Thời tiết
|
Chương trình Giám sát, theo dõi và đánh giá nhiễm HIV/AIDS
HOẠT ĐỘNG 2001-2005 CỦA TIỂU BAN GIÁM SÁT HIV,
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
1. Trong năm 2000-2001, tiểu ban đã hợp tác với tổ chức Sức khoẻ Gia đình Quốc tế (FHI) triển khai giám sát hành vi vòng 1 và vòng 2 trên 6 nhóm là gái mại dâm đường phố, gái mại dâm nhà hàng, nghiện chích ma tuý, lái xe đường dài và quần thể di biến động (Công nhân xây dựng ngoại tỉnh, thuỷ thủ, ngư phủ, công nhân bốc vác gạo, …) tại 5 tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP HCM và Cần Thơ.
2. Trong năm 2001-2002 đã tiến hành nghiên cứu hành vi nguy cơ gây nhiễm HIV trên nhóm gái mại dâm đường phố tại TP HCM. Nghiên cứu đã phát hiện hành vi tiêm chích ma tuý là nguy cơ gây nhiễm HIV chủ yếu trên nhóm này.
3. Tiểu ban đã cùng với Bộ Y tế, tổ chức Sức khỏe Gia đình quốc tế (FHI), Trung tâm Đông Tây, UNAIDS, WHO, … tiến hành ước tính và dự báo số nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam đến năm 2008 (năm 2003). Số liệu đưa ra nhằm góp phần xây dựng chiến lược quốc gia phòng chống AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020. Việc ước tính và dự báo này dự tính sẽ 2 năm lại tiến hành một lần dựa vào những số liệu thu thập được để dự báo tốt hơn cho những năm sau.
4. Tiểu ban đã phối hợp với tổ chức Tầm nhìn Thế giới (World Vision) tiến hành thử nghiệm phương pháp điều tra mới RDS (Respondent Driven Sampling) dành cho nhóm đối tượng bị che khuất (Gái mại dâm, nghiện chích ma tuý, …) nhằm tìm hiểu khả năng ứng dụng phương pháp này trong giám sát trọng điểm và giám sát hành vi (tiến hành năm 2004). Dùng phương pháp mới này đã tiến hành điều tra phỏng vấn 297 gái mại dâm tại Hà Nội và 300 gái mại dâm tại TP Đà Nẵng. Kết quả của cuộc điều tra này sẽ góp phần vào việc quyết định có nên sử dụng phương pháp này trong giám sát hành vi sắp tới hay không.
5. Tiểu ban giám sát HIV trong năm 2004 đã triển khai nghiên cứu Thế hệ hai tại tỉnh Khánh Hoà để thử nghiệm mô hình giám sát thế hệ hai thông qua lồng ghép ba loại giám sát HIV, STI và Hành vi. Đã tiến hành điều tra trên 272 gái mại dâm đường phố, 511 gái mại dâm nhà hàng, 186 người nghiện chích ma tuý và 375 công nhân nhà máy tại tỉnh Khánh Hoà. Kết quả cho thấy một tỉnh mặc dù với sự giúp đỡ của viện Pasteur Nha Trang cũng không dễ gì thực hiện cuộc điều tra ba trong một: lồng ghép 3 loại giám sát HIV, STI và hành vi.
6. Đã triển khai nghiên cứu hành vi nguy cơ gây nhiễm HIV trên nhóm quan hệ tình dục đồng giới nam tại TP Hồ Chí Minh để đưa ra khuyến nghị có nên đưa nhóm quan hệ tình dục đồng giới nam vào giám sát trọng điểm hay không. Đã tiến hành điều tra phỏng vấn và làm xét nghiệm HIV trên 600 người có QHTD đồng giới nam vào tháng 5 năm 2004 tại TP HCM. Kết quả cho thấy đây là một quần thể có số lượng lớn và có nhiều hành vi nguy cơ gây nhiễm HIV. Tỷ lệ nhiễm HIV trên quần thể này là 8%.
7. Tiểu ban giám sát HIV đã chủ trì điều tra cơ bản dự án Quỹ Toàn cầu tại 20 tỉnh của dự án nhằm đưa ra được hiện trạng hệ thống chăm sóc người nhiễm HIV và phòng chống lây truyền HIV từ mẹ sang con trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị để có được một hệ thống chăm sóc người nhiễm HIV có hiệu quả.
Đã tiến hành điều tra 2223 người trong hệ thống bệnh viện tỉnh, 1244 người trong hệ thống Trung tâm Y tế huyện, 2659 phụ nữ mang thai, 4290 người nhiễm HIV và 418 bệnh nhân được điều trị về HIV/AIDS tại hệ thống y tế nhà nước. Hiện tại đang viết báo cáo để có thể tổ chức hội thảo công bố kết quả.
Đây là cuộc điều tra đầu tiên với quy mô lớn (trên 20 tỉnh) về hệ thống chăm sóc y tế có liên quan đến HIV. Kết quả của cuộc điều tra sẽ góp phần to lớn vào sự thành công của dự án trong tương lai.
8. Tiểu ban đã triển khai nghiên cứu đánh giá hiệu quả can thiệp của dự án Cộng đồng Hành động Phòng chống AIDS tại 5 tỉnh Điện Biên, Quảng Trị, An Giang, Kiên Giang và Đồng Tháp.
Đây là một nghiên cứu đánh giá hiệu quả một dự án đầu tiên ở Việt Nam về phòng chống HIV/AIDS. Nghiên cứu này nhằm đưa ra được những kết luận có giá trị trong xây dựng mô hình phòng chống AIDS trong tương lai về mô hình, phương pháp quản lý, biện pháp triển khai, giá thành và hiệu quả của mô hình.
Cuộc điều tra đã phỏng vấn về hành vi và tiến hành lấy máu làm xét nghiệm khoảng 11.000 người thuộc các nhóm gái mại dâm, nghiện chích ma túy, nhóm thanh niên 15-24 tuổi chưa lập gia đình và quần thể di biến động. Trong số đó đã tiến hành lấy mẫu nước tiểu cho 1000 gái mại dâm. Tiến hành làm các xét nghiệm về HIV, Giang mai, Chlamydia, Héc péc, và lậu.
Cuộc điều tra cũng đã tiến hành phỏng vấn khoảng 600 y bác sĩ làm việc liên quan đến phòng chống HIV và các bác sĩ thăm khám điều trị STI, 500 người nhiễm HIV cùng với 500 người nhà người nhiễm HIV và 500 phụ nữ mang thai.
Một nhóm rất dặc biệt cũng được quan tâm tiến hành điều tra phỏng vấn trong cuộc điều tra này là nhóm các cán bộ lãnh đạo cộng đồng hỏi về quan điểm của họ trong phòng chống AIDS. Dự kiến điều tra 600 cán bộ lãnh đạo cộng đồng.
9. Tiểu ban giám sát HIV được Bộ Y tế giao trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể Chương trình hành động số 4 của chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS từ 2005 đến 2010 và tầm nhìn 2020: Giám sát HIV, Theo dõi và Đánh giá chương trình. Tiểu ban đã đưa ra được bản thảo lần 1 để lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức trong và ngoài nước có liên quan.
10. Tiểu ban đã hợp tác với Tổ chức Sức khỏe Gia đình quốc tế tiến hành phân tích tổng hợp tình hình nhiễm HIV tại 2 tỉnh Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị về biện pháp phòng chống cũng như các quyết định về chính sách sao cho có hiệu quả.
11. Tiểu ban đã tham gia bàn bạc thảo luận về chương trình theo dõi và đánh giá dự án Ngân hàng Thế giới. Dựa trên cơ sở đó xây dựng chương trình và hệ thống Giám sát, theo dõi và đánh giá cho cả nước.
12. Tiểu ban đã tiến hành điều tra hộ gia đình đánh giá tình tình lây nhiễm HIV trên quần thể dân cư bình thường tại Thái Bình và TP HCM. Đã tiến hành điều tra 1500 và 3000 người tuổi 15-49 tương ứng TP HCM và Thái Bình. Đây là một điều tra rất quan trọng mà số liệu sẽ được sử dụng trong ước tính và dự báo nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam trong thời gian tới Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trên nhóm 15-49 tuổi tại Thái Bình là 0,3% và tỷ lệ nhiễm HIV trên cùng nhóm tại TP Hồ Chí Minh là 0,7%.
13. Tiểu ban đã tham gia đào tạo tập huấn cho các cán bộ chương trình của 21 tỉnh tham gia dự án DIFID về phương pháp lập bản đồ xã hội và địa dư. Các cán bộ được đào tạo sẽ về đào tạo và hướng dẫn các cán bộ tại địa phương mình lập bản đồ xã hội và đại dư nhóm gái mại dâm và nghiện chích ma túy nhãm phục vụ cho việc tiến hành can thiệp của dự án.
14. Tiểu ban Giám sát HIV phối hợp với Tổ chức Sức khoẻ Gia đình Quốc tế và CDC triển khai nghiên cứu lồng ghép hành vi và các chỉ số sinh học tại 07 tỉnh thành phố Hà Nội, Hải phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, An Giang, Cần Thơ. Nghiên cứu này ngoài điều tra các hành vi nguy cơ gây nhiễm HIV sẽ còn lấy mẫu máu, nước tiểu và bệnh phẩm hậu môn để làm các xét nghiệm HIV, giang mai, lậu, chlamydia bằng các kỹ thuật huyết thanh học và sinh học phân tử.
15. Tiểu ban hợp tác với CDC tiến hành triển khai nghiên cứu tỷ lệ mới nhiễm HIV ở 6 nhóm quần thể giám sát trọng điểm là gái mại dâm, nghiện chích ma tuý, bệnh nhân lao, nam bệnh nhân mắc các bệnh lây qua đường tình dục, phụ nữ khám thai và thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Sử dụng kỹ thuật mới (BED) để phát hiện một trường hợp mới nhiễm HIV gần đây hay không.
16. Đã phối hợp với CDC chuẩn bị triển khai nghiên cứu giám sát tính kháng thuốc ARV của HIV ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu này là rất quan trọng khi Việt Nam sẽ triển khai sử dụng thuốc điều trị đặc hiệu điều trị cho các bệnh nhân AIDS tại Việt Nam trong thời gian tới.
17. Củng cố và nâng cao chất lượng giám sát HIV: xem xét lại hệ thống giám sát, thực hiện thường quy giám sát, phát triển thường quy giám sát HIV/AIDS cho phù hợp với điều kiện mới và xây dựng tài liệu hướng dẫn quốc gia về giám sát hành vi.
Theo Cục Phòng chống HIV/AIDS, Bộ Y tế, tính đến ngày 30/6/2011, cả nước có 190.902 người nhiễm HIV còn sống, trong đó có 46.056 bệnh nhân đang ở giai đoạn AIDS và kể từ đầu vụ dịch đến nay đã có 50.108 người tử vong do HIV/AIDS. Riêng 6 tháng đầu năm 2011, đã báo cáo phát hiện thêm được 6.146 trường hợp nhiễm HIV, trong đó có 2.477 bệnh nhân AIDS và 844 người tử vong do HIV/AIDS. Các trường hợp nhiễm HIV mới được phát hiện vẫn tập trung chủ yếu ở một số tỉnh trọng điểm về HIV/AIDS như TP. Hồ Chí Minh, Điện Biên, Hà Nội, Sơn La, Thái Nguyên chiếm tới 38% số trường hợp nhiễm HIV được báo cáo trong 6 tháng đầu năm 2011 trên cả nước. So với cùng kỳ năm 2010, số trường hợp nhiễm HIV giảm 1.249 trường hợp, số bệnh nhân AIDS giảm 907 trường hợp, số người tử vong do AIDS giảm 241 trường hợp. Có 35 tỉnh, thành phố báo cáo số nhiễm HIV giảm, 01 tỉnh không thay đổi là Quảng Trị và có 27 tỉnh có số nhiễm HIV tăng hơn so với cùng kỳ năm ngoái.
Để đạt được kết quả trên, trong 6 tháng đầu năm 2011 mỗi bộ phận, mỗi hoạt động của công tác phòng, chống HIV/AIDS đã nỗ lực không ngừng.
Về công tác quản lý, chỉ đạo, trong 6 tháng qua, chương trình phòng, chống HIV/AIDS tiếp tục nhận được sự quan tâm, chỉ đạo trực tiếp của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tại các hội nghị, hội thảo về phòng, chống HIV/AIDS, các chuyến kiểm tra công tác phòng, chống AIDS tại cơ sở. Để tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác phòng, chống HIV/AIDS, Ban Khoa giáo Trung ương Đảng đã tiến hành đánh giá 5 năm thực hiện Chỉ thị số 54/CT-TW ngày 30/11/2005 của Ban Bí thư về “Tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới”, Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 27-TB/TW ngày 09/5/2011. Kết luận 27 nhấn mạnh những thành tích đã đạt được, đồng thời chỉ rõ những hạn chế, yếu kém trong chỉ đạo, lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS thời gian qua và yêu cầu các cấp ủy Đảng tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong giai đoạn tới đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ là “Ngăn chặn và bắt đầu đẩy lùi sự lây lan của HIV/AIDS vào năm 2015”. Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội đã tổ chức hội nghị tìm các giải pháp phát triển bền vững ngân sách phòng, chống HIV/AIDS trong giai đoạn tới.
Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi đã được triển khai trên toàn quốc. Trong thời gian qua, với sự tham gia của các bộ, ban ngành, đoàn thể, bằng nhiều hình thức đa dạng phong phú, nhiều mô hình phòng, chống HIV/AIDS đã được triển khai tại cộng đồng dân cư, thu hút sự quan tâm và tham gia của các cấp lãnh đạo, người dân. Nhờ đó đã có tác động không nhỏ đến sự thay đổi kiến thức và hành vi về phòng, chống HIV/AIDS đặc biệt trong các nhóm nguy cơ cao và trong cộng đồng dân cư. Trong 6 tháng đầu năm, theo báo cáo của 63 tỉnh, thành phố đã thực hiện truyền thông trực tiếp về thay đổi hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cho 6.941.606 lượt người, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó số lượt tiếp cận truyền thông trực tiếp trong nhóm người nghiện chích ma túy tăng lên tăng 399.471 lượt người so với cùng kỳ năm ngoái.
Công tác can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV đã được đẩy mạnh. Có thể nói việc triển khai đồng bộ các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong thời gian qua đã góp phần hết sức quan trọng làm kiềm chế lây nhiễm HIV ở Việt Nam. Độ bao phủ của Chương trình giảm tác hại đã tăng lên rõ rệt, có 60 tỉnh, thành phố triển khai chương trình bơm kim tiêm và 63 tỉnh, thành phố triển khai chương trình bao cao su. Trong 6 tháng qua, Chương trình phân phát bơm kim tiêm tiếp tục duy trì 3.054 tuyên truyền viên đồng đẳng và 9.079 cộng tác viên cho nhóm nghiện chích ma túy với 134.614 người nghiện chích ma túy được tiếp cận. Chương trình đã phát miễn phí được trên 12 triệu chiếc bơm kim tiêm tăng 6% so với cùng kỳ năm 2010. Bên cạnh đó, số bơm kim tiêm đã qua sử dụng được thu gom và tiêu hủy là hơn 7 triệu chiếc, chiếm 59% số bơm kim tiêm được phát ra. Chương trình khuyến khích sử dụng bao cao su với 11.181.935 được phát miễn phí cho các đối tượng nguy cơ cao.
Về Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone, tính đến hết tháng 6 năm 2011, đã có 9 tỉnh, thành phố triển khai chương trình với tổng số 25 cơ sở điều trị Methadone đang hoạt động và đang điều trị cho 3.813 bệnh nhân. Hầu hết các bệnh nhân tham gia đều tuân thủ điều trị tốt và không còn sử dụng heroin khi đạt đến liều điều trị duy trì.
Về chăm sóc và điều trị, với mô hình điều trị, chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS toàn diện tại các cơ sở y tế tuyến quận/huyện là chủ đạo và cho đến nay đã và đang triển khai 318 phòng khám ngoại trú cho bệnh nhân HIV/AIDS người lớn và trẻ em. Riêng 5 tháng đầu năm 2011 đã tiến hành điều trị mới cho 4.562 bệnh nhân, trung bình tăng 900 bệnh nhân/tháng, số trẻ em được điều trị ARV tăng đáng kể và tính đến thời điểm hiện nay cả nước đang điều trị ARV cho hơn 53 nghìn bệnh nhân AIDS, trong đó trẻ em là 2.930.
Về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, tính trong 6 tháng đầu năm 2011, số trẻ được điều trị dự phòng lây truyền HIV là 834 trẻ (tăng 22% so với cùng kỳ năm ngoái).
Công tác an toàn truyền máu dự phòng lây nhiễm HIV đã được thực hiện tốt, 100% các chai máu được sàng lọc trước khi truyền, chưa để xảy ra trường hợp nào nhiễm HIV qua truyền máu.
Chương trình giám sát, theo dõi và đánh giá luôn được quan tâm cải tiến và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong quản lý như phần mềm quản lý nhiễm HIV/AIDS; tư vấn xét nghiệm tự nguyện; hệ thống báo cáo trực tuyến đã góp phần quan trọng quản lý kịp thời và chính xác số liệu hoạt động chương trình. Hoạt động tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện ngày càng được mở rộng với 317 phòng tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện đang hoạt động các tỉnh/thành phố. Quý I/2011 cả nước đã tư vấn cho 144.063 lượt người, 139.583 lượt người được xét nghiệm HIV, tăng 59,7% so sánh cùng kỳ năm 2010.
Ngoài ra, các lĩnh vực khác như quản lý và điều trị các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục; tăng cường năng lực, nghiên cứu khoa học cũng không ngừng được đẩy mạnh.
Bình An
Nguồn Trung tâm truyền thông GDSK Trung ương
Khoa HIV/AIDS có chức năng chỉ đạo, quản lý, đào tạo, nghiên cứu và thực hiện các hoạt động chuyên môn về xét nghiệm, giám sát, theo dõi và đánh giá hoạt động các chương trình phòng, chống HIV/AIDS.
Nâng cao chất lượng giám sát và xét nghiệm HIV/AIDS tại Việt Nam giúp cho việc lập kế hoạch dự phòng và kiểm soát dịch HIV/AIDS.
- Lãnh đạo: Trưởng khoa và 01 Phó trưởng khoa.
- Tổ chức của Khoa:
o Phòng thí nghiệm huyết thanh học
o Phòng thí nghiệm Sinh học phân tử HIV
o Phòng giám sát HIV/AIDS
o Phòng theo dõi và đánh giá hoạt động các chương trình HIV/AIDS
Lĩnh vực giám sát, theo dõi và đánh giá:
- Xây dựng hệ thống giám sát quốc gia về HIV/AIDS, các chiến lược giám sát và hướng dẫn thực hiện.
- Phổ biến rộng rãi số liệu giám sát HIV/AIDS phục vụ cho việc lập kế hoạch và ra quyết định.
- Phối hợp với các tổ chức quốc tế, nhà tài trợ, các đơn vị liên quan tiến hành các hoạt động giám sát thường xuyên và thử nghiệm tiếp cận mới.
- Nâng cao năng lực giám sát HIV/AIDS cho các cán bộ Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh/thành phố.
Lĩnh vực xét nghiệm:
- Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật xét nghiệm cho hệ thống xét nghiệm huyết thanh học HIV tại Việt Nam.
- Xây dựng chương trình đảm bảo chất lượng cho hệ thống xét nghiệm HIV tại Việt nam.
- Là phòng xét nghiệm ”tham chiếu” trong các trường hợp các mẫu khó chuẩn đoán.
- Thực hiện các xét nghiệm đếm tế bào TCD4 hỗ trợ cho điều trị bệnh nhân AIDS
- Đánh giá sinh phẩm xét nghiệm HIV tại Việt Nam.
- Hỗ trợ kỹ thuật và tổ chức tập huấn về xét nghiệm HIV cho các cán bộ xét nghiệm tại các phòng xét nghiệm HIV trên cả nước.
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Xác định các vấn đề nghiên cứu liên quan đến HIV/AIDS/STI nhằm nâng cao các hoạt động can thiệp, dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS.
- Xây dựng và thực hiện các nghiên cứu liên quan đến HIV/AIDS/STI phù hợp với các nguyên tắc về đạo đức nghiên cứu
- Phổ biến và khuyết khích sử dụng kết quả nghiên cứu cho việc lập kế hoạch và ra quyết định.
- Thực hiện các nghiên cứu mục tiêu, ứng dụng các xét nghiệm mới và xét nghiệm chuyên sâu.
- Nâng cao năng lực nghiên cứu cho các cán bộ Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh/thành phố.
Hoạt động giám sát, theo dõi và đánh giá:
- Tham gia xây dựng các quy định, hướng dẫn Quốc gia về giám sát và HIV/AIDS như Quyết định 1418 và thông tư hướng dẫn giám sát dịch tễ học HIV/STIs (quyết định 1418 sửa đổi).
- Chịu trách nhiệm hệ thống giám sát trọng điểm HIV/STI toàn quốc bao gồm việc lập kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện, tổng hợp phân tích số liệu, báo cáo và phổ biến kết quả.
- Thực hiện việc thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu giám sát HIV/AIDS từ 28 Trung tâm phòng chống HIV/AIDS thuộc khu vực Miền Bắc.
- Phối hợp với Tổ chức Sức khoẻ Gia đình Quốc tế và CDC triển khai giám sát lồng ghép hành vi và các chỉ số sinh học tại một số tỉnh/thành phố. Điều tra giám sát này ngoài điều tra các hành vi nguy cơ gây nhiễm HIV sẽ còn lấy mẫu máu, nước tiểu và bệnh phẩm hậu môn để làm các xét nghiệm HIV, giang mai, lậu, chlamydia bằng các kỹ thuật huyết thanh học và sinh học phân tử.
- Phối hợp với Cục phòng chống HIV/AIDS và các Viện Khu vực triển khai Dự án lồng ghép giám sát hành vi vào giám sát trọng điểm HIV/AIDS tại 12 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Dương, Điện Biên, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Bình Dương, An Giang và Cà Mau.
- Tiến hành điều tra hộ gia đình đánh giá tình tình lây nhiễm HIV trên quần thể dân cư bình thường tại Thái Bình và TP HCM.
- Triển khai nghiên cứu ước tính quần thể các nhóm nguy cơ cao bao gồm người nghiện chích ma túy, phụ nữ bán dâm và nam quan hệ tình dục đồng giới 3 tỉnh Điện Biên, Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Cùng với Bộ Y tế, tổ chức Sức khỏe Gia đình quốc tế (FHI), Trung tâm Đông Tây, UNAIDS, WHO, …tiến hành ước tính và dự báo số nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam. Việc ước tính và dự báo này dự tính sẽ 2 năm lại tiến hành một lần dựa vào những số liệu thu thập được để dự báo tốt hơn cho những năm sau.
- Triển khai nghiên cứu đánh giá hiệu quả can thiệp của dự án Cộng đồng Hành động Phòng chống AIDS tại 5 tỉnh Điện Biên, Quảng Trị, An Giang, Kiên Giang và Đồng Tháp. Đây là một nghiên cứu đánh giá hiệu quả một dự án đầu tiên ở Việt Nam về phòng chống HIV/AIDS. Nghiên cứu này nhằm đưa ra được những kết luận có giá trị trong xây dựng mô hình phòng chống AIDS trong tương lai về mô hình, phương pháp quản lý, biện pháp triển khai, giá thành và hiệu quả của mô hình.
- Tiến hành triển khai nghiên cứu tỷ lệ mới nhiễm HIV ở 6 nhóm quần thể giám sát trọng điểm là gái mại dâm, nghiện chích ma tuý, bệnh nhân lao, nam bệnh nhân mắc các bệnh lây qua đường tình dục, phụ nữ khám thai và thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Sử dụng kỹ thuật mới (BED) để xác định các trường hợp mới nhiễm HIV gần đây hay không.
- Triển khai nghiên cứu mô hình can thiệp dựa vào cộng đồng nhẵm giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV cho những người nghiện chích ma túy tại tỉnh Phú Thọ.
- Phối hợp với Dự án phòng chống HIV ở Việt Nam do Ngân hàng Thế giới và Quỹ toàn cầu phòng, chống HIV/AIDS tài trợ, thực hiện giám sát hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại các tỉnh dự án.
- Tổ chức các lớp tập huấn Dịch tễ học và giám sát HIV cho các cán bộ đang làm công tác giám sát, theo dõi và đánh giá HIV ở tất cả 63 tỉnh, thành phố.
Hoạt động xét nghiệm HIV:
- Tham gia xây dựng các hướng dẫn Quốc gia về xét nghiệm HIV.
- Giám sát kháng thuốc điều trị HIV.
- Nghiên cứu tỷ lệ sai của phương pháp xét nghiệm phát hiện tỷ lệ mới nhiễm HIV bằng sử dụng sinh phẩm BED.
- Định subtype của các mẫu huyết tương nhiễm HIV xem mối liên quan đến kết quả BED.
- Thực hiện chương trình kiểm tra chất lượng phòng xét nghiệm từ bên ngoài về huyết thanh học HIV (EQA) cho 148 phòng xét nghiệm thuộc các trung tâm phòng chống HIV/AIDS, trung tâm y tế dự phòng, các Viện khu vực và các bệnh viện trên cả nước.
- Đánh giá chất lượng các sinh phẩm đã được Bộ Y tế cấp phép.
- Mở lớp tập huấn về kỹ thuật xét nghiệm HIV cho các đơn vị có nhu cầu.
- Xét nghiệm chẩn đoán trẻ lây nhiễm HIV từ mẹ sang con bằng kỹ thuật PCR cho 301 trẻ, trong đó 32 trường hợp dương tính.
- Đã phối hợp với CDC chuẩn bị triển khai nghiên cứu giám sát tính kháng thuốc ARV của HIV ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu này là rất quan trọng khi Việt Nam sẽ triển khai sử dụng thuốc điều trị đặc hiệu điều trị cho các bệnh nhân AIDS tại Việt Nam trong thời gian tới.
- Triển khai sản xuất các mẫu nội kiểm chứng cho các kỹ thuật xét nghiệm HIV. Dự kiến sẽ áp dụng cho 10 phòng xét nghiệm từ tháng 9/2011 và mở rộng ra các phòng xét nghiệm đã được phép khẳng định các trường hợp HIV dương tính vào năm 2012.
- Đang trong quá trình xây dựng phòng xét nghiệm HIV đạt tiêu chuẩn ISO15189.
- Xét nghiệm HIV dương tính cho các tỉnh chưa được phép tự xét nghiệm khẳng định.
- Tiến hành kiểm tra, thẩm định các phòng xét nghiệm đạt tiêu chuẩn tự khẳng định các trường hợp HIV dương tính của các Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh/thành phố.
- Kiểm tra định kỳ hoạt động và chất lượng các phòng xét nghiệm HIV đã được phép khẳng định các trường hợp HIV dương tính và kiểm tra hỗ trợ kỹ thuật cho các phòng xét nghiệm chưa đủ tiêu chuẩn tự khẳng định các trường hợp HIV dương tính.
- Hướng dẫn các phòng xét nghiệm khẳng định HIV/AIDS thực hiện các quy trình và kỹ thuật xét nghiệm HIV/AIDS theo đúng quy định của phòng xét nghiệm được phép khẳng định HIV dương tính.
|
Hội Y học Dự phòng Việt Nam
Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP
|