Thời tiết











  Chương trình Phòng chống bệnh dại
          Những năm 1990-1995, theo thống kê chưa đầy đủ, Việt Nam trung bình mỗi năm có trên dưới 500 ca tử vong do bệnh dại, tỷ lệ tử vong trên 100.000 dân là 0,43 cao nhất trong 10 bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ tử vong cao. Trước tình hình nghiêm trọng đó, ngày 7 tháng 2 năm 1996 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 92/TTg về tăng cường phòng chống bệnh dại (PCBD). Sau khi có Chỉ thị 92/TTg, ngày 23/5/1996 Bộ Trưởng Bộ Y tế đã có quyết định thành lập Chương trình phòng chống bệnh dại Quốc gia và Ban Chỉ đạo chương trình có 10 người do Đ/C Thứ trưởng làm trưởng ban. Năm 1999 đổi tên là Dự án Phòng chống bệnh dại. Năm 2005 Bộ y tế giao cho Viện Trưởng Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương làm Chủ nhiệm Dự án.
 
 
 
 

I. Mục tiêu của Dự án:

            Khống chế bệnh dại vào năm 2000 và loại trừ bệnh dại vào năm 2020.

II. Các chiến lược phòng chống bệnh dại ở Việt Nam:     

         1. Tăng cường sự ủng hộ của Chính phủ và trách nhiệm của Chính quyền các cấp.

         2. Tăng cường sự phối hợp liên ngành, sự tham gia của các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ, các tổ chức cộng đồng và mỗi người dân. Thành lập các Ban chỉ đạo đa ngành ở các cấp.

         3. Tăng cường IEC nhằm nâng cao nhận thức, sự hiểu biết của cộng đồng về bệnh dại, các biện pháp phòng chống.

         4. Tăng cường công tác giám sát bệnh dại ở người và động vật.

         5. Thực hiện các chương trình kiểm soát đàn chó, mèo; tiêm phòng dại thường xuyên cho đàn chó đạt tỷ lệ trên 85% để loại trừ bệnh dại ở chó.

         6. Điều trị sau phơi nhiễm đúng và kịp thời sử dụng vắc xin dại tế bào thế hệ mới an toàn, hiệu quả và giá thành hợp lý.

         7. Tăng cường sự hợp tác quốc tế với các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ.

         8. Thực hiện mô hình: “Xã hội hoá công tác phòng chống bệnh dại”. Xây dựng xã/phường, huyện/thị, tỉnh/thành phố an toàn không có bệnh dại.

         9. Chính phủ phê duyệt chương trình “Khống chế và loại trừ bệnh dại ở Việt Nam vào năm 2020” ở cấp Quốc gia, có như vậy mới đủ mạnh để thực hiện được mục tiêu loại trừ bệnh dại ở Việt Nam.
 
 
 
 

            Ngày 23 tháng 5 năm 1996, Bộ Trưởng Bộ Y tế Đỗ Nguyên Phương ký quyết định số 902/BYT/QĐ về việc thành lập Ban chỉ đạo phòng chống bệnh dại quốc gia, gồm 10 người, PGS.TS Nguyễn Văn Thưởng thứ trưởng Bộ y tế Trưởng ban.

Ngày 17 tháng 6 năm 1999, Bộ Trưởng Bộ Y tế Đỗ Nguyên Phương ký quyết định số 1822/QĐ-BYT về việc thành lập Ban chủ nhiệm Dự án phòng chống bệnh dại trực thuộc Bộ Y tế, gồm 8 người, PGS.TS Nguyễn Văn Thưởng thứ trưởng Bộ y tế chủ nhiệm Dự án.

Ngày 24 tháng 3 năm 2005, Bộ Trưởng Bộ Y tế Trần thị Trung Chiến ký quyết định số 780/QĐ-BYT về việc thành lập Ban điều hành Dự án khống chế và loại trừ bệnh dại, gồm 13 người, TS Nguyễn Trần Hiển Viện trưởng Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung Ương Trưởng Ban.

Các thành viên khác trong Ban chủ nhiệm Dự án đều là Lãnh đạo của Cục Y tế Dự phòng, Vụ Kế hoạch Bộ Y tế và Viện Trưởng hoặc Phó Viện Trưởng của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên, Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe Bộ Y tế. Chỉ duy nhất có PGS.TS Đinh Kim Xuyến, Phó Chủ nhiệm thường trực là cán bộ chuyên trách. 

            Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương là đơn vị trực tiếp chỉ đạo, giám sát, quản lý hoạt động Dự án.
 
 
 
 

 

    1. Hàng năm Ban chủ nhiệm Dự án xây dựng chương tình, kế hoạch hoạt động phòng chống bệnh dại (PCBD) chung trong cả nước, báo cáo Lãnh đạo Bộ y tế phê duyệt kế hoạch hoạt động.

    2. Ban Chủ nhiệm Dự án và Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương chịu trách nhiệm trước Lãnh đạo Bộ y tế chỉ đạo các địa phương trong cả nước thực hiện kế hoạch hoạt động đã được Lãnh đạo Bộ y tế phê duyệt.

    3. Kinh phí hoạt động của Dự án do Bộ Y tế cấp trong ngân sách hoạt động thường xuyên của Bộ. Kinh phí hàng năm được cấp từ 150 - 650 triệu đồng. Tổng số kinh phí được cấp trong 14 năm (1996-2009 ) là trên 4 tỷ đồng.

    4. Các hoạt động cụ thể: Do kinh phí được cấp hàng năm không nhiều nên kế hoạch hoạt động của Dự án tập trung vào các nội dung chính sau:

Hoạt động thường xuyên: đôn đốc các tỉnh/thành phố thực hiện tốt dịch vụ điều trị dự phòng sau phơi nhiễm cho bệnh nhân tại các điểm tiêm, điều tra bệnh nhân tử vong, thống kê báo cáo đầy đủ và kịp thời.

Tập huấn, đào tạo mạng lưới cán bộ chuyên trách và cộng tác viên cộng đồng:Mỗi năm tổ chức từ 25-35 lớp tập huấn. Đối tượng tham gia tập huấn bao gồm cán bộ chuyên trách và phụ trách khoa Dịch tễ thực hiện công tác PCBD của các Viện Khu vực, các tỉnh/thành phố, các huyện/ thị. Phần lớn các lớp tập huấn đều có sự tham gia của cán bộ Ngành thú y, Khoa Truyền nhiễm, Truyền thông,....Mục tiêu là xây dựng được mạng lưới tham gia hoạt động PCBD từ tuyến tỉnh đến tuyến huyện và những huyện điểm có thể xây dựng đến tuyến xã.

Truyền thông giáo dục: Xây dựng các nội dung truyền thông có tính phổ cập đến cộng đồng như: thông điệp; giáo dục từ xa; phổ biến kiến thức trên truyền hình, truyền thanh; phim truyện; tờ rơi, áp phích....một số nội dung tài liệu tuyên truyền đã in thành băng, đĩa làm tài liệu truyền thông cho cán bộ tuyến cơ sở.

Chỉ đạo các tỉnh trọng điểm: đây là một nội dung trọng tâm, Dự án tập trung kinh phí, nhân lực cho các tỉnh có bệnh dại phát triển cao từ 10- 45 ca tử vong/năm/tỉnh. Số tỉnh trọng điểm dao động từ10-20 tỉnh/năm.
 
 
 
 

           Trong 14 năm (1996-2009), mặc dù Dự án PCBD chỉ được cấp hơn 4 tỷ đồng để hoạt động PCBD trên cả nước, nhưng Dự án đã cố gắng vượt qua mọi khó khăn, năng động, sáng tạo và biết vận dụng mô hình xã hội hoá nên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Lãnh đạo Bộ Y tế giao, cụ thể:

     - Đã xây dựng được hệ thống phòng chống bệnh dại từ Trung ương đến tuyến huyện có trình độ quản lý và chuyên môn tương đối vững mạnh. Các hoạt động đã vào nề nếp.

     - Đã xây dựng được mô hình Xã Hội Hóa trong công tác PCBD. Có sự phối hợp hoạt động giũa các cấp Chính quyền, Y tế, Thú Y, Truyền thông, Giáo dục, các Đoàn thể và cộng động, mô hình đã đem lại hiệu quả có tính bền vững, giảm chi phí

     - Đã thực hiện khá tốt công tác truyền thông giáo dục về bệnh dại và tác hại của bệnh dại, cách phòng ngừa vì vậy đã tạo được sự chuyển biến tích cực của các cấp Chính quyền, chuyên môn và cộng đồng có trách nhiệm hơn trong công tác PCBD.

     - Đã giảm trên 85% số ca tử vong do bệnh dại ở những năm 2000-2009 so với năm 1990-1995 ( năm 1995 có 446 ca tử vong, năm 2009 có 65 ca ca tử vong).

 
 
 
 
 
 
Hội Y học Dự phòng Việt Nam

Tạp chí Y học Dự phòng

Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP
Quảng cáo