có kế hoạch tổ chức và triển khai hoạt động cụ thể hàng tháng, đề nghị chính quyền địa phương ủng hộ, hỗ trợ.

-      Phát hiện bệnh nhân nghi SD/SXHD, phối hợp với TTYT tỉnh và huyện để lấy mẫu xét nghiệm huyết thanh học.

-      Tổng hợp và báo cáo hoạt động hàng tháng cho TTYT huyện, TTYTDP tỉnh

Nhiệm vụ của Nhà trường ở địa phương:

-      Phối hợp với cán bộ y tế thực hiện các hoạt động tuyên truyền, tổ chức các lớp tập huấn cho giáo viên, học sinh nhà trường về bệnh SXH và các biện pháp phòng chống bằng nhiều hình thức: nói chuyện toàn trường, giảng bài, các cuộc thi về SXH, diễn kịch...

-      Tổ chức học sinh tham gia các hoạt động diệt bọ gậy tại cộng đồng (phóng thả cá, Mesocyclops, thu gom DCPT định kỳ hàng tháng nhằm loại trừ nơi sinh sản của muỗi)


Vai trò và nhiệm vụ của cộng tác viên:

     Vai trò CTV:

-      Là người trực tiếp thực hiện các hoạt động PC SXH tại cộng đồng, đóng vai trò quan trọng tới thành công của Dự án.

Nhiệm vụ của CTV:

Thực hiện giám sát ít nhất 01 lần/tháng tất cả các HGĐ được phân công phụ trách, bao gồm:

-      Phát hiện, hướng dẫn và tham gia xử lý các ổ bọ gậy

-      Nhân nuôi và phóng thả cá/Mesocyclops vào các DCCN lớn

-      Cùng học sinh thực hiện các chiến dịch DCPT loại trừ nơi đẻ của muỗi

-      Tuyên truyền, nâng cao nhận thức, vận động người dân tự thực hiện các biện pháp phòng chống SXH đơn giản, dễ thực hiện, ít tốn kém và có hiệu quả cao.

-      Phát hiện bệnh nhân nghi mắc SD/SXHD tại cộng đồng

-      Tham dự giao ban hàng tháng và báo cáo kết quả hoạt động cho trạm Y tế

-      Cộng tác viên thực hiện tốt các nhiệm vụ là:

o     Không bỏ sót HGĐ không được kiểm tra

o     Không bỏ sót DCCN không được kiểm soát

o     Không bỏ sót ổ bọ gậy/lăng quăng không được xử lý trước khi rời HGĐ

o     Không bỏ sót HGĐ không được hướng dẫn kiến thức về bệnh SXH, phát hiện, xử lý ổ bọ gậy/lăng quăng.

 

                                MÔ HÌNH TỔ CHỨC CỦA DỰ ÁN

 

 

 

                                                      NỘI DUNG
 

     1. Thành lập Ban điều hành các tuyến và các tiểu ban chuyên trách điều trị, dịch tễ, côn trùng, huyết thanh.

     2. Tập huấn: Tập huấn nâng cao chuyên môn, kỹ năng giám sát dịch tễ bao gồm giám sát bệnh nhân, vectơ truyền bệnh, huyết thanh và virut, độ nhạy cảm và kháng hóa chất của vectơ truyền bệnh; thống kê, xử lý số liệu, làm báo cáo và sử dụng hệ thống thông tin địa lý GIS trong quản lý, giám sát và phòng chống SXH.

     3. Tuyên truyền giáo dục cộng đồng về phòng chống chủ động SD/SXHD. Đa dạng hóa các loại hình truyền thông: truyền hình, phát thanh, truyền thanh, pano, áp phích, khẩu hiệu, tờ rơi… các cuộc thi tìm hiểu, trò chơi giáo dục, lồng ghép tuyên truyền trong các buổi họp dân, hội nghị và hội thảo. Liên tục đổi mới nội dung TT - GD phong phú để thu hút sự chú ý của cộng đồng. Kết hợp với chiến dịch Quốc gia ngày làm sạch môi trường để vận động cộng đồng tham gia phòng chống Sốt xuất huyết. Đưa nội dung phòng chống Sốt xuất huyết vào chương trình giảng dạy ngoại khóa của trường tiểu học và trung học cơ sở.

      4. Duy trì hoạt động thường xuyên và hiệu quả của màng lưới cộng tác viên tại cộng đồng. CTV là lực lượng chủ yếu thực hiện các hoạt động phòng chống Sốt xuất huyết tại cộng đồng. Tổ chức giao ban cộng tác viên hàng tháng, giám sát và kiểm tra hoạt động CTV tại hộ gia đình và bổ sung kiến thức, kỹ năng hoạt động của CTV. Động viên, khuyến khích sự hăng say và sự tình nguyện của CTV.
 

      5. Triển khai các hoạt động phòng chống SD/SXHD tại cộng đồng, ưu tiên cho các biện pháp diệt bọ gậy, khống chế vec tơ truyền bệnh, vệ sinh môi trường nơi sinh sản của bọ gậy, sử dụng hóa chất xua, diệt muỗi, phát hiện sớm bệnh nhân SD/SXHD và điều trị tại các cơ sở Y tế.

      6. Giám sát, kiểm tra, đánh giá và khen thưởng. Giám sát dịch tễ chủ động, phát hiện sớm và can thiệp kịp thời, khoanh vùng ổ dịch và áp dụng các biện pháp dập dịch có hiệu quả.
Kiểm tra, chỉ đạo và đôn đốc thực hiện hoạt động phòng chống SXH tại các tuyến, đặc biệt hướng hoạt động tập trung cho các khu vực, tỉnh, thành phố đang có số mắc và chết cao.

Giao ban, sơ kết hoạt động hàng tháng, hàng quý nhằm rút kinh nghiệm và cụ thể hóa kế hoạch hành động cho từng đơn vị dưới sự chỉ đạo trực tiếp của BĐH khu vực. Đánh giá hoạt động phòng chống SXH tại các địa phương để có hình thức động viên khen thưởng kịp thời.

     7. Nghiên cứu khoa học:Nghiên cứu và hợp tác nghiên cứu tìm ra các biện pháp giám sát, chẩn đoán, điều trị và phòng chống có hiệu quả.
 
 
 

   HOẠT ĐỘNG CỦA DỰ ÁN
 

A. GIÁM SÁT

Giám sát dịch tễ:

Bao gồm giám sát bệnh nhân, giám sát virut dengue, giám sát muỗi truyền bệnh (vectơ) và giám sát tính nhạy cảm của chúng với các hoá chất diệt côn trùng. Theo dõi diễn biến thời tiết, môi trường và kết quả biện pháp phòng chống chủ động.

1. Giám sát bệnh nhân SD/SXHD:

Giám sát bệnh nhân SD/SXHD để chủ động phòng chống bệnh SD/SXHD gồm:

1.1. Giám sát và thống kê báo cáo thường kỳ.

a. Hoạt động giám sát, thống kê báo cáo bệnh SD/SXHD được lồng ghép vào hoạt động giám sát báo cáo thường kỳ của 24 bệnh truyền nhiễm gây dịch cũng như các mục tiêu quốc gia phòng chống các bệnh truyền nhiễm khác do hệ thống Y tế Dự phòng quản lý.  

b. Trách nhiệm thực hiện là Y tế thôn, bản, xã/phường, phòng khám đa khoa, phòng khám lây, phòng khám nhi và các khoa điều trị lây, nhi thuộc hệ thống điều trị. Hệ Y tế Dự phòng chịu trách nhiệm quản lý thực hiện.

- Trạm y tế xã/phường tổng hợp thống kê báo cáo hàng tháng số bệnh nhân được khám và điều trị tại trạm theo sổ khám bệnh và các trường hợp được y tế thôn, bản, y tế tư nhan báo cáo bằng văn bản (hoặc bằng điện thoại) khi có dịch xảy ra.

- Huyện/quận tổng hợp thống kê báo cáo hàng tháng số bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện huyện, các phòng khám đa khoa khu vực, các trạm y tế xã và y tế tư nhân do huyện quản lý gửi lên Trung tâm Y tế Dự phòng (YTDP) tỉnh.

- Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh tổng hợp thống kê báo cáo số bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện tỉnh, tổng hợp báo cáo của các huyện và y tế tư nhân do tỉnh quản lý gửi Viện VSDT/Pasteur khu vực, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Vụ Y tế Dự phòng.

c. Tiêu chuẩn chẩn đoán: Thực hiện theo "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị sốt xuất huyết dengue" được ban hành kèm Quyết định số 1330/QĐ-BYT ngày 03/5/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

d. Những thông tin về bệnh SD/SXHD trong giám sát, báo cáo thường kỳ.

Cần thu thập những thông tin về tình hình bệnh nhân trong cộng đồng và những bệnh nhân được tiếp nhận khám và điều trị tại các cơ sở chữa bệnh các tuyến.

- Số lượng mắc và chết theo tiêu chuẩn lâm sàng.

- Tên địa phương có bệnh (Trung ương quản lý đến huyện, tỉnh quản lý đến xã, huyện quản lý đến thôn bản).

- Thời gian mắc bệnh (theo mẫu báo cáo của chương trình).

- Tổng số dân và số trẻ < 15 tuổi.

e. Mẫu báo cáo

Là các mẫu báo cáo đang được thực hiện trong hệ thống giám sát thường kỳ theo quy định của Bộ Y tế như:

- Mẫu báo cáo tháng 24 bệnh truyền nhiễm (theo mẫu đang dùng cho báo cáo bệnh truyền nhiễm thường kỳ hàng tháng).

- Mẫu báo cáo tuần (theo mẫu đang dùng cho báo cáo tuần).

- Khi có dịch phải báo cáo bằng fax, thư điện tử hoặc điện thoại (theo nội dung mẫu báo cáo tuần).

- Đồng thời thực hiện:

+ Mẫu báo cáo tháng ca bệnh nhân theo tuổi, giới và phân độ lâm sàng (theo mẫu 2 đính kèm bản hướng dẫn này). Mẫu này do tỉnh thực hiện (tập hợp số liệu từ huyện, huyện tập hợp số liệu từ xã) gửi Ban điều hành mục tiêu phòng chống sốt xuất huyết khu vực. Ban điều hành mục tiêu phòng chống sốt xuất huyết khu vực tổng hợp gửi Ban điều hành mục tiêu phòng chống SD/SXHD quốc gia.

+ Mẫu báo cáo quý, 6 tháng, 1 năm về hoạt động, kết quả hoạt động phòng chống SD/SXHD và khí hậu, môi trường sinh thái (mẫu 3).

1.2. Giám sát và thống kê báo cáo trọng điểm.

Hệ thống giám sát thống kê báo cáo trọng điểm là rất cần thiết vì phạm vi bệnh dịch SD/SXHD lưu hành địa phương ở Việt Nam rất rộng và tần số mắc bệnh hàng năm rất lớn: Năm có số mắc thấp nhất là trên 50 nghìn trường hợp (1992), năm số mắc cao nhất là 354.517 trường hợp (1987), năm 1998 có 234.920 trường hợp. Trong khi mạng lưới y tế cơ sở còn yếu, chất lượng chẩn đoán lâm sàng, xét nghiệm và việc thu thập thông tin chi tiết cho hệ thống báo cáo thường xuyên còn gặp nhiều khó khăn. Nhiệm vụ hệ thống giám sát, báo cáo trọng điểm là thu thập, thống kê, phân tích các chỉ số mắc và chết do SD/SXHD, báo cáo chỉ số muỗi và bọ gậy Aedes, báo cáo các thông tin về khí hậu, môi sinh có liên quan đến các yếu tố nguy cơ.

a. Chọn cơ sở thực hiện giám sát trọng điểm:

Mỗi tỉnh chọn 2 điểm giám sát: 1 bệnh viện tuyến tỉnh, một bệnh viện tuyến huyện:

b. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh nhân SD/SXHD trong giám sát trọng điểm ở bệnh viện.

Thực hành theo "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị sốt xuất huyết dengue: được ban hành kèm theo Quyết định số 1330/QĐ-BYT ngày 03/5/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

c. Thông tin cần thu thập.

Số mắc, số chết phân theo:

- Địa phương (Trung ương, khu vực quản lý đến huyện, tỉnh quản lý đến xã, huyện quản lý đến thôn bản)

- Tuổi hoặc nhóm tuổi

- Giới tính

- Thời gian (Tháng hoặc tuần)

- Kết quả chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm huyết thanh và phân lập virut. Kết quả giám sát chỉ số bọ gậy và muỗi Aedes, kết quả phát hiện độ nhạy cảm của muỗi vectơ với hoá chất.

Thông tin về hoạt động và kết quả hoạt động phòng chống SD/SXHD.

d. Mẫu báo cáo:

- Mẫu điều tra ca bệnh (mẫu 1): Dùng cho tất cả bệnh nhân khám điều trị tại cơ sở điều trị và điều tra bệnh nhân SD/SXHD khi điều tra vụ dịch. Các mẫu sau khi hoàn thành được giữ lại ở từng tuyến. Tuyên trung ương, khu vực, tỉnh cập nhật thường xuyên theo mẫu 1 trong phạm vi quản lý và xử lý số liệu theo chương trình quản lý SD/SXHD trên máy tính.

2. Giám sát huyết thanh và virut dengue.

- Mỗi tỉnh cần chọn 2 điểm giám sát thường xuyên. Những điểm này cũng nằm trong các điểm giám sát trọng điểm của tỉnh và huyện.

Nhiệm vụ giám sát tại các điểm này và ở bất kỳ địa phương nào trong cộng đồng có bệnh nhân nghi SD/SXHD là thu thập tất cả các bệnh phẩm của bệnh nhân nghi mắc SD/SXHD với các triệu chứng:

+ Sốt cao, kéo dài từ 2 - 7 ngày.

+ Đau đầu, đau cơ, đau khớp, có phát ban.

Những trường hợp này phải được lấy máu từ ngày thứ 5 để làm xét nghiệm MAC-ELISA và hoặc lấy máu trong vòng 4 ngày kể từ lúc bắt đầu có sốt để phân lập virut.

- Phân công trách nhiệm: Xã có trách nhiệm phát hiện và thông báo cho huyện bệnh nhân nghi mắc SD/SXHD. Trung tâm Y tế huyện có trách nhiệm lấy máu gửi lên Trung tâm YTDP tỉnh, Trung tâm YTDP tỉnh có trách nhiệm làm xét nghiệm MAC-ELISA hoặc gửi mẫu bệnh phẩm cho Viện khu vực để phân lập virut. Khi có dịch, lấy mẫu máu xét nghiệm ít nhất từ 5 đến 20 bệnh nhân nghi ngờ.

- Hàng năm mỗi tỉnh cần biết được típ virut dengue lưu hành ở địa phương mình. Việc phân lập virut dengue do các Viện khu vực đảm nhiệm, số mẫu phân lập virut cho 1 tỉnh trong 1 năm ít nhất là 20.

- Việc xét nghiệm IgM đặc biệt bằng kỹ thuật MAC-ELISA đã thực hiện được ở một số labo của Trung tâm YTDP tỉnh. Phấn đấu đến năm 2000, các tỉnh trọng điểm đều có thể triển khai thực hiện được kỹ thuật này.

- Kết quả giám sát huyết thanh và virut do tỉnh tập hợp gửi về Viện khu vực và Ban điều hành mục tiêu quốc gia theo mẫu 4.

3. Giám sát vectơ:

Giám sát vectơ nhằm xác định nguồn sinh sản chủ yếu của muỗi truyền bệnh, sự biến động theo mùa của vectơ, tính nhạy cảm của vectơ với các hoá chất diệt côn trùng. Điểm giám sát vectơ được lựa chọn tại nơi có điều kiện thuận lợi cho sự sinh sản và phát triển của Ae.aegypti, Ae. Albopictus.

3.1. Giám sát muỗi trưởng thành.

Giám sát muỗi trưởng thành bằng phương pháp soi bắt muỗi đậu nghỉ trong nhà, dùng để đánh giá quần thể muỗi. Người điều tra chia thành nhóm, mỗi nhóm hai người soi bắt muỗi cái đậu nghỉ trên quần áo, chăn màn, các đồ vật trong nhà vào buổi sáng, mỗi nhà soi bắt muỗi trong 15 phút.

Sau khi bắt muỗi, tiến hành điều tra bọ gậy (lăng quăng) bằng quan sát, ghi nhận ở toàn bộ dụng cụ chứa nước trong và quanh nhà. Số nhà điều tra cho một đơn vị huyện là 50, điều tra 1 lần/tháng (phân bổ trong các xã/phường trọng điểm):

Những chỉ số sử dụng để theo dõi Muỗi Ae.aegypti, Ae.Albopictus (tính theo từng loài).

1. Chỉ số mật độ (CSMĐ) muỗi Ae.aegypti là số muỗi cái Ae.aegypti trung bình trong một gia đình điều tra.

2. Chỉ số nhà có muỗi (CSNCM) Ae.aegypti là tỷ lệ phần trăm nhà có muỗi Ae.aegypti trưởng thành.

3.2. Giám sát bọ gậy (lăng quăng).

Giám sát thường xuyên: 1 tháng 1 lần cùng với giám sát muỗi trưởng thành.

Giám sát ổ bọ gậy nguồn: Phương pháp này dựa vào kết quả đếm toàn bộ số lượng bọ gậy Aedes trong các chủng loại dụng cụ chứa nước khác nhau để xác định nguồn cung cấp muỗi Aedes chủ yếu của từng địa phương theo mùa trong năm hoặc theo từng giai đoạn để điều chỉnh, bổ sung các biện pháp tuyên truyền và phòng chống vectơ thích hợp.

Xác định ổ bọ gậy nguồn sẽ tiến hành theo đơn vị huyện trọng điểm 2 lần/năm mỗi lần điều tra 100 hộ gia đình (phân bổ trong các xã/phường trọng điểm) (lần 1 thực hiện vào quý I.II, lần 2 thực hiện vào quý III-IV).

Có 4 chỉ số thường được sử dụng để theo dõi bọ gậy của muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus:

1. Chỉ số nhà (CSNBG) là tỷ lệ phần trăm nhà có bọ gậy Aedes

2. Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy (CSDCBG) là tỷ lệ phần trăm dụng cụ chứa nước có bọ gậy Aedes

3. Chỉ số Breteau (CSBI) là số DCCN có bọ gậy Aedes trong 100 nhà điều tra

4. Chỉ số mật độ bọ gậy (CSMĐBG) là số lượng bọ gậy trung bình cho 1 gia đình điều tra. Chỉ số CSMĐBG chỉ sử dụng khi điều tra ổ bọ gậy nguồn

3.3. Giám sát độ nhạy cảm của muỗi Ae.aegypti, Ae.albopictus đối với các hoá chất diệt côn trùng.

Do tuyến tỉnh và khu vực thực hiện 1 lần/năm với từng hoá chất diệt muỗi sốt xuất huyết. Dựa theo kỹ thuật 11 bước do `ViệnVSDTTW hướng dẫn.

3.4. Quy định tổ chức thực hiện giám sát vectơ.

a. Tuyến tính: Tập huấn, chỉ đạo tuyến huyện thực hiện giám sát. Thực hiện giám sát tại các điểm giám sát trọng điểm của tỉnh.

b. Tuyến huyện: Tập huấn, chỉ đạo và tham quan giám sát, phòng chống vectơ ở các xã thuộc huyện (50 hộ gia đình phân bổ ở các xã/phường trọng điểm). Thực hiện giám sát tại các điểm giám sát trọng điểm của huyện.

c. Tuyến xã/phường: Thực hiện giám sát và xử lý ổ bọ gậy ít nhất 1 lần/tháng đến từng hộ gia đình thông qua hoạt động của màng lưới y tế cơ sở, cộng tác viên, học sinh.

3.5. Báo cáo kết quả.

Báo cáo giám sát thường xuyên và điều tra tại ổ dịch: Huyện báo cáo Trung tâm YTDP tỉnh, tỉnh tập hợp báo cáo kếte quả giám sát theo mẫu 5 hàng tháng gửi về Viện khu vực và trung ương trước ngày 15 cùng thời gian với báo cáo kết quả điều tra bệnh nhân và ngay sau khi điều tra tại ổ dịch.

Báo cáo kết quả điều tra ổ bọ gậy nguồn theo mẫu riêng gửi cho Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh.

B. CHẨN ĐOÁN

I. ĐẠI CƯƠNG

Sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm gây dịch do virut Dengue gây nên. Virut Dengue có 4 típ huyết thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Virut truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt. Muỗi Aedes Aegypti là côn trùng trung gian truyền bệnh chủ yếu.

Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng dịch thường xảy ra vào các tháng 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11(vào mùa mưa). Sốt xuất huyết Dengue có đặc trưng bởi sốt xuất huyết và thất thoát huyết tương, dẫn tới sốc giảm thể tích tuần hoàn và rối loạn đông máu thứ phát sau sốc kéo dài, nếu không được chẩn đoán sớm và xử lý kịp thời sẽ dẫn đến tử vong.

II. CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG

1. Sốt Dengue:

- Sốt cao đột ngột, liên tục kéo dài từ 2 đến 7 ngày.

- Nhức đầu, mệt mỏi, chán ăn.

- Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt

- Da sung huyết, phát ban

- Biểu hiện xuất huyết như chấm xuất huyết ở dưới da hoặc chảy máu cam.

* Cận lâm sàng:

- Haematocrit (Hct) bình thường (không có biểu hiện cô đặc máu).

- Tiểu cầu bình thường hoặc hơi giảm.

- Bạch cầu giảm.

2. Sốt xuất huyết Dengue:

- Sốt cao đột ngột, liên tục từ 2 đến 7 ngày.

- Biểu hiện xuất huyết: Thường xảy ra từ ngày thứ 2, thứ 3 trở đi của bệnh dưới nhiều hình thái.

+ Dấu hiệu dây thắt dương tính.

+ Xuất huyết tự nhiên ở da hoặc niêm mạc, hoặc vết bầm tím ở quanh nơi tiêm chích.

+ Xuất huyết ở niêm mạc: Chảy máu mũi, lợi, đôi khi xuất huyết ở kết mạc, tiểu ra máu. Kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện kinh sớm hơn kỳ hạn. Xuất huyết tiêu hoá như nôn ra máu, đại tiện ra máu. Xuất huyết tiêu hoá nhiều thường là biểu hiện nặng của bệnh.

- Gan to.

- Có biểu hiện thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch, biểu hiện: Tăng dung tích hồng cầu (haematocrit) > 20%, tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng phổi và hạ protein máu. Trong trường hợp nặng có thể suy tuần hoàn cấp, thường xảy ra vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 6 của bệnh, biểu hiện bởi các triệu trứng như: vật vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh đầu chi, da lạnh ẩm, mạch nhanh nhỏ, huyết áp hạ hoặc huyết áp kẹp (hiệu số giữa huyết áp tối đa và tối thiểu < 20mmHg), tiểu ít.

* Cận lâm sàng:

- Biểu hiện cô đặc máu do sự thoát huyết tương: haematocrit tăng > 20% so với giá trị bình thường (bình thường từ 36% - 40%); hoặc bằng chứng của thất thoát huyết tương: protein máu giảm, tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng bụng.

- Tiểu càu giảm < 100.000 tế bào/mm3 (trên thực tế thường thấy tiểu cầu giảm từ ngày thứ 2 trở đi).

- Bạch cầu giảm.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (1986, 1997) với 2 tiêu chuẩn lâm sàng là sốt và xuất huyết, kèm theo có cô đặc máu và/hoặc số lượng tiểu cầu gỉam là đủ để chẩn đoán lâm sàng bệnh sốt xuất huyết Dengue.

III. CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH SỐT DENGUE VÀ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

1. Huyết thanh chẩn đoán:

- Mac ELISA; tìm kháng thể IgM.

- Phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu (HI)

- Phản ứng khuếch đại chuỗi gen (PCR)

2. Phân lập virut:

Các xét nghiệm hiện đại mới chỉ làm được ở nơi có điều kiện như tại Labo Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh... 

IV. PHÂN ĐỘ LÂM SÀNG CỦA SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

          Theo mức độ nặng nhẹ chia làm 4 độ

- Độ I: Sốt đột ngột, kéo dài từ ngày 2 đến 7 ngày; dấu hiệu đây thắt dương tính.

- Độ II: Triệu chứng như độ I, kèm theo xuất huyết tự nhiên dưới da hoặc niêm mạc.

- Độ III: Có dấu hiệu suy tuần hoàm, mạch nhanh nhỏ, hạ huyết áp hoặc huyết áp kẹp; kèm theo các triệu chứng như da lạnh, ẩm, bứt rứt hoặc vật vã hoặc li bì.

- Độ IV: Sốc nâu, mạch nhỏ khó bắt, huyết áp không đo được (HA = 0).

V. XÁC ĐỊNH CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG TIỀN SỐC VÀ SỐC TRONG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

Trong điều trị bệnh sốt xuất huyết Dengue, quan trọng nhất là phát hiện sốc, xử trí kịp thời sẽ giảm tỷ lệ tử vong.

1. Tiền sốc: Gồm một số triệu chứng như sau:

- Vật vã, lừ đừ, li bì.

- Đau bụng.

- Da sung huyết nhưng tay chân lạnh.

- Dấu hiệu "ấn ngón tay" (hay gọi là thời gian hồi phục màu da) kéo dài > 2 giây. Vị trí thường làm là đầu ngón tay hoặc mặt trong cẳng tay.

- Xuất huyết niêm mạc, xuất huyết tiêu hoá nhiều và đột ngột.

- Tiểu ít.

Nếu có điều kiện làm xét nghiệm thì thấy:

- Haematocrit tăng cao.

- Tiểu cầu giảm nhanh chóng.

Ở những bệnh nhân có dấu hiệu tiền sốc phải theo dõi sát mạch, huyết áp, số lượng nước tiểu và làm xét nghiệm haematocrit, tiểu cầu để điều trị kịp thời.

2. Hội chứng sốc Dengue:

Bao gồm tất cả triệu chứng lâm sàng của sốt xuất huyết Dengue kèm theo các triệu chứng:

- Nhiệt độ hạ đột ngột, da ở các chi lạnh, ẩm.

- Mạch nhanh, nhỏ.

- Huyết áp hạ hoặc huyết áp kẹp.

- Tiểu ít.

Triệu chứng sốc thường xảy ra vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 6 của bệnh.

Chú ý: Sốc diễn biến nhanh, bệnh nhân có thể tử vong trong vòng 12 - 24 giờ hoặc hồi phục nhanh chóng nếu được điều trị kịp thời và thích hợp. Nếu sốc không được điều trị thích hợp sẽ làm tăng thêm các biến chứng như toan chuyển hoá, xuất huyết nặng, xuất hyết não dẫn đến hôn mê.

C. ĐIỀU TRỊ

1. Sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue không sốc (độ I và II)

Phần lớn các trường hợp đều được điều trị ngoại trú và theo dõi tại y tế cơ sở, chủ yếu là điều trị triệu chứng và phải theo dõi chặt chẽ phát hiện sớm sốc xảy ra để xử trí kịp thời.

1.1. Điều trị triệu chứng:

- Nếu sốt cao > 390C, trẻ em có thể có nguy cơ co giật, cho thuốc hạ nhiệt, lau mát.

- Thuốc hạ nhiệt chỉ được dùng là Paracetamol đơn chất, liều như sau:

Trẻ em dưới 1 tuổi dùng:           60mg/lần.

1 - 3 tuổi                                              60 - 120 mg/lần

3 - 6 tuổi                                              120mg/lần

6 - 12 tuổi                                            240mg/lần

Liều dùng trung bình là 10 - 15mg/kg cân nặng/lần, cách nhau 4 - 6 giờ.

Cấm dùng ASPIRIN, ACETYL, SALICYLIC ACID, ANALGIN, IBUPROFEN để điều trị vì có thể gây xuất huyết, toan máu.

1.2. Bù dịch sớm bằng đường ống:

Khuyến khích trẻ uống nhiều nước, tốt nhất là Oresol (NaCl 3,5g; Bicacbonate Na 2,5g; KCl 1,5g và Glucose 20g đóng thành gói pha với 1 lít nước) hoặc nước trái cây (nước dừa, cam, chanh …) hoặc nước cháo loãng với muối.

1.3. Truyền dịch:

Nếu bệnh nhân ở độ I và II mà không uống được, nôn nhiều, có dấu hiệu mất nước, trẻ lừ đừ, haematocrit tăng cao, tiểu cầu giảm; mặc dù huyết áp và mạch ổn định, cũng nên truyền dịch sớm.

Dịch truyền bao gồm: Ringer Lactat hoặc huyết thanh mặn ngọt đẳng trương (0,9% NaCl và 5% glucose).

Cần ghi rõ loại dịch truyền và tốc độ truyền. Có thể ước lượng gần đúng lượng truyền vào công thức:

Số ml/giờ = (Số giọt/phút) x 3

1ml = 20 giọt.

2. Sốt xuất huyết Dengue có sốc độ III

2.1. Cần chuẩn bị các dịch truyền sau:

- Ringer Lactat hoặc Ringer Acetat

- Huyết thanh mặn ngọt đẳng trương (0,9% NaCl và 5% Glucose)

- Dung dịch cao phân tử, ví dụ như Plasma, Dextran 40, Gelatin ...

2.2. Cách thức truyền:

Phải thay thế nhanh chóng lượng plasma mất đi bằng Ringer Lactat hoặc huyết thanh mặn ngọt đẳng trương, truyền tĩnh mạch nhanh chóng với tốc độ 15 đến 2ml/kg cân nặng/giờ.

Truyền sau 1 giờ phải kiểm tra lại haematocrit

2.2.1. Nếu sau 1 giờ bệnh nhân đỡ sốc, huyết áp về gần bình thường hoặc hết kẹp, mạch quay rõ và trở về bình thường, chân tay ấm, haematocrit giảm thì giảm tốc độ truyền xuống 10ml/kg cân nặng/giờ, truyền trong 1-2 giờ; sau đó giảm dần tốc độ truyền xuống 7,5ml/kg cân nặng/giờ, truyền 1-2 giờ; đến 5ml/kg cân nặng/giờ, truyền 4-5 giờ, và 3ml/kg cân nặng/giờ, truyền 4-6 giờ tuỳ theo đáp ứng lâm sàng và haematocrit.

2.2.2. Nếu sau 1 giờ truyền dịch mà tình trạng sốc không cải thiện, haematocrit tiếp tục tăng, mạch nhanh, huyết áp hạ, tiểu ít, thì phải thay thế dịch truyền bằng dung dịch cao phân tử. Truyền với tốc độ 15-20,l/kg cân nặng/giờ, truyền trong 1 giờ. Sau đó đánh giá lại.

2.2.2.1. Nếu sốc cải thiện, haematocrit giảm, thì giảm tốc độ truyền cao phân tử xuống 10 ml/kg cân nặng/giờ, truyền trong 1-2 giờ; sau đó nếu tình trạng sốc tiếp tục cải thiện haematocrit giảm, thì giảm tốc độ truyền cao phân tử xuống 7,5ml/kg cân nặng/giờ rồi đến 5ml/kg cân nặng/giờ, truyền trong 2-3 giờ.

Theo dõi tình trạng bệnh nhân, nếu ổn định thì chuyển truyền tĩnh mạch dung dịch điện giải theo cách thức truyền tại điểm 2.2.1. ở trên.

2.2.2.2. Nếu sốc vẫn chưa cải thiện, thì đo áp lực tĩnh mạch trung ương (CVP) để quyết định cách thức xử trí.

- Nếu sốc vẫn chưa cải thiện mà haematocrit giảm xuống nhanh (mặc dù còn trên 35%) thì cần phải khám để phát hiện xuất huyết nội và xem xét chỉ định truyền máu.Tốc độ truyền máu 10ml/kg/1 giờ.

Chú ý:

- Tất cả sự thay đổi tốc độ truyền phải dựa vào mạch, huyết áp, lượng bài tiết nước tiểu, haematocrit mỗi giờ.

- Trong trường hợp sốc độ III, nếu chỉ dựa vào mạch, huyết áp tốt mà cho rằng khỏi sốc là chưa đủ, mà cần theo dõi haematocrit , nếu haematocrit vẫn còn cao mặc dù huyết áp, mạch tốt, nếu ngưng ngay truyền dịch dễ bị tái sốc.

3. Sốt xuất huyết Dengue có sốc độ IV

          Trường hợp sốt xuất huyết Dengue vào viện trong tình trạng sốc độ IV (mạch nhỏ khó bắt, huyết áp không đo được (HA=0) thì phải xử trí rất khẩn trương

           Để bệnh nhân nằm đầu thấp

           Thở oxy

           Truyền dịch: Lúc đầu dùng bơm tiêm to (kim số 18) bơm trực tiếp vào tĩnh mạch Ringer Lactat hoặc huyết thanh mặn ngọt đẳng trương, với tốc độ 20ml/kg cân nặng trong vòng 15 phút. Sau đó đánh giá lại bệnh nhân, có 2 khả năng xảy ra:

* Nếu mạch nhanh, huyết áp còn kẹp hoặc huyết áp hạ: Truyền dung dịch cao phân tử 15 – 20ml/kg cân nặng/giờ, sau đó xử trí theo điểm 2.2.2.

* Nếu mạch, huyết áp vẫn không đo được: Bơm tĩnh mạch trực tiếp dung dịch cao phân tử 20ml/kg cân nặng/15 phút. Nếu đo CVP để có phương hướng xử trí. Nếu đo được huyết áp và mạch rõ, thì truyền dịch cao phân tử 15 – 20ml/kg/giờ, sau đó xử trí theo điểm 2.2.2.

 

4. Những điều cần lưu ý khi truyền dịch

            - Ngừng tuyền dịch tĩnh mạch khi huyết áp và mạch trở về bình thường, tiểu nhiều, haematocrit bình thường. Nói chung không cần thiết bù dịch nữa sau khi hết sốc 24 giờ.

            - Cần chú đến sự tái hấp thu huyết tương từ ngoài lòng mạch trở lại lòng mạch (biểu hiện bằng huyết áp, mạch bình thường mà haematocrit giảm sau khi ngừng truyền). Nếu cứ tiếp tục truyền dịch sẽ gây tăng thể tích máu, dư thừa nước dẫn đến suy tim và phù phổi cấp.

            (Lưu ý trong trường hợp sau khi sốc hồi phục mà huyết áp kẹp thì phải thử haematocrit, nếu haematocrit giảm thì không truyền dịch).

            Khi bình phục, sự giảm haematocrit không có nghĩa là do xuất huy huyết nội tạng vì huyết áp bình thường, tiểu nhiều, mà haematocrit giảm là do sự tái hấ p thu.

            Khi có hiện tượng bù dịch quá tải gây suy tim hoặc phù phổi cấp cần phải dùng thuốc lợi tiểu như Furosemid (Lasix) khoảng 0,5 – 1mg/kg/1 lần dùng (tiêm bắp hoặc tĩnh mạch).

5. Khi điều trị sốc, cần phải chú ý đến điều chỉnh rối loạn điện giải và thăng bằng kiềm toan

            Hạ Natri máu thường xảy ra ở hầu hết các trường hợp sốc nặng kéo dài và đôi khi có toan chuyển hoá. Do đó cần phải xác định mức độ rối loạn điện giải và nếu có điều kiện thì do khí trong máu ở bệnh nhân sốc nặng và bệnh nhân sốc không đáp ứng nhanh chóng với điều trị.

6. Truyền máu

            Khi bệnh nhân có sốc cần phải tiền hành làm nhóm máu và phản ứng chéo thường quy. Chỉ định truyền máu trong những trường hợp sau:

            - Bệnh nhân có xuất huyết nặng và haematocrit < 35%.

            - Tình trạng sốc không cải thiện, haematocrit giảm xuống nhanh (mặc dù còn trên 35%) thì cần phải thăm khám để phát hiện xuất huyết nội và xem xét chỉ định truyền máu).

7. Thở oxy

            Tất cả các bệnh nhân có sốc cần điều trị oxy

8. Sử dụng các thuộc vận mạch

            - Khi sốc kéo dài, cần phải đo áp lực tĩnh mạch trung ương (CVP) để quyết định xử trí.

            - Nếu đã truyền dịch đầy đủ mà huyết áp vẫn chưa lên và áp lực tĩnh mạch trung ương 8 – 10cm nước thì nên truyền tĩnh mạch dopamin, liều lượng 5mg/kg/phút.

9. Chăm sóc và theo dõi bệnh nhân sốc

            - Giữ ấm

            - Khi đang có sốc cần theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở từ 15 phút đến 30 phút 1 lần.

            - Đo dung tích hồng cầu (haematocrit) cứ 2 gi ờ 1 l ần, trong 6 gi ờ đầu của sốc. Sau đó 4 giờ 1 lần cho đến khi sốc ổn định.

- Ghi lượng nước xuất và nhập trong 24 giờ

- Đo lượng nước tiểu

- Theo dõi tình trạng thoát dịch vào màng bụng, màng phổi, màng tim.

10. Các biện pháp điều trị khác

Khi có tràn dịch màng bụng, màng phổi gây khó thở cần phải chọc hút để giảm bớt dịch. Không dùng corticoid để điều trị sốc trong sốt xuất huyết Dengue.

D. PHÒNG CHỐNG

Phòng chống chủ động vectơ (thực hiện thường xuyên ngay từ khi chưa có dịch)

* Các bước triển khai:

- Thành lập và tập huấn cho Ban chỉ đạo đến tuyến xã/phường. Ban chỉ đạo thực hiện dự án bao gồm ít nhất 3 thành viên: chính quyền, y tế và giáo dục.

          - Xây dựng, tập huấn mạng lưới cộng tác viên y tế, giáo viên, học sinh nhà trường về bệnh SD/SXHĐ, các hoạt động cụ thể trừ nơi sinh sản của vectơ

          - Điều tra xác định ổ bọ gậy nguồn tại địa phương và biện pháp phòng chống thích hợp cho từng chủng loại ổ bọ gậy.

          - Tổ chức các hoạt động diệt bọ gậy hàng tháng đến từng hộ gia đình thông qua hoạt động của cộng tác viên y tế, học sinh và các tổ chức quần chúng (thả cá, Mesocyclops, đậy nắp, loại bỏ phế thải ...)

         - Giáo dục nâng cao nhận thức về SD/SXHD và huy động sự tham gia của cộng đồng phát hiện loại bỏ ổ bọ gậy, các vật dụng phế thải, thả Mesocyclops, cá ăn bọ gậy.

          Huy động sự tham gia của cộng đồng tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của mỗi địa phương. Sau đây là một số hướng dẫn gợi ý thực hành lựa chọn khi thực hiện hoạt động phòng chống vectơ SD/SXHD ở địa phương mình:

1. Giảm nguồn sinh sản của vectơ:

          Bọ gậy Aedes có thể phát triển ở các loại nước sạch và nước giàu chất hữu cơ, nên phải quản lý dụng cụ chứa nước để làm giảm nguồn sinh sản là biện pháp tốt nhất trong phòng chống vectơ.

a) Quản lý dụng cụ chứa nước

            - Dụng cụ chứa nước sinh hoạt (chum vại, bể nước mưa, cây cảnh ...): dùng các biện pháp ngăn ngừa muỗi sinh đẻ (có nắp đậy thật kín, thả cá, Mesocyclops ...)

            - Dụng cụ chứa nước không có ích lợi (lốp xe hỏng, vật dụng gia đình bỏ không ...): thu dọn và phá huỷ.

            - Các hốc chứa nước tự nhiên (hốc cây, kẽ lá, gốc tre nứa ...): loại bỏ, lấp kín, chọc thủng hoặc làm biến đổi.

b) Loại trừ ổ bọ gậy

            - Thu dọn rác, kể cả dụng cụ chứa nước tự nhiên hoặc nhân tạo (chai, lọ, lu, vò vỡ, vỏ đồ hộp, lốp xe hỏng, vỏ dừa ...) cho vào túi rồi chuyển tới nơi thu gom rác của địa phương hoặc tự tiêu huỷ bằng chôn hoặc đốt.

            - Úp ngược các dụng cụ gia đình như xô, chậu, bát, máng nước gia cầm.

            - Xử lý kẽ lá cây (chuối, cọ, dừa...) bằng chọc thủng, cho hoá chất diệt bọ gậy.

c) Chống muỗi đẻ trứng trong các dụng cụ tích trữ nước (chum, vại, phuy, bể ...)

             - Đậy thật kín bằng nắp hoặc vải để ngăn không cho muỗi đẻ

            - Thả cá hoặc Mesocyclops, Micronecta ...

            - Chọc thủng hốc cây, bịt lấp đỉnh cọc rào, lọc nước loại bỏ bọ gậy, dội nước nóng vào thành vại để diệt bọ gậy và trứng khi còn chứa ít nước...

            - Đối với bẫy kiến, lọ hoa, chậu cây cảnh, khay nước tủ lạnh hoặc điều hoà nhiệt độ: Dùng dầu hoặc cho muối vào, thay nước 1lần/tuần, cọ rửa thành dụng cụ chứa nước để diệt trứng bọ gậy.

2. Chống muỗi đốt:

Làm lưới chắn ở cửa ra vào, cửa sổ. Ngủ màn ban ngày, nhất là đối với trẻ nhỏ.

3. Diệt muỗi:

Bằng hương muỗi, bình xịt thuốc cá nhân, hun khói bằng đốt vỏ cau, dừa hoặc lá cây. Treo mành tre, rèm tẩm hoá chất diệt muỗi ở cửa ra vào, cửa sổ

4. Tuyên truyền, giáo dục cộng đồng:

          Giáo dục cộng đồng ở các tuyến

          a) Tuyến tỉnh, huyện: Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng bao gồm: đài truyền hình, đài phát thanh, báo trí và các phương tiện thông tin khác.

          b) Tuyến cộng đồng: Tổ chức các buổi nói chuyện của cán bộ y tế trong các trường học, các buổi họp dân, khẩu hiệu, tờ tranh, các cuốn sách nhỏ, thăm hỏi của cộng tác viên y tế, truyền thanh, các buổi chiếu video ... bằng những thông tin đơn giản, dễ hiểu, minh hoạ rõ ràng. Tuỳ theo đối tượng nghe mà phổ biến các thông tin như:

            - Tình hình SD/SXHD trong nước, tỉnh, huyện hoặc x ã.

- Số mắc và chết SD/SXHD trong một vài năm gần đây

- Triệu chứng của bệnh, sự quan trọn của điều trị kịp thời để giảm tử vong.

- Nhận biết vòng đời, nơi sinh sản, trú đậu, hoạt động hút máu của muỗi vectơ.

- Những biện pháp cụ thể, đơn giản mà mỗi người có thể tự áp dụng để loại bỏ ổ bọ gậy của muỗi truyền bệnh.

- Định ngày và thời gian thực hiện chiến dịch làm sạch môi trường

- Có thể báo trước là thực hiện biện pháp phạt nếu như không tuân theo quy định để ngăn chặn sự sinh sản của vectơ.

- Động việc và có những hình thức khen thưởng cho cá nhân tích cực tham gia.

5. Huy động cộng đồng:

Những hoạt động cụ thể như sau:

- Đối với các nhân: Kêu gọi từng gia đình thực hiện các biện pháp thông thường để phòng chống SD/SXHD “ít nhất 3 tháng một lần để loại trừ nơi sinh sản của vectơ nơi công cộng và tư nhân. Quảng cáo rộng rãi thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, áp phích, tranh tuyên truyền, các cuốn sách nhỏ, mạng lưới cộng tác viên y tế, hoạt động của nhà trường. Đánh giá tình hình dịch và những kết quả tham gia của cộng đồng.

- Phổ biến cho các bậc phụ huynh và học sinh trong trường học về các biện pháp đơn giản loại trừ nơi sinh sản của vectơ ở nhà cũng như ở trường học. Tổ chức các cuộc thi tìm hiều về SD/SXHD, các biện pháp phòng chống, động viên khen thưởng kịp thời những cá nhân và tập thể có nhiều đóng góp thiết thực.

            - Kêu gọi, thuyết phục các công ty thương mại, du lịch với tư cách là nhà tài trợ tham gia vào việc nâng cao cảnh quan và cải thiện môi sinh rằng kết quả phòng chống SD/SXHD sẽ có tác động Những nơi dịch vụ thu gom rác, cung cấp nước uống ... không có hoặc thiếu, có thể huy động dân sự xây dựng dịch vụ này nhằm làm giảm một phần nơi sinh sản của muỗi truyền bệnh.

            - Khen thưởng cho những người tích cực tham gia các hoạt động của cộng đồng.

            Chuẩn bị sẵn sàng cơ số thuốc, hoá chất, phương tiện và nhân sự phục vụ chống dịch khẩn cấp

5.1. Tổ chức sẵn sàng chống dịch

            Thành lập ban chỉ đạo phòng chống dịch các cấp: gồm Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch tỉnh làm Trưởng ban. Giám đốc Sở y tế là Phó Ban thường trực, Giám đốc Trung tâm Y tế Dự phòng, các ngành, đoàn thể là thành viên.

            Đội chống dịch tuyến tỉnh và huyện: Gồm cán bộ điều trị, dịch tễ, côn trùng được trang bị đủ cơ số hoá chất, máy móc, phương tiện vận chuyển.

5.2. Cơ số thuốc, hoá chất, phương tiện sẵn sàng cho chống dịch tại các tuyến (sử dụng kinh phí cấp uỷ quyền và kinh phí địa phương)

            - Tuyến tỉnh (tại Trung tâm YTDP tỉnh)

            + 5 cơ số thuốc dự trữ phòng chống dịch

            + 4 máy phun ULV đeo vai

            + 100 kg hoá chất diệt muỗi

            - Tuyến huyện (tại Trung tâm Y tế huyện)

            + 2 cơ số thuốc dự trữ phòng chống dịch

            + 2 máy phun ULV đeo vai
 

Xem chi tiết tại đây:

                                                     /UploadImage/HoatdongcuaduanSXH.doc
 
 
 

KẾT QUẢ CỦA DỰ ÁN

 

I. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN 2001 - 2005

1. Đánh giá chung

       Dự án phòng chống sốt xuất huyết khu vực miền Bắc - Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương được thành lập từ năm 1999. Trong 2 năm đầu tiên chỉ có 10/29 tỉnh, thành phố được triển khai dự án với mô hình “Huy động cộng đồng trong phòng chống sốt xuất huyết”. Đến năm 2004, dự án đã triển khai ra 18 tỉnh thành phía Bắc và đến năm 2005 toàn bộ 29 tỉnh thành phía Bắc gồm cả các tỉnh Tây Bắc Bắc Bộ đã được triển khai dự án.

Dự án phòng chống sốt xuất huyết khu vực miền Bắc đã đạt được 3 mục tiêu lớn là giảm tỷ lệ mắc, giảm tỷ lệ chết và khống chế không để xảy ra dịch lớn. Trong giai đoạn 2001 - 2005, tỷ lệ mắc/100.000 dân giảm 80,4% và tỷ lệ chết/mắc giảm 66,7% so với giai đoạn 1996 - 2000.

Hệ thống giám sát, quản lý và điều hành dự án các cấp được củng cố, hoạt động đồng bộ và có hiệu quả.

Trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực của cán bộ Y tế dự phòng, cán bộ điều trị tại các bệnh viện trọng điểm về giám sát, chẩn đoán, điều trị và phòng chống sốt xuất huyết được nâng cao rõ rệt.

Hiểu biết và nhận thức của người dân, đặc biệt tại các vùng nguy cơ cao được cải thiện. Đạt 100% người dân tại xã điểm đều nhận thức rõ về nguy cơ bệnh sốt xuất huyết, về tác nhân gây bệnh, vectơ trung gian truyền bệnh, đã thay đổi hành vi có hại liên quan đến lưu trữ nước, tạo ra các ổ bọ gậy, vectơ trung gian truyền bệnh; tích cực tham gia các hoạt động diệt bọ gậy tại địa phương, tự nguyện và cam kết không để có bọ gậy trong gia đình mình.

Dự án đã nhận được sự quan tâm ủng hộ, tham gia của nhiều Ban, Ngành, Đoàn thể xã hội, học sinh và giáo viên nhà trường, chính quyền địa phương. Tuy nhiên để đạt được mục tiêu xã hội hóa phòng chống sốt xuất huyết cần phải có thời gian để chuyển biến từ nhận thức đến hành vi của cộng đồng. Đây là quá trình lâu dài, đòi hỏi nhiều nỗ lực trong công tác tuyên truyền, giáo dục cộng đồng và sự quan tâm của các cấp chính quyền.

2. Kết quả thực hiện

3. Các công trình và công trình nghiên cứu

            Bên cạnh đầu tư xây dựng hệ thống giám sát, tuyên truyền, đào tạo... Dự án còn trú trọng đến công tác nghiên cứu khoa học. Ban điều hành Dự án khu vực miền Bắc kết hợp cùng các phòng thí nghiệm côn trùng, phòng thí nghiệm virút Dengue - Viện Vệ sinh Dịch tễ thực hiện các nghiên cứu: “Cộng đồng trong phòng chống sốt xuất huyết và sử dụng tác nhân sinh học Mesocyclops”, “Vai trò truyền bệnh sốt xuất huyết của muỗi Aedes albopicus”, “Mô hình cảnh báo sốt xuất huyết”.

-         Nghiên cứu các loài Mesocyclops địa phương và khả năng ăn bọ gậy muỗi Aedes aegypti tại Việt Nam

-         Hợp tác nghiên cứu với ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam thực hiện từ tháng 3/2002 đến tháng 3/2003 với nội dung: Nghiên cứu sử dụng bẫy phễu trong giám sát bọ gậy; nghiên cứu sử dụng hộp bắt muỗi đậu nghỉ, nghiên cứu vai trò truyền bệnh của muỗi Ae.albopictus; nghiên cứu mô hình cảnh báo sớm dịch SD/SXHD.

-         Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ:”Sử dụng Mesocyclops với sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống véctơ SD/SXHD trên thực địa 3 tỉnh miền Trung” từ năm 2000 đến 2003.

-         Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: ”Nghiên cứu vai trò truyền bệnh SD/SXHD của muỗi Aedes Albopictus trên một số thực địa miền Bắc Việt Nam” từ năm 2002 đến 2004.

           Các nghiên cứu này đã góp phần tạo ra những thành công của dự án.

4. Hợp tác quốc tế

Giai đoạn 1998 - 2000, Bộ Y tế đã phê duyệt hợp tác tài trợ của chính phủ Australia « Cộng đồng trong phòng chống Sốt xuất huyết và sử dụng tác nhân sinh học Mesocyclops »  tại 06 xã của 03 tỉnh miền Bắc (Nam Định, Hải Phòng, Hưng Yên) và đạt hiệu quả rõ rệt, giảm 99,7% quần thể muỗi vectơ truyền bệnh, không có bệnh nhân SD/SXHD tại các thực địa nghiên cứu, chứng minh tính hiệu quả và bền vững của các biện pháp phòng chống sốt xuất huyết dựa vào cộng đồng, làm cơ sở mở rộng mô hình cộng đồng tại các địa phương trong cả nước.

Một số nghiên cứu Hợp tác với Ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam bước đầu đánh giá được sự chuyển đổi xuất hiện và tồn tại của hai loài Aedes aegypti và Aedes albopictus tại thực địa; áp dụng phương pháp giám sát bọ gậy trong các DCCN lớn bằng bẫy phễu rất hiệu quả.

            Dự án sốt xuất huyết khu vực miền Bắc đã góp phần to lớn trong việc phòng chống sốt xuất huyết tại khu vực miền Bắc cũng như góp phần thành công trong dự án phòng chống sốt xuất huyết quốc gia.

II. KẾ HOẠCH 2006 - 2010

1. Đánh giá tình hình bệnh sốt xuất huyết trên thế giới

         Bệnh sốt xuất huyết là bệnh nhiễm virut cấp tính do muỗi vectơ truyền. Bệnh hiện lưu hành ở trên 100 nước thuộc các khu vực có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới vùng Đông Nam á và Tây Thái Bình Dương, Châu Mỹ, Châu Phi với khoảng 2,5 tỷ người sống trong vùng nguy cơ dịch. Hiện nay sốt xuất huyết là một trong những gánh nặng về sức khoẻ cộng đồng và là mối quan tâm chủ yếu của lĩnh vực y tế công cộng trên toàn thế giới. Số ca mắc sốt xuất huyết liên tục tăng cao trong những năm gần đây. Trong giai đoạn từ 1970 đến 1995 trên toàn cầu, số mắc sốt xuất huyết đã tăng 4 lần (hình1). Số ca nhiễm sốt xuất huyết hàng năm ước tính khoảng 50 triệu người 500.000 trường hợp SXHD phải nhập viện mỗi năm trong đó 90% trường hợp dưới 15 tuổi. Tỷ lệ chết trung bình khoảng 5%.

 

            Trong các khu vực chịu gánh nặng về bệnh sốt xuất huyết cho sức khoẻ cộng đồng, vùng có mức độ ảnh hưởng nặng nề nhất Đông Nam Châu á và Tây Thái Bình Dương trong đó phải kể đến các nước có tỷ lệ chết và mắc cao trong những năm gần đây như Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malayxia, Philippines, Singapore, Lào, Campuchia. Sau vụ dịch sốt xuất huyết và 669 ca tử vong và tại thời điểm này các vụ dịch sốt xuất huyết vẫn chưa được khống chế. Tại Singapore, năm 2004 là năm có số mắc sốt xuất huyết cao nhất kể từ năm 1998, số mắc ghi nhân lên tới 8.500 trường hợp mắc (promed mail – 170104), cao gấp 2 lần số mắc năm 2003 và là số mắc cao nhất trong 10 năm trở lại đây ở nước này. Malayxia cũng ghi nhận tới 33.203/58 trường hợp mắc/chết trong năm 2004, số mắc cao nhất kể từ năm 1999 tại nước này. Một số nước khác trong khu vực cũng ghi nhận có tỷ lệ chết/mắc do sốt xuất huyết cao là Philippines (0,7%), Srilanca (0,6%).

Bảng 1: Số liệu mắc chết do sốt xuất huyết trên thế giới 1999 2001

 

Khu vực của Who

1998

1999

2000

2001

Mắc

Chết

Mắc

Chết

Mắc

Chết

Mắc

Chết

Tây Thái Bình Dương

356,554

1,470

64,066

112

45,603

167

NA

NA

Đông Nam Á

218,859

2,075

55,405

471

57,997

542

119,707

452

Châu Mỹ (DF)

708,146

0

317,040

0

394,847

0

400,875

0

Châu Mỹ (DHF)

12,426

83

5,216

98

5,667

92

5,331

44

Châu Mỹ (tổng cộng)

720,572

83

322,256

98

400,514

9

406,206

44

Địa Trung Hải

Không có số liệu báo cáo (một số nước có ca bệnh như Pak istan, Somalia, Sudan)

Châu Phi

Không có trường hợp mắc dengue nào được báo cáo cho Who

Thế giới

1,295,985

3,628

441,727

681

504,114

801

525,913

496

2. Tình hình sốt xuất huyết tại Việt Nam

          Tại Việt Nam sốt xuất huyết là một trong mười bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất là trong 10 năm trở lại đây (1994 – 2003), tỷ lệ chết thư năm. Số dân sống trong vùng sốt xuất huyết lưu hành có nguy cơ mắc bệnh khoảng 70 triệu người.

          Cũng giống như các nước trong khu vực, số ca mắc và chết do sốt xuất huyết cũng có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây. Năm 2004 là năm có mắc tăng rõ rệt so với cùng kỳ các năm 2002 – 2003. Tính đến hết năm 2004, 78.680 ngàn trường hợp sốt xuất huyết và 114 trường hợp tử vong đã được ghi nhận trên toàn quốc. 90% số mắc và chết là ở trẻ em dưới 15 tuổi tập trung chủ yếu các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, khu vực phía Nam.

3. Sự cần thiết tiếp tục đầu tư dự án phòng chống sốt xuất huyết, 2006- 2010.

          Sốt xuất huyết đang là một trong 10 bệnh truyền nhiễm hàng đầu ở Việt Nam và vẫn tồn tại nhiều nguy cơ gây dịch lớn. Khi dịch xảy ra thường trên địa bàn rộng, gây nên quá tải cho bệnh viện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội, kinh tế quốc gia. Môi trường sinh thái hiện nay là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển do quá trình đô thị hoá, cơ sở hạ tầng thấp kém vì vậy sốt xuất huyết chưa thể khống chế được trong tương lai gần. Bệnh có thể gây ra ở mọi lứa tuổi, tập trung chủ yếu ở trẻ em dưới 15 tuổi, chiếm 90% tổng số mắc.

             Các yếu tố nguy cơ của bệnh ngày càng phức tạp và chưa thể kiểm soát được. Các yếu tố tự nhiên như khí hậu, thời tiết nắng nóng hiện tượng Elnino, Elnina trên thế giới tác động đến sự gia tăng của quần thể véctơ sốt xuất huyết. Tập quán trữ nước trong các dụng cụ chứa nước sinh hoạt để đối phó với thời tiết khô hạn đặc biệt tại các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long là yếu tố làm gia tăng quần thể muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết và gia tăng nguy cơ xảy ra dịch lớn tại các địa phương này. Việc sử dụng các hoá chất diệt côn trùng không kiểm soát làm tăng tính kháng của véctơ truyền bệnh. Sự gia tăng các hoạt động giao lưu, buôn bán và du lịch giữa các vùng miền trong nước, ngoài nước góp phần làm tăng nguy cơ lan truyền SXH trong cộng đồng. Dự báo có sự biến đổi chủng vi rút dengue và có khả năng gây dịch lớn.

Bệnh vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắcxin dự phòng đặc biệt. Điều trị bệnh sốt xuất huyết hiện nay là điều trị không có đặc hiệu, chủ yếu là điều trị chứng nằm tăng cường khả năng miễn dịch của bệnh nhân chống lại virút dengue. Vắc xin kháng virút dengue hiện đang được phát triển và nghiên cứu thử nghiệm trên người, nhưng vẫn chưa thể đưa vào sử dụng cho cộng đồng trong vòng 5-10 năm tới (YCYYTG, 2004).

Bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề kinh tế, xã hội: (1) gánh nặng kinh tế xã hội do bệnh sốt xuất huyết bao gồm các chi phí trực tiếp cho bệnh nhân nằm viện, thiệt hại kinh tế cho bệnh nhân và người nhà phải nghỉ việc để chăm sóc người ốm. (2) Thiệt hại do chi phí tốn kém diệt véc tơ truyền bệnh trong các vụ dịch, (3) Thiệt hại về du lịch. Ví dụ, kết quả một số nghiên cứu trên thế giới về tác động kinh tế của bệnh sốt xuất huyết cho thấy số liệu ước tính cho điều trị một ca bệnh SXHD là 299 USD tại Cuba, 44 USD tại Nicaragua, 28 USD tại Puerto Rico và 118 USD tại Thái Lan. Chi pí cho ngăn chặn một vụ dịch sốt xuất huyết đã lên tới con số hàng triệu đôla. Vụ dịch sốt xuất huyết tại Cuba 1981 đã tiêu tốn trên 103 triệu đôla Mỹ, trong đó 43 triệu đôla dành cho các hoạt động diệt véc tơ. Các chi phí trực tiếp dập dịch tại vụ dịch SXHD ở nước láng giềng Thái Lan năm 1994 bao gồm phí điều trị và diệt muỗi cũng lên tới 13 triệu đôla Mỹ. Tại Indonêsia 2004 là 30 triệu đôla Mỹ.

 

Mục tiêu và chỉ tiêu giai đoạn 2006 - 2010

 

1. Mục tiêu chung

- Giảm tỷ lệ mắc

- Giảm tỷ lệ chết

- Khống chế không để dịch xảy ra

- Xã hội hoá công tác phòng chống sốt xuất huyết

2. Mục tiêu cụ thể

-  Giảm 10% tỷ lệ chết/mắc do sốt xuất huyết giai đoạn 1999 - 2005

- Giảm 15% tỷ lệ mắc/100.000 dân do sốt xuất huyết giai đoạn 1999 - 2005

- Củng cố và tăng cường hệ thống chẩn đoán và điều trị bệnh nhân sốt xuất huyết tại tuyến cơ sở.

- Tăng cường hệ thống giám sát huyết thanh, vi rút và giám sát vectơ truyền bệnh tại tuyến tỉnh, huyện.

- Mở rộng và củng cố hoạt động của mạng lưới cộng tác viên sốt xuất huyết tại cộng đồng

- Tăng cường kiến thức thái độ và hành vi phòng chống sốt xuất huyết tại cộng đồng.

- Luật pháp hoá công tác phòng chống sốt xuất huyết. 
 
 
 

  
            I. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NĂM 2009

 

Năm 2009, tình hình bệnh sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue (SD/SXHD) diễn biến phức tạp và nguy hiểm tại các nước khu vực (Singapore, Indonesia, Thái Lan, Philippines, Srilanka) và Việt Nam. Tại Việt Nam, bệnh nhân chủ yếu tập trung tại các tỉnh/thành phố là Hà Nội, Nghệ An, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thanh Hóa. Các hoạt động giám sát dịch tễ và phòng chống SD/SXHD đã được triển khai chủ động và tích cực tại phần lớn các tỉnh/thành phố. Kết quả thực hiện cụ thể như sau:

 1. Ban điều hành dự án khu vực :

 1.1 Về công tác chỉ đạo :

·         Tổ chức tập huấn lại cho các cán bộ Trung tâm y tế dự phòng (TTYTDP) 28 tỉnh, thành phố về kỹ năng giám sát (bệnh nhân, huyết thanh, côn trùng, phun hóa chất) tháng 7/2009.

·         Tổ chức hội nghị triển khai dự án phòng chống SD/SXHD khu vực miền Bắc tháng 7/2009

·         Công văn chỉ đạo và phối hợp TTYTDP 08 tỉnh trọng điểm triển khai xây dựng kế hoạch phun hóa chất chủ động, chiến dịch diệt bọ gậy tháng 5/2009.

·         Tổ chức họp 8 tỉnh trọng điểm xây dựng lại kế hoạch, thông báo khó khăn tồn tại và triển khai kế hoạch phun hóa chất chủ động tháng 7/2009.

·         Hướng dẫn bằng văn bản cách pha, phun hóa chất cập nhật mới nhất cho các tỉnh trọng điểm tháng 9/2009

·         Công văn tăng cường phòng chống SD/SXHD cho các tỉnh miền Bắc tháng 9/2009

·         Công văn củng cố hệ thống báo cáo SD/SXHD tháng 11/2009

·         Công văn tăng cường công tác phòng chống SD/SXHD tháng 11/2009

·         Công văn yêu cầu 28 tỉnh/thành phố báo cáo hoạt động phòng chống SD/SXHD tháng 12/2009

 1.2 Công tác hỗ trợ phòng chống dịch :

  ·         Cấp 1.150 lít hóa chất Deltamethrin cho 8 tỉnh trọng điểm để thực hiện công tác chống dịch.

  ·         Giám sát thử độ nhạy cảm hóa chất tại 5 điểm ở Hà Nội là: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Triều Khúc và một số tỉnh trọng điểm khu vực Miền Bắc.

  ·         Tham gia, chỉ đạo (giám sát bệnh nhân, côn trùng và phun hóa chất) chống dịch SD/SXHD 2 đợt tại xã Tân Triều, Thanh Trì tháng 7/2009.

  ·         Tham gia chỉ đạo việc phun hóa chất tại 3 Quận Thanh Xuân, Hoàng Mai, Định Công, Hà Nội.

  ·         Tham gia giám sát chống dịch SD/SXHD tại Nam Định tháng 8/2009

  ·         Tham gia giám sát chống dịch SD/SXHD tại Sơn La tháng 11/2009

 2. Giám sát dịch tễ bệnh SD/SXHD:              

 

 2.1. Giám sát bệnh nhân:
 
            Theo báo cáo của các tỉnh/thành phố năm 2009 toàn bộ khu vực miền Bắc có 18.485 ca mắc SD/SXHD, 4 ca tử vong (đều ở Hà Nội). Số ca mắc bệnh tập trung tại 17/28 tỉnh/ thành phố phía Bắc trong đó Nghệ An (473); Bắc Giang (425); Quảng Ninh (268); Thanh Hóa (258); Hải Phòng (272); và đặc biệt Hà Nội (16.175 trường hợp), 4 ca tử vong chiếm 87% số ca mắc trong khu vực. Số mắc năm 2009 của miền Bắc tăng 4.5 lần so với cùng kỳ 2008 (4.070 trường hợp), các trường hợp SD/SXHD khu vực miền Bắc năm 2009 tập trung chủ yếu ở người lớn >15 tuổi (87,7%). Trong tổng số 18.485 ca mắc SD/SXHD phân độ lâm sàng có 3.537 ca SD (19,1%) và 14.948 ca SXHD (80,9%). Trong các ca mắc SXHD phân độ lâm sàng chủ yếu là độ I, II (99%), chỉ có 114 ca độ III, IV.

      Riêng tại Hà Nội số ca mắc năm nay tăng đột biến (16.175 trường hợp, 4 trường hợp tử vong)  tăng gấp 7.6 lần so với cùng thời kỳ 2008 (2131 trường hợp). Bệnh nhân phân bố tại 29/29 quận huyện (100%) với 521/577 xã phường (90,3%). Tuy nhiên bệnh nhân tập trung chủ yếu ở khu vực nội thành và các huyện ngoại thành nơi có tốc độ đô thị hóa cao (78%). 54% bệnh nhân là học sinh, sinh viên, người lao động tự do và người ngoại tỉnh. Số ca nghi mắc chủ yếu là SD (17,4%) và SXHD độ I, II (82,6%), không có mắc độ III và IV. Số ca mắc cũng tập trung chủ yếu ở người lớn (87,7%).

 2.2. Giám sát huyết thanh:

      Tổng số 2.818 mẫu/ 18.485 trường hợp nghi mắc (15,2%) được xét nghiệm huyết thanh trong đó 1.634 mẫu giám sát tại địa phương (bằng Mac-Elisa kháng thể và Test nhanh kháng nguyên NS1) và 1.184 mẫu xét nghiệm Mac-Elisa tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương. Tỷ lệ dương tính với virut Dengue là 23,9% (673+/2.818 mẫu). Hà Nội 22,1% dương tính với virut Dengue (415+/1878 mẫu xét nghiệm). Năm 2009 phân lập 169 mẫu, kết quả chủ yếu là Dengue typ 1 (80+/169) và chủ yếu ở Hà Nội, có 1 mẫu Dengue typ 2 tại tỉnh Hà Tĩnh.

      Các tỉnh, thành phố tích cực lấy mẫu bệnh phẩm để xét nghiệm là Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An, Thái Bình.

 2.3. Giám sát véctơ:

542 quận, huyện/28 tỉnh, thành phố vẫn tiếp tục thực hiện giám sát véc tơ từ đầu năm tuy nhiên số điểm giám sát giảm do dự án tạm dừng. Theo kết quả giám sát năm 2009, các điểm giám sát véc tơ khác nhau có chỉ số véc tơ ở mức độ khác nhau, có nhiều điểm chỉ số véc tơ tới ngưỡng hoặc vượt ngưỡng gây dịch, ví dụ: Hà Nội, Nghệ An đồng thời có ghi nhận bệnh nhân mắc SD/SXHD. Chỉ số véc tơ tăng cao vào các tháng đầu mùa dịch, đặc biệt vào đỉnh dịch là tháng 9 và tháng 10. Tỉnh/thành phố có giám sát véc tơ thường xuyên, tích cực là Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Bắc Giang.

Giám sát tính nhạy cảm của muỗi Ae.aegypti tại 13 tỉnh/thành phố phía Bắc với hóa chất diệt côn trùng thuộc nhóm Pyrethroid (theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới) cho thấy muỗi Ae aegypti tại một số điểm ở Hà Nội như: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Triều Khúc đã kháng với Deltamethrin. Đối với Permethrin muỗi Ae aegypti tại Hưng Yên kháng, tại Thanh Hóa tăng sức chịu đựng. Muỗi Ae aegypti tại Hà Nội, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Hưng Yên kháng Icon (chi tiết kết quả thử kháng đính kèm báo cáo)

 

 3. Tập huấn:

 

 3.1 Ban điều hành khu vực:

Ban điều hành dự án phòng chống sốt huyết miền Bắc tổ chức tập huấn cho các cán bộ TTYTDP 28 tỉnh, thành phố về kỹ năng giám sát (bệnh nhân, huyết thanh, côn trùng, phun hóa chất)

Phối hợp với TTYTDP Hà Nội tổ chức lớp tập huấn “Giám sát phát hiện, chẩn đoán, chăm sóc, điều tra dịch tễ học và xử lý ổ dịch sốt xuất huyết” cho các đối tượng là Trưởng khoa Kiểm soát dịch, bệnh và chuyên trách SD/SXHD 29 quận, huyện và thị xã của Hà Nội.

 3.2 Tại các địa phương:

TTYTDP tỉnh, thành phố đã tổ chức 315 lớp tập huấn cho các cán bộ chuyên trách tuyến tỉnh và huyện với tổng số 18.970 học viên; 542 lớp tập huấn tuyến xã với 836 cán bộ chính quyền địa phương, 1.430 giáo viên cấp I, II và 32.570 học sinh cấp I&II; 1.964 cộng tác viên.

 4. Tuyên truyền, giáo dục:


 4.2 Ban điều hành dự án khu vực:
 
            Tổ chức in 35.000 ấn phẩm truyền thông (15.000 tờ rơi và 20.000 thời khóa biểu) cấp phát cho 8 tỉnh trọng điểm miền Bắc sử dụng trong công tác phòng chống SD/SXHD tại địa phương.
 
 4.3 Tại các địa phương :
 

Hoạt động truyền thông, giáo dục đã được triển khai đồng bộ, dưới nhiều hình thức, đa dạng từ Trung ương đến cơ sở. Phát sóng 130 buổi truyền hình địa phương, 168.853 buổi phát thanh, truyền thanh. Cấp 12.073 tranh tuyên truyền, 1.153 khẩu hiệu, 722.919 tờ rơi đến các cơ sở y tế và cộng đồng.

Mạng lưới cộng tác viên (CTV) và Ban chỉ đạo tuyến xã/phường đã thể hiện vai trò quan trọng trong hoạt động giáo dục, tuyên truyền, cầu nối hữu hiệu đưa kiến thức phòng chống bệnh SD/SXHD đến với người dân và làm thay đổi hành vi, tập quán trữ nước không có lợi. 263 xã/phường có CTV tuyên truyền, 26 quận/huyện có CTV tuyên truyền, 216 xã/phường có học sinh tuyên truyền, 224 quận/huyện có học sinh tuyên truyền, 623 xã/phường có tổ chức quần chúng tham gia tuyên truyền, 20 quận/huyện có tổ chức quần chúng tham gia tuyên truyền. Hoạt động tích cực nhất ghi nhận tại Hà Nội, Hải Dương, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Nam Định và Thái Bình
 

 5. Hoạt động phun hóa chất và vệ sinh môi trường diệt bọ gậy tại cộng đồng:

 

 5.1 Hoạt động phun hóa chất:
 

Chiến dịch phun hóa chất được triển khai ở 64 quận/ huyện và 129 xã phường của 8 tỉnh trọng điểm khu vực miền Bắc với tổng số 4.796 lít hóa chất được sử dụng. Tuy nhiên khu vực miền Bắc duy nhất chỉ có Hà Nội triển khai phun hóa chất chủ động, các tỉnh khác chỉ triển khai chiến dịch phun hóa chất khi có bệnh nhân mắc SD/SXHD.

Kết quả chiến dịch phun hóa chất tại Hà Nội : Năm 2009 Hà Nội đã triển khai được 7 đợt phun hóa chất : Đợt 1 (6/5-24/5) ; Đợt 2 (27/6-24/7) ; Đợt 3 (28/7-16/8) ; Đợt 4 (18/8-4/9) ; Đợt 5 (14/9-25/9) ; Đợt 6 (6/11-25/11) ; Đợt 7 (25/11-6/12) với tổng số 112 chiến dịch ở 27 quận/ huyện, 51 xã/ phường, tổng số 433.776 hộ gia đình được phun hóa chất. Chiến dịch phun hóa chất được thực hiện bởi các đội phun chuyên nghiệp của TTYTDP Hà Nội và các quận. Kỹ thuật pha và phun hóa chất theo hướng dẫn của Bộ Y tế và Viện Vệ sinh Dich tễ Trung ương. Tổng số hóa chất đã được sử dụng là 3.415 lít (2577 lít Permethrine 50 EC; 838 lít Delta UK). Các chỉ số mật độ muỗi và BI đánh giá trước sau đều được thực hiện, kết quả sau phun thấy giảm rõ rệt.

 

 5.2 Hoạt động vệ sinh môi trường diệt bọ gậy :
 

Hoạt động diệt bọ gậy tại cơ sở được triển khai với 447 xã có CTV, 592 xã có học sinh và 796 xã có tổ chức quần chúng. 287 chiến dịch diệt bọ gậy được tổ chức thực hiện. Kết quả đã xử lý được 136.805 ổ bọ gậy, thu gom 546.694 kg dụng cụ phế thải. Phóng thả 141.395 con cá các loại vào dụng cụ chứa nước (các tỉnh,thành thực hiện thả cá tốt như: Hà Nội, Hải Dương, Nghệ An, Ninh Bình, Thái Bình)

             

 6. Tình hình tiếp nhận và sử dụng kinh phí bổ sung năm 2009:

 

 6.1 Ban điều hành dự án khu vực:
 

            Tính đến nay, kinh phí Ban điều hành dự án phòng chống Sốt xuất huyết Miền Bắc đã giải ngân được 70% kinh phí, còn lại 30% (351,680,200 VND) không thể giải ngân. Việc giải ngân và triển khai kế hoạch gặp khó khăn do kinh phí của Dự án phòng chống sốt xuất huyết khu vực miền Bắc được phân bổ quá muộn nên Ban điều hành gặp rất nhiều khó khăn trong việc triển khai các hoạt động của dự án.

                           

 6.2 Tại các địa phương:
 

            Tính đến 15/12/2009 chỉ có 6 tỉnh báo cáo về Ban điều hành dự án khu vực tình hình sử dụng kinh phí phòng chống SD/SXHD năm 2009 là Hà Nội, Bắc Ninh, Sơn La, Nghệ An, Hà Nam, Hải Phòng. Theo đó các tỉnh này đã giải ngân hết số kinh phí do Trung ương và địa phương  cấp cho hoạt động của Dự án phòng chống SD/SXHD năm 2009 tại địa phương.                          

 7. Những tồn tại/khó khăn trong công tác phòng chống dịch sốt xuất huyết năm 2009:

·         Tổ chức tập huấn lại cho các cán bộ Trung tâm y tế dự phòng (TTYTDP) 28 tỉnh, thành phố về kỹ năng giám sát (bệnh nhân, huyết thanh, côn trùng, phun hóa chất) tháng 7/2009.

·         Chương trình mục tiêu quốc gia gián đoạn 2 năm: 2007 – 2008 dẫn đến hệ thống giám sát thiếu, không có cộng tác viên.

·         Khi chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống sốt xuất huyết được khởi động lại thì kinh phí của chương trình cấp muộn, vì vậy hoạt động của màng lưới cộng tác viên, lực lượng nòng cốt trong hoạt động phòng chống SXH chủ động có sự tham gia của cộng đồng còn hạn chế.

·         Diễn biến của thời tiết phức tạp, sự lưu biến động của quần thể véc tơ làm tăng nguy cơ bùng phát dịch.

·         Riêng tại Hà Nội, những năm gần đây quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ,biến động dân cư lớn, dịch bệnh xảy ra sớm và trên diện rộng, cùng lúc với các loại bệnh dịch Sởi, Tả, Cúm AH1N1 gây khó khăn cho công tác phòng chống. Ngoài ra sự hợp tác của người dân trong công tác phòng chống SXH, đặc biệt ở khu vực nội thành còn hạn chế. Nhiều khu vực còn thiếu nước sạch, ý thức vệ sinh môi trường kém nhất là nơi học sinh, sinh viên và người lao động thuê trọ, các làng nghề buôn bán phế liệu phế thải, các khu công trường xây dựng.
 

 8. Đề nghị:

 

 8.1 Kiện toàn bộ máy tổ chức các tuyến Trung ương và địa phương nhất là cán bộ chuyên trách về Sốt xuất huyết và mạng lưới cộng tác viên.

 8.2  Tổ chức lập kế hoạch sớm để việc chuẩn bị công tác triển khai các hoạt động dự án năm tới được tốt hơn.

 8.3 Bổ sung, điều chỉnh thông tin sớm và chính xác như các thông báo cấp kinh phí, hướng dẫn chi tiêu, tài liệu hướng dẫn chuyên môn đến các đơn vị phụ trách.

 8.4 Các trang thiết bị, vật tư, hóa chất cần được cung cấp đúng thời điểm theo kê hoạch đề ra.
 

            II. KẾ HOẠCH NĂM 2010

 

 1. Mục tiêu chung:

 

Làm giảm tỷ lệ mắc, tử vong do SD/SXHD, khống chế không để dịch lớn xảy ra, xã hội hóa công tác phòng chống SD/SXHD.
 

 2. Mục tiêu cụ thể:

 

1.      Giảm 15% tỷ lệ mắc/100.000 dân do SD/SXHDso với trung bình giai đoạn 2003 - 2007

2.      Giảm 10% tỷ lệ chết/mắc do SD/SXHDso với trung bình giai đoạn 2003 -2007

3.      7% số bệnh nhân nghi SD/SXHDđược chẩn đoán bằng xét nghiệm huyết thanh. Ban điều hành dự án phòng chống SD/SXHDcác khu vực căn cứ số mắc tung bình 5 năm của địa phương để giao chỉ tiêu cụ thể.

4.       3 % số bệnh nhân nghi SD/SXHDđược chẩn đoán phân lập virut. 

5.      80% bệnh nhân SD/SXHDdengue độ I&II được theo dõi, điều trị tại cơ sở y tế và tại cộng đồng.

6.      Ít nhất 80% số huyện tại các tỉnh loại A, B, ít nhất 20% số huyện tại các tỉnh, thành phố loại C có điểm giám sát véc tơ thường xuyên

7.      Xây dựng và củng cố mạng lưới cộng tác viên và hoạt động diệt bọ gậy/lăng quăng tại hộ gia đình tại 10% số xã của tỉnh loại A, 5% số xã của tỉnh loại B.

8.      90% hộ gia đình tại xã có cộng tác viên được cung cấp kiến thức phòng chống dịch, cam kết không có bọ gậy/lăng quăng trong hộ gia đình.

9.      75% hộ gia đình tại xã có cộng tác viên kiểm tra định kỳ không có  bọ gậy/lăng quăng trong nhà.

 

 3. Tổ chức:

 

Củng cố và tăng cường các hoạt động chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá của ban điều hành khu vực. Duy trì và phát huy vai trò của ban chỉ đạo địa phương, tổ chức thực hiện các giám sát và phòng chống bệnh từ tuyến tỉnh đến tuyến huyện, xã.

Đưa các hoạt động phòng chống SD/SXHD thành chỉ tiêu trong kế hoạch hàng năm của từng địa phương. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác phòng chống SD/SXHD. Các cấp, ngành phải trực tiếp tham gia, chỉ đạo, giao nhiệm vụ cụ thể cho các Ban, Ngành, Đoàn thể liên quan phối hợp với ngành Y tế thực hiện mục tiêu đề ra. Ngoài số kinh phí hỗ trợ của Trung ương, có kế hoạch đầu tư trên nguyên tắc Địa phương và Trung ương cùng làm.

Củng cố và mở rộng mạng lưới CTV, đặc biệt chú trọng đến hiệu quả và khả năng thực hiện tại cộng đồng.

Đề cao trách nhiệm của người dân trong việc thực hiện bản cam kết Không có bộ gậy trong nhà của mỗi gia đình ký với UBND xã. Thực hiện đợt kiểm tra thực hiện cam kết tại cơ sở.
 
 4. Tập huấn
 

Củng cố kỹ năng giám sát dịch tễ, chẩn đoán và điều trị bệnh nhân SD/SXHD. Tăng cường tập huấn cho mạng lưới CTV, tập trung nâng cao kiến thức về bệnh SD/SXHD, kỹ năng tuyên truyền cho hộ gia đình phát hiện, xử lý ổ bọ gậy.

 

 5. Tuyên truyền, giáo dục:

 

Tăng cường hoạt động giáo dục truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng như tivi, loa phát thanh, đài, báo, tờ rơi, áp phích và pano nhằm thu hút sự quan tâm, cải thiện mức độ hiểu biết của cộng đồng về bệnh SD/SXHD và hướng dẫn thực hiện các biện pháp diệt vectơ tại hộ gia đình.
 

 6. Giám sát dịch tễ:

 

Thực hiện đúng thường quy “Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh SD/SXHD”  và các văn bản sửa đổi, bổ sung do Bộ Y tế ban hành. Tăng cường chất lượng giám sát dịch tễ (bệnh nhân, huyết thanh và virut, muỗi vectơ truyền bệnh) tại tuyến cơ sở, giám sát tích cực và chủ động nhằm phát hiện sớm, dập dịch kịp thời, khoanh vùng ổ dịch, hạn chế lây truyền bệnh tại các tuyến, đặc biệt là tuyến xã, phường ở các điểm trọng điểm, giảm gánh nặng về sức khoẻ và kinh tế cho nhân dân.

Nâng cao chất lượng chẩn đoán huyết thanh, kết quả chẩn đoán phải kịp thời để định hướng cho các biện pháp phòng chống. Tích cực lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm theo đúng tiêu chuẩn và gửi phòng thí nghiệm vi rút Dengue, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương để xét nghiệm MAC-ELISA và phân lập virút các trường hợp nghi mắc SD/SXHD, kịp thời phát hiện sự chuyển hướng của các typ virut gây dịch. Phối hợp chặt chẽ với các cơ sở Y tế đóng trên địa bàn theo dõi và tổng hợp các ca bệnh theo mẫu điều tra bệnh nhân SD/SXHD.

Tăng cường giám sát theo dõi biến động của quần thể véc tơ, thực hiện giám sát thường xuyên theo thường quy. Giám sát véc tơ tập trung tại vùng trọng điểm, phát hiện và xử lý triệt để ổ bọ gậy của véctơ truyền bệnh.

Thu thập muỗi và bọ gậy gửi phòng thí nghiệm côn trùng, phòng thí nghiệm hoá diệt Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương để định loại véc tơ truyền bệnh và đánh giá độ nhạy cảm của véc tơ với hoá chất diệt côn trùng.

 

 7. Hoạt động cộng đồng:

 

Tổ chức định kỳ hoạt động diệt bọ gậy tại cộng đồng thông qua mạng lưới CTV, học sinh, tổ chức quần chúng theo đúng tài liệu “Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh SD/SXHD”ban hành kèm theo quyết định số 794/QĐ-BYT ngày 09/03/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Khi có dịch, báo cáo khẩn cấp về Ban điều hành dự án bằng điện thoại và fax.

Triển khai các chiến dịch vệ sinh môi trường, thu gom phế thải nhằm làm giảm nơi sinh sản của véc tơ truyền bệnh.

Củng cố và mở rộng mạng lưới CTV, đây là lực lượng nòng cốt để triển khai các biện pháp phòng chống, diệt bọ gậy, muỗi truyền bệnh tại cộng đồng, là lực lượng quyết định sự thành công của dự án.

Huy động các thành phần xã hội, ban ngành đoàn thể, nhà trường tham gia vào các hoạt động diệt bọ gậy tại cộng đồng nhằm mục tiêu xã hội hoá công tác phòng chống SD/SXHD.

 

 8. Thống kê, báo cáo

 

Thực hiện đúng và đủ chế độ báo cáo theo quy định của dự án. Báo cáo phân biệt bệnh nhân chẩn đoán lâm sàng và chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm huyết thanh.

Sử dụng mẫu báo cáo do dự án cấp, hoặc được quy định trong tài liệu Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh SD/SXHD” ban hành kèm theo quyết định số 794/QĐ-BYT ngày 09/3/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Số liệu bệnh nhân thống nhất với số liệu báo cáo 24 bệnh truyền nhiễm.

 

 9. Kiểm tra, đánh giá, khen thưởng:
 

Duy trì hoạt động kiểm tra tuyến, tuyến tỉnh sẽ tăng cường kiểm tra, đôn đốc tiến độ đạt mục tiêu tại địa phương, tập trung vào việc triển khai, giám sát, nhất là vào các tháng trước mùa dịch. Ban điều hành dự án khu vực thực hiện giám sát tích cực, kiểm tra, chỉ đạo và thường xuyên báo cáo về ban điều hành quốc gia.

Hàng tháng, tại các xã dự án cần phải bố trí cán bộ chuyên trách giao ban với CTV các xã/phường, giám sát hoạt động tại hộ gia đình, kiểm tra sổ sách và bổ sung kỹ năng hoạt động của CTV tại cộng đồng, động viên, khuyến khích sự hăng say và sự tình nguyện của CTV.

Khen thưởng kịp thời các đơn vị có thành tích xuất sắc dựa vào kết quả kiểm tra chéo, kết quả phòng chống bệnh SD/SXHD tại địa phương, kết quả đánh giá các hoạt động so với chỉ tiêu kế hoạch năm và hoạt động giám sát của ban điều hành dự án.

 
 
 
 
 

      I. TÌNH HÌNH SỐT XUẤT HUYẾT

          Bệnh nhân:
          Theo báo cáo chưa đầy đủ của 28 tỉnh/thành phố phía Bắc, tính đến ngày 24/06/2010 khu vực Miền Bắc có tổng số 520 ca nghi mắc sốt xuất huyết (SXH) các ca nghi mắc SXH chủ yếu tại Hà Nội (418 ca; 80%), Hải Phòng (46 ca, 9%), Bắc Giang (25 ca, 5%), Vĩnh Phúc (8 ca, 2%).
          Tại Hà Nội, số ca nghi mắc SXH tăng 2,2 lần so với cùng kỳ năm 2009 (193 ca), các ca nghi mắc SXH phân bố ở 27/29 quận, huyện (93%). Quận, huyện có nhiều ca nghi mắc SXH nhất là Hai Bà Trưng (95 ca), Hoàng Mai (73 ca). 2 quận, huyện chưa có ca nghi mắc SXH là Mỹ Đức, Ứng Hòa. Các quận, huyện còn lại số ca nghi mắc SXH nằm rải rác tại các xã, phường và có thời gian mắc bệnh khác nhau, không có ổ dịch tập trung.
          Như vậy, tính đến ngày 24/06/2010, số ca nghi mắc SXH của khu vực Miền Bắc gần như xấp xỉ so với cùng kỳ năm 2009 (468 ca). Số ca nghi mắc SXH tập trung chủ yếu ở người lớn > 15 tuổi (85%). Trong tổng số 520 ca nghi mắc SXH, phân độ lâm sàng có 217 ca nghi sốt Dengue (42 %) và 303 ca nghi sốt xuất huyết Dengue (58%), số ca nghi sốt xuất huyết Dengue đều là độ I, II (Phụ lục 1).
          Huyết thanh:
          Xét nghiệm tại Viện Vệ sinh Dịch tế Trung ương (VVSDTTƯ): Viện xét nghiệm được tổng số 208 mẫu xét nghiệm Mac-Elisa (44%), kết quả: 205/208 mẫu âm tính với virut Dengue (99%), 3/208 mẫu dương tính với virut Dengue (1%) đều tại Hà Nội. Cụ thể 03 mẫu xét nghiệm Mac – Elisa dương tính là của bệnh nhân tại Hai Bà Trưng (26/3/2010), Hoàng Mai (12/05/2010), Đống Đa (14/05/2010). Có 17 mẫu phân lập virut, tất cả đều (-).
          Xét nghiệm tại các Trung tâm Y tế dự phòng (TTYTDP): các TTYTDP tỉnh làm được tổng số 29 mẫu xét nghiệm huyết thanh (test nhanh) trong đó có 4 mẫu dương tính (2 mẫu ở Hải Phòng, 1 mẫu ở Nghệ An, 1 mẫu ở Bắc Ninh) (Phụ lục 2).
          Côn trùng:
          95 quận, huyện/28 tỉnh, thành phố thực hiện giám sát côn trùng thường xuyên từ đầu năm. Theo kết quả giám sát 5 tháng đầu năm 2010, các điểm giám sát côn trùng khác nhau có chỉ số côn trùng ở mức độ khác nhau, chỉ số BI cao nhất tại Hà Nội và Nghệ An.
          Tại Nghệ An, chỉ số BI tháng 3 và tháng 4 đã vượt ngưỡng nguy cơ cao (chỉ số BI tháng 3 là 22, tháng 4 là 27). Tuy nhiên tính tới thời điểm ngày 24/06/2010 tại Nghệ An chỉ ghi nhận 1 trường hợp nghi mắc SXH.
          Tại Hà Nội, từ tháng 1 tới tháng 5 chỉ số BI đều ở dưới ngưỡng nguy cơ cao. Tỉnh/thành phố có giám sát côn trùng thường xuyên, tích cực là Hà Nội, Bắc Ninh, Nghệ An, Bắc Giang (Phụ lục 3).

      II. HOẠT ĐỘNG CỦA DỰ ÁN PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT KHU VỰC

      1. Về công tác tổ chức, chỉ đạo:

·         Tổ chức họp Ban điều hành dự án khu vực Miền Bắc, thông qua kế hoạch triển khai dự án năm 2010 và phân công nhiệm vụ cho các thành viên ban chỉ đạo, tháng 3/2010.

·         Hướng dẫn và chỉ đạo các tỉnh, thành phố lập Kế hoạch hoạt động phòng chống sốt xuất huyết năm 2010 (tháng 3/2010) đến nay 28/28 tỉnh, thành phố đã có kế hoạch hoạt động.

·         Tổ chức Hội thảo về : Tình hình kháng hóa chất ở muỗi Aedes và tác động của nó tới việc phòng chống sốt xuất huyết ; cập nhật thông tin về bệnh Chikungunya và sốt xuất huyết ở Đông Nam Á, tháng 3/2010.

·         Tổ chức Hội thảo về : Quản lý số liệu bằng không gian qua phần mềm Google Earth, tháng 4/2010.

·         Tổ chức tập huấn công tác giám sát và xử lý ổ dịch sốt xuất huyết cho TTYTDP 28 tỉnh, thành phố phía Bắc (Lãnh đạo, dịch tễ, côn trùng, xét nghiệm.

·         Tổ chức đoàn kiểm tra, chỉ đạo công tác phòng chống sốt xuất huyết, làm việc cùng Sở Y tế và Trung tâm Y tế dự phòng 8 tỉnh, thành phố trọng điểm khu vực Miền Bắc, tháng 5 & 6/2010 (đang triển khai).

·         Chỉ đạo 8 tỉnh, thành phố trọng điểm khu vực Miền Bắc thu thập mẫu bọ gậy và gửi về Viện để tiến hành thử kháng, thử sinh học muỗi truyền bệnh, tháng 5/2010.

·         Chỉ đạo Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội gửi tất cả các mẫu huyết thanh của bệnh nhân nghi sốt xuất huyết về Viện làm xét nghiêm huyết thanh nhằm chủ động phòng chống dịch, tháng 3/2010.

      2. Các hoạt động cụ thể :

·         Phối hợp cùng Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội tổ chức lớp tập huấn về sốt xuất huyết cho 29 quận, huyện của thành phố Hà Nội, tháng 3/2010.

·         Đang phối hợp cùng Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội thử kháng và thử sinh học muỗi Aedes tại 8 quận, huyện trọng điểm của Hà Nội, tháng 5/2010 (đang triển khai).

·         Phối hợp cùng Cục Y tế dự phòng làm phim tuyên truyền về sốt xuất huyết, tháng 5/2010.

·         Đang phối hợp với TTYTDP 8 tỉnh, thành phố trọng điểm thu thập bọ gậy để tiến hành thử kháng và thử sinh học (thực hiện trong tháng 5 - 6/2010).

·         Đang phối hợp cùng TTYTDP các tỉnh, thành phố chọn các điểm giám sát trọng điểm về sốt xuất huyết (Giám sát dịch tễ, giám sát côn trùng, giám sát virut học).

     
      3. Tập huấn:
          Ban điều hành khu vực: Ban điều hành dự án phối hợp với TTYTDP Hà Nội tổ chức lớp tập huấn về sốt xuất huyết cho các đối tượng là Trưởng khoa Kiểm soát dịch, bệnh và chuyên trách dịch tễ 29 quận, huyện của Hà Nội.
          Tại các địa phương: TTYTDP các tỉnh, thành phố đã tổ chức 57 lớp tập huấn cho các cán bộ chuyên trách tuyến tỉnh và huyện với tổng số 1.585 học viên; 121 lớp tập huấn tuyến xã với 275 cán bộ chính quyền địa phương, 320 giáo viên và 4.900 học sinh cấp I&II, 292 cộng tác viên.
 
      4. Tuyên truyền, giáo dục:
          Ban điều hành khu vực: Cung cấp 400.000 tờ rơi tuyên truyền cho 28 tỉnh thành phía Bắc. Ban điều hành dự án phối hợp với Cục Y tế dự phòng làm phim tuyên truyền về sốt xuất huyết và đang tiến hành in sổ cộng tác viên cấp phát cho cộng tác viên 8 tỉnh trọng điểm, tháng 5/2010.
          Tại các địa phương: Hoạt động truyền thông, giáo dục đã được triển khai dưới nhiều hình thức tại 1 số tỉnh, thành phố khu vực Miền Bắc, cụ thể: Phát sóng 3 buổi truyền hình địa phương, 2.944 buổi phát thanh, truyền thanh, cấp 630 tranh tuyên truyền, 110 khẩu hiệu, 54.000 tờ rơi đến các cơ sở y tế và cộng đồng.
          Mạng lưới cộng tác viên và Ban chỉ đạo tuyến xã/phường đã thể hiện vai trò quan trọng trong hoạt động giáo dục, tuyên truyền, cầu nối hữu hiệu đưa kiến thức phòng chống bệnh sốt xuất huyết đến với người dân và làm thay đổi hành vi, tập quán trữ nước không có lợi. 26 quận/huyện, 61 xã/phường có cộng tác viên tuyên truyền; 14 quận/huyện, 41 xã/phường có học sinh tuyên truyền; 17 quận/huyện, 27 xã/phường có tổ chức quần chúng tham gia tuyên truyền.

      III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

      1. Bài học thành công
          Chuyển đổi chiến lược từ phòng chống bị động (phun hóa chất khi có dịch) sang phòng chống chủ động (thực hiện các biện pháp diệt véc tơ truyền bệnh trước khi có dịch xảy ra, tiến hành phun hóa chất chủ động khi mật độ muỗi cao) là hướng đi rất đúng đắn của Ban điều hành dự án. 
          Mô hình phòng chống Sốt xuất huyết của dự án là mô hình có sự kết hợp từ hai phía, tức là huy động sự tham gia của cộng đồng nhưng có sự chỉ đạo, hướng dẫn của Chính quyền, Y tế và Giáo dục.
          Mạng lưới CTV được quan tâm, phát triển, đây chính là lực lượng nòng cốt trong phòng chống SXH tại cộng đồng. Mạng lưới CTV đã dần dần giúp người dân nâng cao nhận thức và có những hoạt động tích cực tham gia vào công tác phòng chống SXH. Xã hội hóa công tác phòng chống SXH chính là chìa khóa của sự thành công.
      2. Các vấn đề tồn tại và thách thức
          Tài liệu “Giám sát, chẩn đoán và điều trị bệnh Sốt xuất huyết Dengue” đã được chỉnh sửa tại cuộc họp Ban điều hành Trung ương tại Đại Lải (03/04/2010) để phù hợp với tình hình thực tế, nhưng cho đến nay vẫn chưa ban hành tài liệu chuẩn hướng dẫn công tác giám sát và phòng chống sốt xuất huyết cập nhật.
          Hiện tại các tỉnh chưa thể làm được xét nghiệm Mac – Elisa do thiếu sinh phẩm chẩn đoán nên phần lớn kết quả xét nghiệm huyết thanh báo cáo lên Viện đều là kết quả thử test nhanh do trung tâm y tế dự phòng tỉnh, thành phố tự mua. Trong khi đó vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá độ tin cậy của các test này. Vì thế, việc chẩn đoán sai, chẩn đoán nhầm, giám sát nhầm là rất dễ xảy ra. Bên cạnh đó tỷ lệ xét nghiệm (-) tại Viện VSDT rất cao dẫn đến những nghi ngờ trong các khâu lấy mẫu, bảo quản mẫu và xét nghiệm cần được nghiên cứu và rà soát.
          Hiện tượng kháng hóa chất ở đô thị không phải diễn ra trên quy mô thành phố mà diễn ra trên quy mô quận/huyện nên việc hướng dẫn cách pha và phun hóa chất sẽ phụ thuộc vào việc thử sinh học cho từng quận/huyện, việc này đòi hỏi nhiều thời gian và nhân lực cho Viện với việc thử sinh học để đưa ra các biện pháp chỉ đạo trước mùa dịch.
          Khu vực Miền Bắc mỗi CTV phụ trách từ 80 - 100 hộ gia đình thì trên thực tế hiện nay mỗi CTV đang phải phụ trách từ 150 - 200 hộ gia đình do có sự biến động dân cư liên tục. Người dân ngoại tỉnh tới sinh sống và thuê trọ tại các tỉnh, thành phố lớn là rất nhiều (đặc biệt tại Hà Nội) và họ lại là nhóm có nguy cơ cao nhất. Như vậy công việc giám sát tại cộng đồng quá tải với các CTV, cộng thêm với việc kinh phí hỗ trợ cho CTV còn quá thấp gây hạn chế trong công tác giám sát tại cộng đồng.

      VI. NHẬN ĐỊNH - DỰ BÁO

Sốt xuất huyết diễn biến phức tạp có nguy cơ bùng phát thành dịch trong năm 2010, do:

1.      Diễn biến biến thời tiết phức tạp, nhiệt độ tăng, mùa mưa đến sớm, kéo dài và trên diện rộng tạo điều kiện cho muỗi truyền bệnh phát triển.

2.      Tại Hà Nội số ca nghi mắc Sốt xuất huyết có dấu hiệu tăng lên và rải rác ở khác các quận/huyện trong thành phố. Số mắc 6 tháng đầu năm sấp xỉ bằng số mắc 6 tháng đầu năm 2009

3.      Dự án Sốt xuất huyết Quốc gia chỉ bao phủ được 5-10% số xã nguy cơ cao, trong khi Sốt xuất huyết tại Hà Nội rải rác ở các xã /phường trong thành phố.
 
 

      I. MỤC TIÊU CHUNG

          Làm giảm tỷ lệ mắc, tử vong do Sốt xuất huyết, khống chế không để dịch lớn xảy ra, xã hội hóa công tác phòng chống Sốt xuất huyết.

      II. MỤC TIÊU CỤ THỂ

·          Giảm 10% tỷ lệ chết/mắc do Sốt xuất huyết so với trung bình giai đoạn 2003 - 2007.

·          Giảm 15% tỷ lệ mắc/100.000 dân do Sốt xuất huyết so với trung bình giai đoạn 2003 - 2007.

·          Tăng cường hệ thống giám sát bệnh nhân, huyết thanh, vi rút và giám sát véc tơ truyền bệnh tại tuyến tỉnh, huyện tại 08 tỉnh, thành phố trọng điểm về Sốt xuất huyết (01 tỉnh loại A và 07 tỉnh loại B).

·          Tăng cường năng lực chẩn đoán phân loại bệnh nhân Sốt Dengue/Sốt xuất huyết Dengue, điều trị bệnh nhân Sốt xuất huyết tại tuyến cơ sở.

·          Mở rộng và củng cố hoạt động mạng lưới cộng tác viên phòng chống Số xuất huyết tại cộng đồng (10% số xã của tỉnh loại A, 5% số xã của tỉnh loại B có mạng lưới cộng tác viên).

·          Tăng cường kiến thức, thái độ và hành vi phòng chống Sốt xuất huyết tại cộng đồng tại 28 tỉnh, thành phố.

·          Luật pháp hóa công tác phòng chống Sốt xuất huyết.

      III. CÁC BIỆN PHÁP

1. Về tổ chức, chỉ đạo

     1.1. Ban điều hành khu vực

-           Tăng cường hoạt động của Ban điều hành phòng chống sốt xuất huyết khu vực.

-           Xây dựng kế hoạch giám sát chống dịch của khu vực.

-           Tổ chức đoàn kiểm tra, hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật, chỉ đạo địa phương triển khai các biện pháp chống dịch.

-           Tổ chức thường trực chống dịch và báo cáo theo quy định.

     1.2. Tại các tỉnh, thành phố

-          Tăng cường năng lực hoạt động của Ban chỉ đạo chống dịch sốt xuất huyết tại tỉnh. Đối với các tỉnh chưa thành lập Ban chỉ đạo chống dịch sốt xuất huyết, Sở Y tế làm đầu mối trình Uỷ ban nhân dân tỉnh thành lập Ban chỉ đạo chống dịch sốt xuất huyết do 01 Lãnh đạo Uỷ ban làm trưởng ban có sự tham gia phối hợp của các Ban, ngành, đoàn thể.

-          Nhiệm vụ của Ban chỉ đạo chống dịch sốt xuất huyết tại tỉnh/thành phố:

+       Xây dựng kế hoạch giám sát chống dịch của tỉnh.

+       Chỉ đạo chính quyền các cấp, ban, ngành, đoàn thể triển khai các biện pháp phòng chống dịch khẩn cấp: Phun hoá chất diệt muỗi xử lý ổ dịch, tổ chức chiến dịch diệt bọ gậy phòng chống sốt xuất huyết.

+       Có biện pháp chính quyền xử phạt nghiêm những hộ gia đình không thực hiện các biệnpháp phòng chống dịch, để lây lan dịch lây lan dịch cho cộng đồng.

+       Cân đối ngân sách bổ sung cho hoạt động phòng chống dịch khẩn cấp.
 

2. Các biện pháp giảm mắc

  2.1. Tăng cường, củng cố hệ thống giám sát

-           Tăng cường hoạt động tuyên truyền giáo dục các biện pháp diệt véc tơ để nâng cao nhận thức của cộng đồng làm thay đổi hành vi tự phòng bệnh của cộng đồng.

-           Nâng cao hoạt đồng giám sát dịch tễ (giám sát bệnh nhân, huyết thanh và vi rút, giám sát vec tơ truyền bệnh, giám sát độ nhạy cảm của véc tơ với hoá chất diệt côn trùng) nhằm phát hiện sớm, ca mắc và can thiệp kịp thời bằng các biện pháp phòng chống thích hợp trước và trong khi có dịch. Đặc biệt chú ý tăng cường giám sát huyết thanh học để kịp thời phát hiện sự chuyển hướng các typ virut gây dịch. Phối hợp chặt chẽ với các cơ sở y tế đóng trên địa bàn theo dõi và tổng hợp các ca bệnh theo mẫu điều tra bệnh nhân SD/SXHD.

-           Thực hiện có hiệu quả hoạt động diệt bọ gậy tại HGĐ.
Giám sát bệnh nhân:

-           Triển khai các hoạt động chủ động giám sát bệnh nhân từ các hoạt động của cộng tác viên. Chủ động phối hợp với cơ sở y tế các cấp để phát hiện sớm các trường hợp mắc.

-           Thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm gây dịch. Có thông báo phản hồi cho các cơ sở y tế tuyến dưới để chủ động triển khai các biện pháp dập dịch.
Giám sát huyết thanh và vi rút:
-           Tăng cường công tác lấy mẫu bệnh phẩm làm phân lập vi rút và chẩn đoán Mac - Elisa gửi về Trung tâm y tế dự phòng tỉnh/thành phố và Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương.
Giám sát véc tơ:

-           Mở rộng điểm giám sát các chỉ số muỗi, bọ gậy/bọ gậy, tổ chức giám sát các chỉ số véc tơ trước và sau khi tổ chức phun hoá chất diệt muỗi chủ động.

-           Tăng cường điều tra ổ bọ gậy nguồn, thu thập muỗi, bọ gậy để định loại và đánh giá độ nhạy cảm của véc tơ đôi với hoá chất diệt côn trùng.

  2.2. Triển khai kịp thời các biện pháp đáp ứng chống dịch và phòng chống dịch chủ động

-           Dựa trên kết quả giám sát dịch tễ, tổ chức xử lý dịch triệt để trong vòng 48 giờ. Ngăn chặn không để dịch phát triển và lan rộng sang các địa bàn khác.

-           Tổ chức hàng tuần hoạt động vệ sinh môi trường, diệt bọ gậy, bọ gậy tại cơ quan, hộ gia đình. Tổ chức các chiến dịch diệt bọ gậy quy mô cấp xã trở lên có sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền và sự tham gia của các Ban, ngành, đoàn thể với nòng cốt là ngành y tế.

  2.3. Mở rộng mạng lưới, tăng cường hiệu quả hoạt động của đội ngũ cộng tác viên

-           Căn cứ điều kiện tự nhiên, xã hội của từng khu vực, mỗi cộng tác viên được phân công phụ trách từ 80 - 100 hộ gia đình.

-           Cộng tác viên được tập huấn và tập huấn lại kỹ năng phát hiện và xử lý ổ bọ gậy/bọ gậy, kỹ năng tuyên truyền và vận động cộng đồng tham gia công tác phòng chống sốt xuất huyết.
 

3. Các biện pháp giảm tử vong

-           “Định bệnh sớm, điều trị đúng” nhằm giảm chết và sốc độ III&IV tại các cơ sở y tế lâm sàng.

-           Thiết lập đường dây nóng giữa các đơn vị điều trị, thường xuyên trao đổi chuyên môn, xin ý kiến hướng dẫn điều trị.

-           Tại mỗi có sở khám bệnh, chữa bệnh, bố trí nhân lực phù hợp để tiếp nhận và điều trị bệnh nhân sốt xuất huyết. Bố trí ít nhất 01 bác sỹ có kiến thức chuy